TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
2.1. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân ở một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam
2.1.1. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân ở một số nước trên thế giới
2.1.1.1. Trách nhiêm hình sự của pháp nhân theo pháp luật Anh.
Kể từ sau Cách mạng Pháp năm 1789, Anh là nước đầu tiên xác lập chế định TNHS của pháp nhân trong pháp luật hình sự trên cơ sở các án lệ của TA. Theo đó, TA Anh đã áp dụng TNHS đối với pháp nhân, coi pháp nhân là một thực thể xã hội chứ không phải là một trừu tượng pháp lý, không phải là con của các cá nhân. Thực thể xã hội này có sự tồn tại của chính nó và với tư cách đó nó phải tự mình chịu trách nhiệm về những hành vi phạm tội đã thực hiện.
Nghiên cứu án lệ của Anh cho thấy thời kì đầu TNHS của pháp nhân chỉ áp dụng đối với các tội phạm do lỗi vô ý được thực hiện dưới dạng không hành động. Việc buộc pháp nhân chịu trách nhiệm về loại tội phạm này sẽ không gặp khó khăn, vì phạm một tội như thế không đòi hỏi bằng chứng về lỗi (means rea) và cũng không đòi hỏi tội phạm phải được thực hiện dưới hình thức hành động [117]. Sau đó, các TA ở Anh dần dần buộc pháp nhân phải chịu TNHS với các tội gây thiệt hại cho cộng đồng cả trong trường hợp hành động và không hành động vi phạm nghĩa vụ pháp lý gây hại cho cộng đồng.
Về phạm vi áp dụng TNHS, một số loại tội phạm mà pháp nhân có thể bị xét xử như: (1) Các tội gây nguy hại cho cộng đồng: Cản trở giao thông, hành vi buôn bán gây khó chịu cho người khác, bán thức ăn không thích hợp cho người tiêu dùng, vi phạm các quy định về môi trường...; (2) Các tội phỉ báng, bôi nhọ: Là các hành vi công bố bài viết, lời phát biểu có mục đích bôi nhọ, hạ thấp danh dự, nhân phẩm của cá nhân người khác trong nhận thức hoặc suy nghĩ của các thành viên trong cộng đồng... (3) Tội coi thường TA như: có các hành vi ngăn cản, có ý định ngăn cản việc thực hiện pháp luật của cơ quan TA; dùng từ ngữ đe dọa, gây phiền phức tại phiên tòa; dùng lời nói tục tĩu vượt quá giới hạn. Một số tội phạm do có những đặc trưng riêng nên pháp nhân không thể thực hiện được và pháp luật cũng không xác định TNHS của pháp nhân như một số các tội xâm phạm tình dục, tội vi phạm chế độ một vợ một chồng hay các tội đòi hỏi yếu tố bạo lực trong hành vi khách quan thì cũng không áp dụng đối với pháp nhân.
Về hình phạt, do sự phát triển mạnh của hình phạt tiền, nên pháp luật hình sự của Anh chỉ quy định tiền phạt là hình phạt duy nhất được áp dụng đối với pháp nhân phạm tội.
2.1.1.2. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo pháp luật Canada.
Cuối thế Kỷ 19, tính cần thiết phải có quy định về xử lý đối với pháp nhân phạm tội được đặt ra ở Canada. Tiếp thu kinh nghiệm của Anh trong vấn đề TNHS của pháp nhân, trong thời kì đầu, các TA của Canada chỉ xử lý đối với pháp nhân phạm các tội xâm phạm tài sản, sau đó tiếp tục xử lý các tội phạm gây hại cho đời sống cộng đồng như hành vi gây tiếng ồn, làm ô nhiễm công nghiệp, hủy hoại môi trường... và sau đó mở rộng phạm vi xử lý các pháp nhân phạm các tội phạm khác.
Đến Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật năm 2003 có hiệu lực ngày 31/3/2004, thì chế định TNHS của pháp nhân trong Luật hình sự Canada đã được hoàn thiện một cách cơ bản. Theo đó, TNHS đối với pháp nhân phạm tội trong BLHS Canada có một số điểm nổi bật sau:
Về chủ thể chịu TNHS là pháp nhân được quy định tại Điều 2 có phạm vi rất rộng, có thể là các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các tổ chức, đảng phái chính trị, các nhóm, các pháp nhân theo luật công hoặc luật tư, các công ty, xí nghiệp, các nghiệp đoàn... hay nói cách khác, chủ thể ở đây có thể là các tổ chức hoặc cá thể có tư cách pháp nhân, hoặc có thể là các nhóm lợi ích, các hội, hiệp hội không có tư cách pháp nhân.
Về yếu tố lỗi, Điều 22 quy định pháp nhân phải chịu TNHS về một tội phạm do vô ý. Việc thực hiện hành vi do vô ý là do một hoặc một nhóm người trong pháp nhân thực hiện, nhưng những người này phải hành động trong khuôn khổ các chức năng của pháp nhân trong thời điểm phạm tội. Điều 22-2 quy định ba trường hợp mà pháp nhân có thể bị xử lý hình sự mà nhận thức rõ được sự việc hoặc cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Đó là các trường hợp (1) một cán bộ cấp trên phạm tội để mang lại lợi ích trực tiếp cho pháp nhân, (2) cán bộ cấp trên có ý định để cấp dưới vô tội thực hiện hành vi vật chất nhằm thu lợi cho pháp nhân, (3) cán bộ cấp trên biết là những nhân viên dưới quyền thực hiện một tội phạm những người cán bộ này không hề làm gì để ngăn cản, bởi vì muốn pháp nhân được hưởng lợi từ việc phạm tội của các nhân viên này.
Về loại tội phạm mà pháp nhân phải chịu TNHS, theo Luật hình sự phần chung (Droit pénal général) và các lĩnh vực của Luật hình sự Phần các tội phạm (Droit pénal spécial) như: Luật hình sự về thuế, môi trường, lao động, thương mại… thi nguyên tắc TNHS của pháp nhân được áp dụng đối với mọi tội phạm.
Về hình phạt, Luật hình sự Canada chỉ đưa ra một loại hình phạt duy nhất cho pháp nhân phạm tội là phạt tiền. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với pháp nhân phạm tội, các Thẩm phán cần phải dựa vào các yếu tố nhất định được quy định để xác định mức phạt tiền áp dụng.
2.1.1.3. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo pháp luật Cộng hòa Pháp.
Trong pháp luật hình sự trước năm 1789 ở Pháp cũng đã có thừa nhận nguyên tắc TNHS của pháp nhân. Nhưng kể từ sau Cách mạng năm 1789, pháp luật hình sự và thực tiễn xét xử hình sự ở Pháp đã loại bỏ pháp nhân ra khỏi phạm vi chủ thể chịu TNHS và chỉ xét xử đối với cá nhân phạm tội. Nhưng các lĩnh vực khác như dân sự, kinh tế, hành chính lại vẫn coi pháp nhân là chủ thể và xác định trách nhiệm của pháp nhân vi phạm pháp luật.
BLHS của Cộng hòa Pháp được Quốc hội thông qua năm 1992 và có hiệu lực năm 1994 xác định TNHS của pháp nhân là một trong những quy định mới, quan trọng của BLHS. BLHS này không quy định TNHS của pháp nhân thành một chương riêng mà chỉ quy định những điều khoản cụ thể trong các chương tương ứng quy định về TNHS của cá nhân.
Về chủ thể, pháp luật hình sự Pháp có quy định khác nhau trong lĩnh vực tư và lĩnh vực công. Trong lĩnh vực tư, các pháp nhân có mục đích sinh lợi trong quá trình hoạt động có đủ tư cách chịu TNHS, gồm các pháp nhân dân sự và PNTM. Đối với các pháp nhân không có mục đích sinh lợi, cũng có thể phải chịu TNHS nếu họ là các hiệp hội đã đăng ký hợp lệ, các công đoàn, giáo đoàn, các đảng phái... Trong lĩnh vực công, Nhà nước không phải chịu TNHS; còn các tập thể lãnh thổ và các tổ chức của nó như các công xã, các tỉnh và vùng lãnh thổ phải chịu TNHS đối với tội phạm được thực hiện trong khi tiến hành những hoạt động có thể là đối tượng của sự thỏa thuận ủy quyền công vụ [34, tr.71,72]. Ngoài ra, tất cả các pháp nhân theo luật công khác đều phải chịu TNHS đối với hành vi của pháp nhân gây ra.
Các tội phạm cụ thể mà pháp nhân có thể bị xét xử theo pháp luật hình sự của Pháp được quy định cụ thể trong các văn bản luật, do đó muốn xác định pháp nhân phạm tội hay không, phạm tội gì thì phải căn cứ vào các văn bản luật và văn bản thuộc lĩnh vực chuyên biệt như lao động, kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực môi trường.
Về hình phạt mà pháp nhân phải chịu gồm:
Các hình phạt đối với pháp nhân phạm trọng tội và khinh tội: BLHS của Pháp quy định tất cả các hình phạt dành cho pháp nhân là hình phạt chính, không có hình phạt bổ sung hoặc hình phạt thay thế. Hình phạt tiền là hình phạt phổ biến đối với pháp nhân phạm tội. Bên cạnh đó, các hình phạt khác có thể áp dụng đối với pháp nhân gồm: Giải thể, Cấm tiến hành trực tiếp hoặc gián tiếp một hoặc nhiều hoạt động nghề nghiệp hoặc hoạt động xã hội trong thời hạn tối đa đến 5 năm hoặc vĩnh viễn, Chịu sự giám sát tư pháp trong thời hạn tối đa là 5 năm, Đóng cửa một trong nhiều cơ sở của pháp nhân mà pháp nhân đã sử dụng để tiến hành các hoạt động phạm tội trong thời hạn tối đa là 5 năm hoặc vĩnh viễn, Cấm việc huy động vốn trong thời hạn tối đã là 5 năm hoặc vĩnh viễn, Cấm phát hành séc hoặc sử dụng thẻ thanh toán trong thời hạn tối đã là 5 năm, Tịch thu vật đã được sử dụng vào việc thực hiện tội phạm hoặc do phạm tội mà có.
Các hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội vi cảnh: BLHS Pháp quy định hình phạt gồm phạt tiền và một số hình phạt tước hoặc hạn chế các quyền của pháp nhân. Đối với nhóm tội này, có thể có hình phạt bổ sung là tịch thu vật đã được sử dụng hoặc dành cho việc thực hiện hành vi phạm tội hoặc vật do phạm tội mà có; cấm phát hành séc.
Ngoài ra BLHS Pháp còn có quy định một số biện pháp tha, miễn hình phạt áp dụng đối với pháp nhân phạm tội như: Án treo thường (pháp luật của Pháp quy định có ba loại án treo là án treo thông thường, án treo có kèm theo thử thách và án treo kèm theo lao động công ích); miễn hình phạt; hoãn tuyên hình phạt.
2.1.1.4. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo pháp luật Trung Quốc.
Pháp luật hình sự Trung Quốc không sử dụng thuật ngữ “pháp nhân” là chủ thể của tội phạm. Trong quy định tại Tiết 4 chương III phần chung BLHS Trung quốc năm 1997: “Tội phạm có chủ thể là các cơ quan, đơn vị và tổ chức”. Điều 30 BLHS Trung Quốc thì cơ quan, đơn vị và tổ chức là chủ thể chịu TNHS có phạm vi rất rộng, gồm: Các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các công ty, xí nghiệp, đơn vị sự nghiệp, cơ quan, đoàn thể, các hội, hiệp hội...
Các tội phạm mà pháp nhân có thể bị xét xử theo pháp luật Trung Quốc chủ yếu là các tội phạm kinh tế. Tại Chương 3 BLHS Trung Quốc có các tội phạm như: Các tội sản xuất, tiêu thụ hàng giả, hàng hóa kém chất lượng (từ Điều 140 đến Điều 148); Các tội buôn lậu (từ Điều 151 đến Điều 157); Các tội phá hoại trật tự quản lý công ty, xí nghiệp (từ Điều 158 đến Điều 169); Các tội xâm phạm quản lý trật tự tài chính, tội lập quỹ trái phép, tội làm giả giấy phép khai thác, tội cho vay lãi nặng, tội gian dối trong huy động tiền tiết kiệm…; Các tội liên quan đến thuế (Điều 201, 203 đến 209, 211); Các tội xâm phạm trật tự quản lý thị trường (từ Điều 221 đến Điều 231). Ngoài ra, pháp nhân có thể phải chịu TNHS với một số loại tội khác.
Về hình phạt, pháp luật hình sự Trung Quốc cũng giống như pháp luật hình sự của nhiều nước khác, hình phạt tiền là hình phạt duy nhất được áp dụng với pháp nhân phạm tội.
2.1.2. Kinh nghiệm cho Việt Nam
Nghiên cứu pháp luật hình sự một số nước về TNHS của pháp nhân có thể rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
- Hiện nay luật hình sự của nhiều nước quy định TNHS của pháp nhân đều có phạm vi điều chỉnh rộng hơn, không chỉ giới hạn đối với PNTM. Quá trình nghiên cứu pháp luật hình sự của một số nước cho thấy thường là có các quy định trừ pháp nhân công quyền (Nhà nước và một số tổ chức pháp nhân có tính đặc thù) thì tất cả các pháp nhân khác đều phải chịu TNHS do hành vi của mình gây ra. Pháp luật của nhiều nước cũng không có sự khác biệt nhiều trong TNHS đối với PNTM và pháp nhân phi thương mại, một số nước chỉ có sự khác biệt theo hệ thống luật công và hệ thống luật tư. Và TNHS của pháp nhân không loại trừ trách nhiệm của cá nhân với tư cách là người thực hành trực tiếp.
- Luật hình sự của các nước đều quy định theo hướng pháp nhân không phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm mà chỉ phải chịu TNHS về một số tội phạm có thể được thực hiện bởi pháp nhân. Việc các quốc gia quy định như vậy là do quan niệm rằng một số tội phạm không thể thực hiện được bởi pháp nhân, ví dụ các tội phạm có yếu tố vũ lực trong hành vi, xâm hại đến tính mạng sức khỏe, một số tội xâm hại tình dục mà cần phải có con người cụ thể mới thực hiện được. Tuy nhiên, phạm vi các tội phạm áp dụng đối với pháp nhân cũng khá rộng, liên quan đến nhiều nhóm tội khác nhau mà pháp nhân có thể thực hiện được.
- Hình phạt đối pháp nhân chủ yếu là phạt tiền. Ngoài ra còn một số hình phạt bổ sung.
Đối với Việt Nam, sự ra đời của BLHS 2015 đánh dấu bước phát triển mang tính đột phá trong chính sách và tư duy lập pháp hình sự của Nhà nước ta. Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự, BLHS quy định TNHS đối với PNTM. Điều này đã làm thay đổi tư duy có tính truyền thống về tội phạm và hình phạt, đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống các hành vi phạm tội do PNTM thực hiện ở Việt nam trong những năm gần đây, tạo cơ sở pháp lý trong hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm, nhất là các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Tuy vậy, là lần đầu tiên quy định TNHS của pháp nhân nên các nhà lập pháp thể hiện sự thận trọng, BLHS Việt Nam hiện nay mới chỉ giới hạn phạm vi chủ thể của tội phạm là PNTM, còn các pháp nhân khác không phải PNTM thì không phải là chủ thể của TNHS. Bên cạnh đó, phạm vi các tội phạm áp dụng đối với PNTM còn khá hẹp, chỉ thuộc các nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (22 tội), tội phạm về môi trường (09 tội) và tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (02 tội).
Từ những nghiên cứu và đúc rút kinh nghiệm lập pháp của các nước trên thế giới có quy định về TNHS của pháp nhân, NCS cho rằng cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật hình sự của Việt Nam cho phù hợp với xu hướng phát triển thế giới, phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam về xử lý hành vi vi phạm pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng của pháp nhân.
Theo: Vũ Văn Tư
Link luận án:
https://docs.google.com/document/d/17ogS1V_Ww37SE1jW4uscSpa5ApE4sWFy/edit