HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG
BLDS 1995 và quyền SHCN trong Nghị định số 63/CP năm 1996, những nền tảng pháp lý đầu tiên của pháp luật Việt Nam liên quan đến mảng SHTT nói chung và vấn đề bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng. BLDS 1995 sau đó đã được bổ sung, sửa đổi năm 2005 và được thay thế bởi BLDS 2005. Tiếp đó, Việt Nam đã tiếp tục ban hành Luật SHTT 2005 với tư cách là văn bản pháp luật duy nhất và thống nhất điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quyền SHTT. Ngoài ra, những quy định của pháp luật về nhãn hiệu có thể được tìm thấy ở các văn bản pháp lý khác được ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền như Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ Công thương, Bộ Tư pháp... Tuy nhiên, những cố gắng kể trên nhìn chung chỉ thể hiện ở bề nổi và mang tính vĩ mô chứ chưa đi vào giải quyết một cách kịp thời và hiệu quả những nhu cầu thực tiễn mà xã hội đang đặt ra, đặc biệt là đối với việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Mặc dù đã có khá nhiều các quy định pháp luật cụ thể được ban hành, song cơ chế đảm bảo thực thi các quy định đó còn khá hạn chế, hiệu quả của quá trình áp dụng pháp luật chưa cao. Do vậy, để nâng cao hiệu quả của công tác bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng và nhãn hiệu nói chung ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, một yêu cầu trước tiên phải đặt ra là chúng ta cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn thiện cả về nội dung lẫn hình thức. Trong điều kiện nền kinh tế trong nước và thế giới có những thay đổi đáng kể theo xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa, có thể thấy rằng việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, từ đó tiến đến hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung, ở nước ta là một nhu cầu hết sức thiết thực.
1. Nguyên tắc chung trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
Quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về mặt lý luận phải dựa trên những định hướng,
nguyên tắc nhất định. Theo quan điểm của tác giả, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ
nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam hiện nay cần phải được thực hiện trên cơ sở đảm bảo các
nguyên tắc cơ bản sau đây:
1.1. Đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa – Nguyên tắc pháp quyền
Nguyên tắc pháp chế là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất chi phối toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam. Nó được ghi nhận một cách chính thức trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) và được cụ thể hóa trong tất cả các văn bản pháp luật cụ thể. Nó đòi hỏi trước hết là sự thống nhất, đồng bộ trong toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật và sau đó là sự tôn trọng và tuân thủ tuyệt đối của tất cả các chủ thể liên quan đối với các văn bản pháp luật do nhà nước ban hành. Yêu cầu về việc đảm bảo nguyên tắc pháp chế hay pháp quyền xã hội chủ nghĩa là yêu cầu bắt buộc đặt ra đối với bất kỳ một lĩnh vực pháp luật nào. Theo tinh thần của nguyên tắc pháp chế, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng ở Việt Nam cần phải thỏa mãn các yêu cầu cụ thể sau đây:
- Đảm bảo tính đồng bộ: Đây là một yêu cầu rất quan trọng mà bất kỳ hệ thống pháp luật nào cũng cần phải đáp ứng. Một hệ thống pháp luật được coi là hoàn thiện chỉ khi nó được xây dựng một cách thống nhất, đồng bộ từ các văn bản có giá trị pháp lý cao đến văn bản có giá trị thấp hơn, từ các văn bản điều chỉnh chung đến các văn bản quy định những vấn đề cụ thể.
- Đảm bảo tính khoa học: Tính khoa học vừa là yêu cầu, đồng thời cũng là thuộc tính quan trọng của hệ thống các văn bản pháp luật. Tính khoa học trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thể hiện trước hết ở tính hợp lý của việc sửa đổi các quy định hiện hành và xây dựng, ban hành các quy định mới nhằm điều chỉnh một cách có hiệu quả các vấn đề pháp lý được đặt ra. Ngoài ra, nó còn được thể hiện ở tính khả thi của các quy phạm pháp luật trên thực tế.
- Đảm bảo tính minh bạch: Yêu cầu về tính minh bạch đối với hệ thống pháp luật là một vấn đề mới được đặt ra ở Việt Nam trong thời gian gần đây. Tuy nhiên, đây hoàn toàn không phải là một khái niệm mới vì nó đã được rất nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận và tuân thủ.
Ngoài ra, nó còn là một vấn đề quan trọng được đề cập trong nhiều điều ước quốc tế. Khái niệm về tính minh bạch được sử dụng ở đây bao gồm cả hai lĩnh vực, minh bạch trong hệ thống chính sách và minh bạch trong hệ thống luật pháp. Đảm bảo tính minh bạch cũng đồng thời là một trong những biện pháp hiệu quả để đảm bảo và phát huy dân chủ.
1.2. Tiếp thu tích cực bài học kinh nghiệm từ hệ thống pháp luật các quốc gia
Theo xu thế này, các quốc gia đang và kém phát triển sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận với những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại cũng như những điều kiện thuận lợi khác để cải thiện và phát triển nền kinh tế quốc gia. Nhưng bên cạnh những thuận lợi đó là những thách thức to lớn mà các quốc gia này phải đối mặt. Do vậy, trong quá trình tham gia vào nền kinh tế toàn cầu, các quốc gia này phải luôn xem xét và cân nhắc những điều kiện cụ thể để hạn chế những khó khăn và tận dụng lợi thế ở mức tối đa. Để phục vụ cho công cuộc hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, một yêu cầu mang tính chiến lược được đặt ra là chúng ta phải hết sức coi trọng việc nghiên cứu và học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia phát triển và có nền pháp luật khá hoàn chỉnh. Quá trình tiếp thu đó phải được thực hiện một cách tích cực, nghiêm túc và có chọn lọc, đồng thời phải đảm bảo phù hợp với các điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Nhận xét một cách khách quan về thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng ở Việt Nam, chúng ta có thể nhận thấy một số vấn đề nổi bật. Thứ nhất, Việt Nam là một nền kinh tế đang chuyển đổi, rất nhạy cảm với bất kỳ sự thay đổi và tác động nào từ cả bên trong lẫn bên ngoài. Do vậy những giải pháp hoàn thiện mà chúng ta đưa ra cần phải thích ứng với đặc điểm này. Thứ hai, mọi sự thay đổi về mặt kinh tế đều cần phải dựa trên những nền tảng xã hội nhất định, căn cứ vào những nhu cầu thực tế của thực tiễn nền kinh tế quốc gia. Thứ ba, hệ thống pháp luật nước ta hiện nay đang còn khá nhiều bất cập và đang từng bước cải thiện. Cho nên những kiến nghị nhằm thay đổi, hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng
hóa nổi tiếng phải đảm bảo không mâu thuẫn hoặc đi ngược lại với các định hướng chung mang tính chiến lược được đặt ra cho sự hoàn thiện toàn bộ hệ thống pháp luật quốc gia. Thứ tư, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng phải đảm bảo đáp ứng những nhu cầu thực tế đặt ra từ thực tiễn đời sống xã hội, nhằm giải quyết một cách xác đáng và kịp thời những vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi trên thực tế việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng ở nước ta.
1.3. Đảm bảo sự thống nhất và hài hòa với pháp luật quốc tế
Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã thực sự trở thành một xu thế tất yếu mà các quốc gia dù muốn dù không đều cũng phải tuân theo. Quá trình này diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa... và nó được cụ thể hóa một cách rõ nét trong hệ thống pháp luật quốc gia cũng như quốc tế. Điều này thể hiện ở chỗ ngày càng có nhiều điều ước quốc tế được ký kết giữa các quốc gia, và từ đó, hệ thống pháp luật nội địa của các quốc gia cũng có xu hướng ngày càng xích lại gần nhau hơn. Sự thống nhất hóa và hòa hợp hóa pháp luật đang diễn ra một cách mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng thống nhất và phù hợp với những chuẩn mực và mặt bằng pháp lý chung. Việc tăng cường hợp tác, giao lưu quốc tế trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một việc làm hết sức cần thiết. Chúng ta cần chủ động và tích cực hơn nữa trong việc tham gia vào quá trình hình thành các quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, khẳng định tiếng nói và dấu ấn của Việt Nam trong việc xây dựng các chuẩn mực pháp lý chung chứ không chỉ đơn thuần chấp nhận và tuân theo một cách thụ động. Cụ thể, đối với vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến sở hữu trí tuệ nói chung và lĩnh vực bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nói riêng, chúng ta cần phải xem xét và điều chỉnh trên cơ sở đảm bảo tính thống nhất và phù hợp với các quy phạm pháp lý quốc tế đã được ghi nhận trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia cũng như đảm bảo sự hài hòa so với hệ thống pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới. Điều này không chỉ có ý nghĩa trong việc rút ngắn khoảng cách giữa chúng ta với phần còn lại của thế giới mà còn có tác dụng rất lớn trong việc củng cố và tăng cường vị thế của chúng ta trên trường quốc tế.
1.4. Cân đối các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan trong quá trình khai thác, sử dụng nhãn hiệu nổi tiếng
Chức năng của pháp luật nhãn hiệu là không chỉ nhằm cung cấp sự bảo hộ đối với chủ sở hữu nhãn hiệu. Thật vậy, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nhãn hiệu hiện đại chỉ ra rằng việc bảo hộ nhãn hiệu hướng đến đồng thời nhiều mục tiêu khác nhau, bao gồm:
(1) bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu trong việc sử dụng và khai thác nhãn hiệu của mình cũng như bảo hộ uy tín và giá trị của nhãn hiệu trong thị trường;
(2) bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng trong việc lựa chọn đúng loại hàng hóa hay dịch vụ theo kỳ vọng của mình mà không bị dừa dối hay bị nhầm lẫn giữa các loại sản phẩm khác nhau;
(3) bảo vệ lợi ích và quyền cạnh tranh lành mạnh của các chủ thể khác trong kinh doanh thương mại;
(4) đảm bảo lợi ích của nhà nước trong việc thực thi pháp luật nói chung và đảm bảo sự công bằng và tính hiệu quả của hệ thống pháp luật nhãn hiệu nói riêng. Như vậy, việc khai thác, sử dụng nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng không chỉ liên quan đến chủ sở hữu của nhãn hiệu mà còn liên quan đến các chủ thể khác và ảnh hưởng nhất định đến sự ổn định chung của nền kinh tế. Do vậy, các quy định về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng không thể chỉ dừng lại ở việc bảo hộ quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu theo một chiều mà bỏ qua các vấn đề khác. Hay nói cách khác, hệ thống pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng phải đề cập một cách toàn diện tất cả các khía cạnh liên quan.
2. Các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
2.1. Tăng cường vai trò của Nhà nước trong toàn bộ hệ thống bảo hộ nhãn hiệu nói chung và nhãn hiệu nổi tiếng nói riêng
Nhà nước đóng vai trò trung tâm trong việc xây dựng và vận hành cơ chế bảo hộ đối với nhãn hiệu. Vai trò này không chỉ được thể hiện thông qua việc hoạch định chính sách và ban hành pháp luật mà còn thể hiện ở việc thiết lập và vận hành hệ thống thực thi bảo hộ trên thực tế. Sự quan tâm của Nhà nước tập trung trước hết ở việc phổ biến các giá trị và vai trò của nhãn hiệu nổi tiếng trong một nền kinh tế lành mạnh và ổn định cũng như tầm quan trọng của việc bảo hộ nhãn hiệu trong việc thúc đẩy các hoạt động thương mại và phát triển kinh tế. Nhà nước cần nhìn nhận cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng như là một chính sách quan trọng để tăng cường năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường thế giới.
Nhà nước cần xem xét việc xây dựng và công bố danh mục nhãn hiệu nổi tiếng hay rất nổi tiếng thế giới mà chúng được biết đến hoặc được sử dụng một cách rộng rãi ở Việt Nam thông qua các kênh thương mại hoặc ít ra là thông qua các hoạt động quảng cáo hay xúc tiến thương mại. Một danh mục như thế có thể được tạo ra dựa trên các vụ việc thực tế mà ở đó nhãn hiệu nổi tiếng đã được thừa nhận bởi các bản án, quyết định của tòa án hay các cơ quan có thẩm quyền khác, hoặc dựa trên sự cân nhắc đối với các thông tin phổ biến được công bố rộng rãi thông qua các kênh thông tin truyền thông quốc tế khác nhau (chẳng hạn, Bảng xếp hạng Thương hiệu tốt nhất toàn cầu hàng năm được thực hiện bởi Interbrand có thể được sử dụng như là một nguồn thông tin tham khảo quan trọng cho các quốc gia trong việc xây dựng danh mục nhãn hiệu nổi tiếng ở quốc nhãn hiệu nào đó trong danh mục bị tuyên bố là không còn nổi tiếng nữa). Thật ra, đây không phải là một đề xuất mới mà trên thực tế pháp luật Việt Nam đã đề cập đến vấn đề này thông qua quy định cho phép và yêu cầu Cục SHTT thiết lập danh mục nhãn hiệu nổi tiếng. Cần lưu ý rằng danh mục nhãn hiệu nổi tiếng sẽ không đương nhiên trở thành chứng cứ bắt buộc cho các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình xác định một nhãn hiệu nổi tiếng trên thực tế. Nó chỉ là một nguồn tài liệu tham khảo quan trọng bên cạnh các tiêu chí khác mà cơ quan có thẩm quyền sẽ phải xem xét trong quá trình giải quyết các vụ việc cụ
thể.
Bên cạnh việc xây dựng danh mục nhãn hiệu nổi tiếng thế giới, Nhà nước cũng cần có sự quan tâm đúng mức đến các nhãn hiệu trong nước. Nhà nước cần đề ra các chiến lược cụ thể phù hợp để phát triển các nhãn hiệu nổi tiếng của các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ “made in Viet Nam” như “Cà phê Trung Nguyên”, “Phở 24”, “Nước mắm Phú Quốc” hay “Bia Sài Gòn”... Để đạt mục tiêu phát triển kinh tế, Nhà nước cần quan tâm đồng đều và có những giải
pháp hài hòa đối với cả nhãn hiệu nước ngoài và nhãn hiệu trong nước. Sẽ là không công bằng nếu chúng ta chỉ tập trung bảo hộ đối với nhãn hiệu nổi tiếng nước ngoài mà không quan tâm đến các nhãn hiệu nổi tiếng nội địa. Cùng với sự củng cố và phát triển cơ chế pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nước ngoài, Nhà nước cũng cần đưa ra các chính sách phù hợp để hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam trong việc bảo hộ, phát triển và công bố nhãn hiệu nổi tiếng của doanh nghiệp Việt Nam không chỉ trong phạm vi thị trường trong nước mà cả trên thị trường thế giới. Nói cách khác, Nhà nước cũng cần phải xây dựng một danh mục các nhãn hiệu nổi tiếng của Việt Nam, bao gồm những nhãn hiệu nội địa được biết đến và sử dụng rộng rãi trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Từ đó, danh mục nhãn hiệu nổi tiếng nói trên cũng có thể được xây dựng dựa trên những danh mục sẵn có được các quốc gia khác hoặc các tổ chức quốc tế công bố chính thức. Điều quan trọng là danh mục này phải được cập nhật thường xuyên theo định kỳ hoặc khi một hoặc một số thông qua các kênh quan hệ quốc tế, Nhà nước sẽ có những chính sách thiết thực để giúp mở rộng và phát triển các nhãn hiệu đó ra thị trường nước ngoài.
Ngoài ra, ở một góc độ khác của công cuộc hoàn thiện cơ chế bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, Nhà nước cần cân nhắc khả năng vận dụng và phát huy vai trò quan trọng của án lệ trong hệ thống thực thi bảo hộ nhãn hiệu. Nguyên tắc pháp quyền đòi hỏi pháp luật phải được vận dụng một cách thống nhất, chính xác và công khai minh bạch. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau mà việc tiếp cận đối với các bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trên thực tế là hết sức khó khăn. Do các điều kiện đặc thù của Việt Nam, việc áp dụng các án lệ trong bảo hộ nhãn hiệu nói riêng và trong toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung cần phải được thực hiện theo từng bước. Một trong những bước quan trọng đầu tiên của quá trình này là các bản án, quyết định của tòa án và các cơ quan có thẩm quyền phải được chuẩn mực hóa và minh bạch hóa, trên cơ sở đó các nhà lập pháp, các nhà nghiên cứu, các chủ thể áp dụng pháp luật sẽ có dịp nghiên cứu, đánh giá... để từ đó có thể đưa ra những kiến nghị khoa học và phù hợp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật nhãn hiệu của Việt Nam.
2.2. Sửa đổi và hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng
Thứ nhất, về khái niệm nhãn hiệu nổi tiếng, có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đã có những cố gắng đáng ghi nhận trong việc đưa ra định nghĩa thế nào là nhãn hiệu nổi tiếng. Tuy nhiên, định nghĩa này vẫn còn quá chung chung và có những điểm bất cập nhất định. Hơn nữa, pháp luật Việt Nam chỉ đưa ra định nghĩa nhãn hiệu nổi tiếng mà không đề cập đến những thuật ngữ khác có liên quan. Điều này có thể gây ra những khó khăn cho cơ quan áp dụng pháp luật trên thực tế, chẳng hạn có thể xảy ra hiện tượng hiểu nhầm hoặc vận dụng không chính xác khái niệm “nhãn hiệu nổi tiếng” và “nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi”. Vì vậy, pháp luật cần thiết phải làm rõ ranh giới và mối liên hệ giữa các thuật ngữ pháp lý quan trọng liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng. Theo quan điểm của tác giả, hệ thống nhãn hiệu Việt Nam có thể được phân chia thành bốn nhóm chính bao gồm (i) nhãn hiệu thông thường, là những dấu hiệu thỏa mãn các yêu cầu được bảo hộ một cách bình thường với tư cách là nhãn hiệu theo quy định của pháp luật, (ii) nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi được quy định tại Điều 74(2) (g) của Luật SHTT năm 2005 (bổ sung sửa đổi năm 2009), (iii) nhãn hiệu nổi tiếng theo tinh thần của quy định tại Điều 6bis Công ước Paris và được định nghĩa tại Điều 4(20) và được xác định theo Điều 75 của Luật SHTT 2005 (bổ sung sửa đổi năm 2009) và (iv) nhãn hiệu rất nổi tiếng là những nhãn hiệu đạt đến mức độ cao nhất của sự nổi tiếng. Tuy vậy, khái niệm nhãn hiệu rất nổi tiếng không được ghi nhận chính thức trong luật cũng như rất hiếm khi được nhắc đến trên thực tế. Điều này có thể là do một nhãn hiệu khi trở nên rất nổi tiếng thì chắc chắn nó đã phải là và được đối xử với tư cách là một nhãn hiệu nổi tiếng. Cơ chế pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng và rất nổi tiếng cũng giống nhau do bản chất của hai loại nhãn hiệu này về cơ bản không khác nhau. Nói cách khác, không cần thiết phải tính đến việc xây dựng một thiết chế pháp lý dành riêng cho nhãn hiệu rất nổi tiếng bởi vì cơ chế bảo hộ áp dụng cho nhãn hiệu nổi tiếng cũng hoàn toàn có thể áp dụng hiệu quả, thậm chí hiệu quả hơn, đối với nhãn hiệu rất nổi tiếng. Sự khác biệt giữa nhãn hiệu nổi tiếng và nhãn hiệu rất nổi tiếng nếu có hầu như chỉ đặt ra ở góc độ lý luận, tức là xem xét đến mức độ nổi tiếng và tính thuyết phục của các yếu tố được sử dụng để đánh giá sự nổi tiếng. Trong khi đó, giữa khái niệm “nhãn hiệu nổi tiếng” và “nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi” hay giữa “nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi” với “nhãn hiệu thông thường” hầu như chưa có sự phân định rõ ràng và dễ gây nhầm lẫn trên thực tế. Để hạn chế điều này, pháp luật cần định nghĩa một cách chính xác từng loại nhãn hiệu để giúp phân biệt chúng trong từng vụ việc cụ thể, đặc biệt là giữa “nhãn hiệu nổi tiếng” và “nhãn hiệu được sự dụng và thừa nhận rộng rãi”.
Thứ hai, pháp luật cần làm rõ vấn đề pháp lý liên quan đến việc liệu một nhãn hiệu nổi tiếng có được bảo hộ ở Việt Nam không nếu nhãn hiệu đó chưa được sử dụng và biết đến ở thị trường Việt Nam. Theo quy định của Luật SHTT năm 2005 (bổ sung sửa đổi năm 2009), một nhãn hiệu sẽ được coi là nổi tiếng (ở Việt Nam) nếu nhãn hiệu đó “được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam”2. Một số vụ việc trên thực tế cũng được xử lý dựa trên cách hiểu tương tự. Như vậy có thể nói rằng một nhãn hiệu nước ngoài sẽ không được công nhận là nổi tiếng ở Việt Nam nếu nhãn hiệu đó không được biết đến (bởi người tiêu dùng) ở Việt Nam. Tuy nhiên, điều này có vẻ không phù hợp với tình huống thực tế là có nhiều nhãn hiệu có phạm vi sử dụng khá hạn chế trong một nhóm người tiêu dùng nhất định như các nhãn hiệu dược phẩm, thiết bị văn phòng hay các trang thiết bị công nghệ đặc thù. Trong những trường hợp đó, sẽ là hợp lý hơn nếu việc đánh giá nhãn hiệu có phải là nhãn hiệu nổi tiếng hay không được thực hiện trong phạm vi những người tiêu dùng nhất định có liên quan hay gắn bó trực tiếp với quá trình phân phối hay sử dụng sản phẩm mang nhãn hiệu mà không mở rộng phạm vi đánh giá đối với những nhóm người tiêu dùng khác không liên quan. Do vậy, tác giả cho rằng quy định tại Điều 4(20) của Luật SHTT năm 2005 (bổ sung sửa đổi năm 2009) cần
được sửa đổi một cách phù hợp. Theo đó, một nhãn hiệu sẽ được coi là nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam nếu nhãn hiệu đó “được biết đến rộng rãi bởi bộ phận người tiêu dùng liên quan trên lãnh thổ Việt Nam”. Cũng cần lưu ý rằng điều này không đồng nghĩa với việc nhãn hiệu đó phải được sử dụng trên thực tế ở Việt Nam. Quay trở lại vụ việc liên quan đến nhãn hiệu X- MEN3, theo quan điểm cá nhân, tác giả cho rằng việc Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội cần đánh giá nhãn hiệu “X-MEN” có phải là nhãn hiệu nổi tiếng hay không không Chỉ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ Hoa Kỳ mà phải xem xét trên phạm vi thế giới dựa trên các chứng cứ do Marvel cung cấp. Và khi đó, nếu sự nổi tiếng của nhãn hiệu cũng như khả năng gây nhầm lẫn có thể được chứng minh một cách thuyết phục thì Tòa án có lẽ phải đứng về phía nguyên đơn Marvel để tuyên hủy bỏ đăng ký đối với nhãn hiệu “X-MEN và Logo chữ X” của bị đơn mà không cần quan tâm đến việc nhãn hiệu “X-MEN” của Marvel có được sử dụng trên thực tế ở Việt Nam hay chưa.
Thứ ba, liên quan đến các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng, không thể phủ nhận rằng pháp luật Việt Nam đã thành công trong việc xây dựng một danh mục các tiêu chí tại Điều 75 của Luật SHTT năm 2005 (bổ sung sửa đổi năm 2009) và tiểu mục 42(3) – Mục 5 của Thông tư 01/2007. Tuy nhiên, như đã đề cập ở phần trước, quy định của pháp luật vẫn còn mang tính thông tin và mang tính định tính nhiều hơn là định lượng. Chúng hầu như chỉ có giá trị gợi ý và tham khảo đối với các cơ quan có thẩm quyền hơn là những chuẩn mực mang tính cụ thể, chính xác và có thể áp dụng một cách trực tiếp và triệt để. Điều này dẫn đến một thực tế là việc áp dụng các tiêu chí trong từng vụ việc cụ thể trở nên kém hiệu quả. Do vậy, pháp luật cần được tiếp tục hoàn thiện bằng cách đưa ra những sự hướng dẫn và giải thích cụ thể, chi tiết hơn về cách thức mà các tiêu chí được hiểu và áp dụng. Chẳng hạn, đối với tiêu chí “số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu”4, pháp luật cần giải thích rõ tỉ lệ phần trăm số lượng người tiêu dùng như thế sẽ được chấp nhận như là ranh giới để phân định giữa “nhãn hiệu nổi tiếng”, “nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi” và “nhãn hiệu thông thường”. Tương tự như vậy, pháp luật cũng cần xác định số lượng quốc gia đã thừa nhận và bảo hộ nhãn hiệu với tư cách là nhãn hiệu nổi tiếng để từ đó xem xét, đánh giá nhãn hiệu đó có phải là nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam hay không theo Điều 75(6) và 75(7) của Luật SHTT năm 2005 (bổ sung sửa đổi năm 2009). Pháp luật cũng cần có những giải thích và hướng dẫn rõ ràng hơn về cách hiểu và Vận dụng đối với các khái niệm hay thuật ngữ được quy định. Ngoài ra, việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nhằm mục tiêu trước tiên và quan trọng là đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu. Vì thế, chúng ta cũng nên hiểu rằng các tiêu chí được quy định bởi pháp luật sẽ không đương nhiên bị giới hạn trong một phạm vi xác định mà phải được mở rộng một cách hợp lý tùy thuộc vào khả năng cung cấp thông tin và chứng minh của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc các chủ thể liên quan khác trong từng vụ việc cụ thể. Thứ tư, về các căn cứ pháp lý làm cơ sở cho việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng, cần có sự bổ sung để hoàn thiện các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến các yêu cầu hay tiêu chí để đánh giá nguy cơ gây nhầm lẫn trong các vu việc tranh chấp về nhãn hiệu. Theo hướng này, pháp luật phải làm rõ những vấn đề pháp lý liên quan đến việc xác định sự tương tự giữa dấu hiệu đăng ký với nhãn hiệu được sử dụng và thừa nhận rộng rãi được quy định tại Điều 74 (2) (g) của Luật SHTT năm 2005 (bổ sung sửa đổi năm 2009), hay giữa dấu hiệu đăng ký với nhãn hiệu nổi tiếng theo quy định tại Điều 6bis Công ước Paris và được định nghĩa tại Điều 4(20) và được xác định theo Điều 75 của Luật SHTT 2005 (bổ sung sửa đổi năm 2009). Theo quy định của Thông tư 01/2007, một dấu hiệu sẽ bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu nếu (i) dấu hiệu đó gần giống với nhãn hiệu đối chứng về cấu trúc hoặc/và nội dung hoặc/ và cách phát âm hoặc/và ý nghĩa hoặc/và hình thức thể hiện đến mức làm cho người tiêu dùng tưởng lầm rằng hai đối tượng đó là một hoặc đối tượng này là biến thể của đối tượng kia hoặc hai đối tượng đó có cùng một nguồn gốc; và (ii) dấu hiệu chỉ là bản phiên âm hoặc dịch nghĩa từ nhãn hiệu đối chứng nếu nhãn hiệu đối chứng là nhãn hiệu nổi tiếng. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại không đưa ra bất kỳ sự giải thích nào cụ thể và chi tiết hơn để giúp các cơ quan có thẩm quyền cũng như các chủ thể liên quan trong việc xác định sự tương tự giữa các dấu hiệu ngoài những hướng dẫn rất chung chung tại tiểu mục.
Thông thường, sự tương tự giữa các dấu hiệu được xem xét, đánh giá và chứng minh một cách hợp lý và thuyết phục thông qua các cuộc điều tra xã hội học hay một sự xét nghiệm được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền. Thế nhưng điều này hầu như rất ít được tiến hành trên thực tế và nếu có thì chủ yếu do chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng tự mình thực hiện và cung cấp các chứng cứ cần thiết để các cơ quan có thẩm quyền xem xét, chứ bản thân các cơ quan có thẩm quyền thường sẽ ít khi ra quyết định trưng cầu giám định hay xét nghiệm chuyên môn từ các cơ quan chuyên trách. Điều này rõ ràng là một dấu hiệu không nên có trong một hệ thống bảo hộ nhãn hiệu tiên tiến. Vì vậy, pháp luật nhãn hiệu Việt Nam cần bổ sung một số quy phạm cụ thể về các yếu tố được xem xét để đánh giá mức độ tương tự giữa các dấu hiệu cũng như xác định trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc thực hiện các cuộc thăm dò, điều tra xã hội học hay trưng cầu và thực hiện việc giám định trong các vụ việc liên quan đến nhãn hiệu nổi tiếng. Đồng thời, pháp luật cũng cần có các quy định tương tự để áp dụng trong việc xác định tính chất và mức độ tương tự giữa các nhóm hàng hóa và dịch vụ mang nhãn hiệu tranh chấp.
Liên quan đến nguy cơ gây nhầm lẫn có thể xảy ra trong phạm vi bộ phận công chúng người tiêu dùng có liên quan đến nhãn hiệu, để có thể bảo vệ tốt nhất cho các chủ thể liên quan, pháp luật cần quy định rõ (i) khả năng hay nguy cơ gây nhầm lẫn phải dược xem xét bao gồm cả hai cấp độ, nhầm lẫn thực tế và nhầm lẫn do liên tưởng và (ii) những sự nhầm lẫn như thế cần phải được đánh giá một cách phù hợp thông qua kết quả của các cuộc thăm dò do cơ quan có thẩm quyền thực hiện đối với bộ phận người tiêu dùng liên quan chứ không chỉ dựa trên thông tin hay chứng cứ một chiều do chủ sở hữu nhãn hiệu cung cấp. Một điều quan trọng hơn nữa là pháp luật Việt Nam cần phải chấp nhận hoc thuyết về sự lu mờ nhãn hiệu như là một trong những yếu tố quan trọng phải được tính đến trong việc xác định các hành vi xâm phạm nhãn hiệu nổi tiếng trong các vu việc cụ thể. Học thuyết về sự lu mờ đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở nhiều quốc gia, đặc biệt là Hoa Kỳ. Ngay cả ở châu Âu, dù pháp luật của Liên minh châu Âu không có bất kỳ quy định cụ thể nào về nguyên tắc về sự lu mờ nhãn hiệu, nhưng trên thực tế tinh thần của học thuyết này vẫn được các Tòa án áp dụng.
Theo: ThS. Phan Ngọc Tâm
Link tài liệu: https://docs.google.com/document/d/153XqVcUmlfUfmw4MTvXqWzuGfbfUO3fa/edit?usp=drive_web&ouid=102249775144483111159&rtpof=true
