NHỮNG VẤN ĐỀ INTERNET ĐẶT RA ĐỐI VỚI BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ
2.2.1. Phương thức hoạt động của Internet
Công nghệ in ấn ra đời lần đầu tiên tại nước Anh làm cho khả năng sao chép trở nên dễ dàng đã đặt nền tảng cho việc phân phối tác phẩm với khối lượng lớn. Công nghệ in đã cách mạng hóa việc lưu trữ, truy xuất và sử dụng thông tin. Đồng thời với những ưu việt này thì vi phạm quyền tác giả cũng phát triển mạnh mẽ. Khi Internet phát triển, quyền tác giả một lần nữa lại phải đối mặt với thách thức của công nghệ mới một lần nữa.
Internet đã tạo ra những tác động to lớn và đa chiều đối với pháp luật về bảo hộ quyền tác giả liên quan đến việc vừa phải đảm bảo quyền độc quyền dành cho tác giả, vừa phải đảm bảo lợi ích công cộng. Internet phát triển làm cho khả năng sao chép trở nên dễ dàng đã đặt nền tảng cho việc phân phối tác phẩm với số lượng lớn. Số hóa tác phẩm làm cho việc lưu trữ, truy xuất và sử dụng tác phẩm dễ dàng hơn. Hầu như mọi hoạt động diễn ra trên Internet đều yêu cầu sao chép tác phẩm số từ máy tính này sang máy tính khác.
Là một hệ thống thông tin toàn cầu, Internet có mặt ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội với rất nhiều tiện ích. Trong môi trường Internet, phương thức chuyển gói dữ liệu giúp cho việc truyền tải thông tin dễ dàng, nhanh chóng mọi lúc, mọi nơi. Chỉ với một thiết bị điện tử thông minh (máy tính, điện thoại, máy tính bảng) có kết nối Internet, bằng các công cụ kết nối trực tuyến (gmail, facebook, instagram…) hay trình duyệt tìm kiếm trực tuyến (google, cốc cốc...) người dùng có thể tìm kiếm, tiếp cận đến tác phẩm một cách dễ dàng và nhanh chóng.
Hiệp ước WCT đã minh họa cho một xu hướng của pháp luật quốc tế đối với những ảnh hưởng của Internet với việc mở rộng phạm vi của Khoản 2, Điều 9, Công ước Berne để áp dụng cho tất cả các quyền độc quyền dành cho tác giả mà không chỉ riêng quyền sao chép. Việc mở rộng phạm vi quyền độc quyền cho phép chủ sở hữu quyền tác giả bảo vệ tác phẩm của mình hiệu quả hơn để chống lại các hành vi xâm phạm quyền tác giả tràn lan trong môi trường Internet. Sự phát triển công nghệ đã nhân rộng và đa dạng hóa các hình thức sao chép và khai thác tác phẩm số. Vì vậy, pháp luật về bảo hộ quyền tác giả cần phải điều chỉnh, bổ sung quy định về quyền tác giả để đáp ứng đầy đủ các hình thức khai thác tác phẩm mới nhằm phát huy những ưu thế của công nghệ mà không cản trở quyền của người dùng Internet trong những trường hợp ngoại lệ quyền tác giả55.
Với bất kì sự tiến bộ kỹ thuật nào thì pháp luật về bảo hộ quyền tác giả vẫn giữ mục tiêu truyền thống là đảm bảo cân bằng giữa lợi ích của người sáng tạo và lợi ích công cộng. Tuy nhiên, Internet đã làm thay đổi căn bản mô hình sản xuất, phân phối, tiêu thụ tác phẩm số. Có nghĩa là, bảo hộ quyền tác giả trong môi trường Internet sẽ phải đối diện với nhiều vấn đề phức tạp ở khía cạnh quyền tác giả cũng như ở khía cạnh ngoại lệ quyền tác giả.
Quyền tác giả dành cho người sáng tạo tác phẩm quyền độc quyền ngăn chặn hay cho phép người khác khai thác tác phẩm do mình sáng tạo ra, bao gồm: quyền phổ biến, trình diễn, sao chép, cải biên, chuyển thể, ghi âm, ghi hình, phát thanh, truyền hình, cho thuê tác phẩm. Các hành vi khai thác tác phẩm quan trọng nhất bao gồm: (i) sao chép, phân phối tác phẩm; (ii) công bố, phổ biến, phát thanh, truyền hình (gọi chung là quyền truyền thông đến công chúng); (iii) làm tác phẩm phái sinh. Mọi hành vi khai thác tác phẩm (sao chép, phát thanh, truyền hình...) mà không xin phép chủ sở hữu quyền tác giả là xâm phạm quyền tác giả trừ những trường hợp pháp luật quy định khác (ngoại lệ quyền tác giả).
Trong môi trường Internet, tác phẩm số có khả năng sao chép vô tận, chất lượng bản sao như bản gốc cũng như việc sửa chữa, cắt xén nội dung tác phẩm hết sức dễ dàng. Vì vậy, Internet đã đặt ra hai vấn đề sau đối với bảo hộ quyền tác giả nhằm đảm bảo quyền con người liên quan đến quyền sao chép trong môi trường Internet và quyền tự bảo vệ tác phẩm bằng biện pháp công nghệ. Một là, quyền sao chép trong môi trường Internet.
Trong môi trường truyền thống thì cần phải có bản sao hữu hình của tác phẩm trước khi thưởng thức và các bản sao hữu hình này là sản phẩm của công nghệ in ấn. Chủ sở hữu quyền tác giả có thể thu được lợi ích vật chất thông qua việc phân phối bản sao hữu hình tác phẩm. Với sự phát triển của Internet, mọi người có thể tái sản xuất tác phẩm trên một ổ cứng máy tính, một đĩa cứng di động hoặc một không gian đĩa cứng từ xa như một bản sao vô hình mà không cần bản sao hữu hình. Trong khi bản sao tác phẩm là khái niệm cốt lõi của quyền sao chép nên phải sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật về quyền và ngoại lệ quyền sao chép nhằm đáp ứng yêu cầu của Internet.
Hai là, quyền tự bảo vệ tác phẩm bằng biện pháp công nghệ.
Sự phát triển của Internet giúp cho chủ sở hữu quyền tác giả bảo vệ tác phẩm một cách hiệu quả hơn bằng việc thiết lập mã hóa nội dung số. Người dùng Internet chỉ có thể khai thác tác phẩm số khi đáp ứng tất cả các điều kiện của chủ sở hữu quyền tác giả. Vì vậy, phải làm rõ phạm vi quyền tự bảo vệ tác phẩm bằng biện pháp công nghệ của chủ sở hữu quyền tác giả cùng những trường hợp ngoại lệ nhằm đảm bảo quyền của người sáng tạo, quyền của người dùng Internet.
2.2.2. Những vấn đề Internet đặt ra đối với quyền sao chép
Quyền sao chép là một trong những quyền tài sản quan trọng nhất của chủ sở hữu quyền tác giả và cũng là quyền thường bị xâm phạm nhất trong môi trường truyền thống (tác phẩm in, bản ghi âm, ghi hình). Trong môi trường Internet, việc sao chép và lưu trữ tác phẩm được tiến hành một cách dễ dàng, nhanh chóng với số lượng lớn các bản sao nhưng chi phí rất thấp và chất lượng tuyệt vời56. Thông thường để khai thác tác phẩm trong môi trường Internet phải thông qua hai bước: đầu tiên, tác phẩm phải được lưu trữ trong một máy chủ có thể truy cập Internet. Có hai cách để lưu trữ một tác phẩm số hóa trên máy chủ Internet: lưu trữ trực tiếp tác phẩm trên máy chủ hoặc truyền tải và lưu trữ tác phẩm trên máy tính chủ bằng máy tính khác. Quá trình truyền tải và lưu trữ được gọi là tải lên trong thuật ngữ công nghệ thông tin. Cho dù là lưu trữ trực tiếp hoặc lưu trữ bằng cách tải lên thì đều liên quan đến hành vi tạo bản sao tác phẩm. Bước thứ hai của quy trình là truy cập tác phẩm số trong môi trường Internet của người dùng gồm: tải xuống và hiển thị tác phẩm. Khi người dùng Internet muốn truy cập vào tác phẩm, một yêu cầu được gửi đến máy chủ. Khi máy chủ nhận được yêu cầu thì máy chủ sẽ lấy lại tác phẩm và tự động truyền lại cho người dùng. Do đó, Internet đã tạo ra những vấn đề mới trong việc xác định phạm vi quyền sao chép liên quan đến bản sao tác phẩm số.
Với công nghệ hiện tại, thông tin được truyền qua Internet bằng cách sử dụng một kỹ thuật được biết đến rộng rãi, gọi là kỹ thuật “chuyển mạch gói” (Packet Switching). Dữ liệu khi truyền qua mạng Internet được chia thành các đơn vị nhỏ hơn được gọi là các “gói”, mỗi gói được gắn nhãn theo trật tự thích hợp. Các gói tin sau đó được gửi qua mạng Internet dưới dạng các đơn vị rời rạc, không theo trật tự trước sau, qua nhiều đường dẫn khác nhau, thường ở các thời điểm khác nhau. Cuối cùng, khi kết thúc quá trình truyền, các gói tin sau đó được láp ráp lại với nhau ở đầu nhận theo thứ tự thích hợp để tái tạo lại dữ liệu gửi đến như dữ liệu ban đầu. Vì vậy, chỉ có một phần chứ không phải là toàn bộ dữ liệu được truyền qua RAM của máy tính trung gian và một bản sao hoàn chỉnh của dữ liệu chỉ được tạo ra tại máy tính đích cuối cùng.
Điều này tạo ra vấn đề cần giải quyết về khái niệm “bản sao” trong RAM máy tính ở đặc tính tạm thời của nó. Để minh họa số lượng các “bản sao” tạm thời, toàn bộ hoặc một phần, có thể được thực hiện khi truyền tải một tác phẩm qua Internet, người ta lấy ví dụ về việc tải một bức ảnh từ trang web. Trong quá trình truyền này, có thể tạo ra ít nhất bảy bản sao tạm thời của hình ảnh tại các nguồn trung gian như sau: modem ở máy thu, router, RAM máy tính nhận, trình duyệt web, chip giải mã video và bảng hiển thị video. Các máy tính tăng cường hiệu suất bộ nhớ bằng cách trao đổi dữ liệu nhất định được nạp trong RAM vào đĩa cứng, giải phóng bộ nhớ RAM cho các dữ liệu khác và lấy dữ liệu đã hoán đổi từ đĩa cứng khi cần lại. Để bản sao tác phẩm được hiển thị, thực hiện hoặc được điều khiển bởi thiết bị máy tính, bản sao phải được hiển thị trong bộ nhớ. Khi một người đọc sách trên Kindle, nghe nhạc trên iPod, bản sao tác phẩm được tạo ra trong RAM.
Bản sao lưu trữ trong RAM có thể thuộc phạm vi quyền sao chép, nghĩa là các bản sao này chỉ có thể được tạo ra nếu đã được cho phép. Trong khi dưới khía cạnh kỹ thuật, các nhà nghiên cứu cho rằng các bản sao lưu trữ trong RAM là do bản chất kỹ thuật tạo ra một cách tự động và không được lưu trữ lâu dài. Quá trình truyền tải tác phẩm qua Internet đòi hỏi phải có hoạt động truyền dữ liệu qua bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên (RAM) của mỗi máy tính tạm thời trên Internet. Sau đó nhập vào hoặc lưu trữ vào bộ nhớ của máy tính đích trước khi chúng được hiển thị hoặc thực hiện trong máy tính đích.
Vậy, việc lưu trữ tác phẩm trong bộ nhớ máy tính thuộc hay không thuộc phạm vi quyền sao chép. Một hệ thống máy tính thường có hai loại bộ nhớ: bộ nhớ chính (bộ nhớ RAM) và thêm nhiều bộ nhớ phụ trợ. Các bộ nhớ phụ trợ bao gồm : đĩa cứng, đĩa mềm, ổ băng từ... được sử dụng để lưu trữ dữ liệu từ tính. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, những bộ nhớ đệm có dung lượng ghi nhớ lớn ngày càng phát triển, chẳng hạn như đĩa compact chỉ đọc bộ nhớ (CD-ROM), đĩa kỹ thuật số tròn (DVD) và thẻ nhớ… Điều này dẫn đến câu hỏi liệu việc lưu trữ tác phẩm dưới mọi hình thức bộ nhớ có tạo thành bản sao hay không. Câu trả lời sẽ phụ thuộc vào việc liệu rằng những bộ nhớ đó là hữu hình hay không và các tác phẩm có được định hình hay là không.
Trong môi trường vật chất hữu hình, sẽ rất dễ dàng để biết khi nào một “bản sao” tác phẩm đã được thực hiện. Tuy nhiên, trong môi trường Internet cả “hình thức vật chất” và “sự định hình” phải đối mặt với thách thức về thời gian tồn tại và hình thức vật chất cụ thể trong môi trường Internet. Một bản sao được cố định, định hình như thế nào trong quá trình truyền tải dữ liệu trong môi trường Internet. Những bộ nhớ máy tính khác nhau được sử dụng để truyền hoặc nhận tác phẩm có được coi là hình thức vật chất và việc lưu trữ các tác phẩm trong những bộ nhớ máy tính có được xem như là sự “định hình” hay không? Bản chất công nghệ chuyển mạch gói với kỹ thuật điện toán đám mây của Internet tạo ra vấn đề rất khó để biết chính xác liệu một “bản sao” của một tác phẩm đã được tạo ra chưa. Và nếu có thì bản sao sẽ tồn tại ở đâu, cư trú tại thời điểm nào trong môi trường Internet.
Trên thực tế, bất kỳ việc truyền tải tác phẩm trong môi trường Internet đều liên quan đến việc tạo bản sao tác phẩm số được lưu trữ tạm thời trong RAM của máy tính trung gian, chủ sở hữu quyền tác giả khó có thể kiểm soát đối với tất cả các bản sao lưu trữ tạm thời xuất hiện rộng lớn giữa tính chất phân tán và phân quyền của Internet60. Internet đã đặt ra những vấn đề đối với bản sao truyền thống như sau61: (i) có thể dễ dàng nhân rộng bản sao bằng cách sử dụng công nghệ để tạo ra và sử dụng với nhiều bản sao hoàn hảo của tác phẩm; (ii) việc truyền tải và sử dụng nhiều máy tính nối mạng có thể tạo điều kiện cho hành vi xâm phạm quyền sao chép phổ biến rộng rãi.
Theo tác giả: Võ Trung Hậu
Link tài liệu đính kèm: https://docs.google.com/document/d/1sDYgDJRuBAHvsoxpjTL-DeR3DGG84u1t/edit
