NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÃ HỘI HOÁ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA XÃ HỘI HOÁ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm xã hội hoá thi hành án dân sự
XHH là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam gắn với quá trình cải cách thủ tục hành chính – tư pháp, đổi mới phương thức quản lý Nhà nước và trực tiếp là đổi mới, nâng cao chất lượng dịch vụ công. Tuy nhiên, XHH là thuật ngữ khá đa nghĩa, được xem xét dưới nhiều góc độ, thậm chí ở nhiều ngành khoa học khác nhau:
Dưới góc độ ngôn ngữ học, trong Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên (1967) định nghĩa XHH là “đem tư liệu sản xuất của cá nhân làm của chung xã hội như XHH các phương tiện giao thông vận tải. Gần đây hơn, Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (2005) định nghĩa XHH là “làm cho trở thành của chung của xã hội” như XHH tư liệu sản xuất.
Ở góc độ quản lý Nhà nước, XHH lại được nhìn nhận gắn với việc xác định vai trò của Nhà nước trong mỗi chế độ xã hội và cách thức Nhà nước thực hiện vai trò đó.39 Theo đó, XHH là việc giảm dần các biện pháp quản lý trực tiếp của Nhà nước, mang tính quyền uy, mệnh lệnh để tập trung vào các biện pháp quản lý mang tính vĩ mô sử dụng các công cụ chính sách, pháp luật…Phát triển các hình thức quản lý tự quản của xã hội, quản lý thông qua các tổ chức xã hội tự quản, xu hướng này nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của người dân trong xã hội, thúc đẩy tính tự giác và có thể làm cho Nhà nước gần với xã hội hơn. Như vậy, dưới góc độ quản lý Nhà nước, XHH là một biện pháp quản lý Nhà nước, chuyển giao một bộ phận quyền lực Nhà nước cho xã hội. Biện pháp này giúp cho quá trình quản lý được khách quan hơn, đồng thời có thể giảm bớt gánh nặng đối với Nhà nước, tạo điều kiện cho Nhà nước củng cố các công cụ quản lý mang tính vĩ mô, phổ quát hơn. Tuy nhiên, việc chuyển giao này phải dựa trên các điều kiện xã hội cụ thể: các công cụ quản lý vĩ mô mạnh, khả năng quản lý cao trên cơ sở một xã hội có trình độ phát triển với ý thức tự giác cao và các quyền dân chủ được thừa nhận.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc XHH, từ năm 1986 đến nay Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản làm định hướng và tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện mạnh mẽ XHH dịch vụ công. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam về đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch, vững mạnh nêu ra định hướng chỉ đạo: “Kiện toàn hợp lý tổ chức bộ máy Nhà nước… tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp. Khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức hoạt động không vì lợi nhuận mà vì nhu cầu và lợi ích của nhân dân;” Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010 đã xác định mục tiêu cụ thể của cải cách hành chính là : “…Chuyển một số công việc và dịch vụ không cần thiết do cơ quan Nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ đảm nhận”.
Cho đến nay, XHH không còn là khái niệm xa lạ và được nhắc đến nhiều trong các Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước với những nội dung cụ thể như “XHH là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự phát triển các sự nghiệp đó”; “XHH là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa”; “XHH là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân...”40. Các văn bản quy phạm pháp luật sau này, khi nhắc đến XHH đều hướng đến khuyến khích thực hiện chính sách XHH như chăm sóc người có công, chăm sóc, giáo dục trẻ em, bảo trợ xã hội… Các lĩnh vực XHH dần được mở rộng thông qua cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Cùng với chủ trương cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, việc XHH dần được thực hiện trong các lĩnh vực khác mà lâu nay đều do Nhà nước đảm nhiệm thực hiện như XHH công chứng, giám định tư pháp, trợ giúp pháp lý, đấu giá tài sản . Điều đó cho thấy Nhà nước đã dần dần triển khai thực hiện chính sách XHH rộng rãi, giao cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có đủ điều kiện thực hiện các dịch vụ công để tập trung thực hiện quyền quản lý xã hội.
Như vậy, XHH thực chất là việc huy động, tạo điều kiện và tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của nhân dân, của toàn xã hội cùng với Nhà nước chia sẻ trách nhiệm, đầu tư, phát triển các hoạt động trong một số lĩnh vực cụ thể. Nội hàm của XHH bao gồm:
- Việc cho phép tư nhân tham gia các công việc của Nhà nước nhưng sự tham gia này luôn được đặt trong việc tăng cường trách nhiệm của Nhà nước để bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng nên không phải là tư nhân hóa;
- Sự huy động toàn diện về nhân lực, vật lực, tài chính, trí tuệ, sự phối hợp và chia sẻ của người dân chứ không đơn thuần chỉ là huy động tài chính;
- Nhà nước chuyển giao nhưng không buông lỏng quản lý các hoạt động đã được XHH mà vẫn tiếp tục quan tâm đầu tư, phát triển một cách hiệu quả hơn và duy trì quản lý bằng các công cụ pháp luật, chính sách vĩ mô.
Tóm lại, XHH là việc chuyển giao một phần các công việc từ Nhà nước sang xã hội hoặc thu hút sự tham gia của xã hội vào các quá trình quản lý nhằm phát huy tính tự chủ của xã hội và tăng cường hiệu quả quản lý. Hiện nay, chúng ta đã tiến hành XHH rất nhiều lĩnh vực đạt được kết quả tích cực, nhận được sự ủng hộ của người dân cũng như xã hội như XHH hoạt động giáo dục, XHH hoạt động y tế. Đối với XHH giáo dục, y tế là một tư tưởng chiến lược lớn của Đảng ta đã được thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và cụ thể hóa trong Nghị quyết số 90/CP về “phương hướng và chủ trương XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa” ngày 21 tháng 8 năm 1997 và Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về “đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao” đều nhấn mạnh: XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự nghiệp phát triển, các sự nghiệp đó nhằm từng bước nâng cao mức hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hóa và sự phát triển về thể chất, tinh thần của nhân dân; XHH là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn, là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Ðảng và Nhà nước, không phải là biện pháp tạm thời, chỉ có ý nghĩa tình thế trước mắt do Nhà nước thiếu kinh phí cho các hoạt động này. Chính nhờ chủ trương XHH thành công mà đến nay chúng ta đã có hệ thống giáo dục thống nhất trong toàn quốc với đủ cấp bậc học, trình độ đào tạo cũng như phương thức đào tạo. Đối với y tế, thông qua việc XHH công tác khám chữa bệnh càng giúp ngành y tế phát triển thêm nhiều kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh; tạo điều kiện cho người dân tiếp cận với dịch vụ kỹ thuật cao, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân. Hơn nữa, việc XHH y tế còn thúc đẩy đội ngũ thầy thuốc đổi mới, nâng cao tay nghề.
Còn đối với hoạt động tư pháp, XHH hoạt động công chứng theo Nghị quyết Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02-6-2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020: “Xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp để từng bước XHH công việc này”. Đến nay, 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều có văn phòng công chứng theo chủ trương XHH, cả nước hiện có 2.782 công chứng viên đang hành nghề, qua đó, đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, tin cậy cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh thương mại và góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách hành chính và cải cách tư pháp.
Tiếp nối những thành công của các hoạt động XHH trên, XHHTHADS cũng là một chủ trương được nhắc đến trong các Nghị quyết của Đảng và văn bản pháp luật của Nhà nước. THADS có một ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì bản án, quyết định của Toà án và quyết định của tổ chức khác chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế. THADS là công đoạn cuối cùng của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bảo đảm cho bản án, quyết định dân sự của Toà án và quyết định của tổ chức khác được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân và lợi ích của Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước. Hiến pháp năm 2013 ghi nhận nguyên tắc bảo đảm thi hành các bản án, quyết định của Tòa án: “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” (Điều 106).
Tuy nhiên, muốn tiến hành XHH THADS thì trước hết phải xác định bản chất của hoạt động THADS: Là hoạt động tư pháp; hoạt động hành chính hay là hoạt động hành chính-tư pháp. Bởi nếu như chỉ là hoạt động tư pháp hay hoạt động hành chính đơn thuần thì về lý luận là không thể XHH, không thể chia sẻ quyền xét xử trong tư pháp cũng như bản chất quyền lực – phục tùng của hành chính. Chính vì lẽ đó, yếu tố tư pháp trong hoạt động THADS không chỉ là hoạt động gắn với quyền tư pháp hay là quyền xét xử, mà cần phải hiểu ở phạm vi rộng hơn, đó là hoạt động bảo vệ pháp luật. Hoạt động tư pháp không chỉ là các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án mà còn là các hoạt động luật sư, công chứng, giám định, đấu giá, thống kê tư pháp. Cách tiếp cận tư pháp phạm vi rộng này được thể hiện trong các Nghị quyết về cải cách tư pháp và thông qua cách thức tổ chức bộ máy Nhà nước cùng với các hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước. Nghị quyết số 08-NQ/TW đã tiếp cận “tư pháp”và “công tác tư pháp” với phạm vi từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án (bao gồm THADS và hình sự). Ngoài những hoạt động tư pháp nói trên, Nghị quyết số 08-NQ/TW đề cập đến hoạt động luật sư, công chứng, giám định, thống kê tư pháp với tư cách là các hoạt động bổ trợ tư pháp. Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW đã xác định nhiệm vụ hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp như một hoạt động quan trọng trong công tác tư pháp và hoàn thiện các chế định bổ trợ tư pháp như một hoạt động quan trọng trong cải cách tư pháp. Đồng thời, Nghị quyết 49-NQ/TW xác định hoạt động TPL là một trong những chế định thực hiện XHH.
Các Nghị quyết trên cho thấy, cần phải hiểu bản chất của THADS là hoạt động tư pháp theo nghĩa rộng, là hoạt động bảo vệ pháp luật, duy trì công lý, lẽ phải, công bằng trong xã hội; bản chất của thi hành án là giai đoạn tố tụng, là hoạt động tiếp tục sau giai đoạn xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử. Các quy định cơ bản của thi hành án đều được ghi trong Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), việc thi hành các bản án đều được tiến hành dựa trên nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng. Đồng thời, hoạt động tư pháp trong THADS gắn liền với hoạt động xét xử, mang tính tài sản, độc lập và do cơ quan tư pháp có thẩm quyền tổ chức thực hiện.
Cùng với đó, yếu tố hành chính được thể hiện thông qua bản chất của THADS là dạng hoạt động chấp hành phán quyết của tòa án với các cách thức và biện pháp khác nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, tính chấp hành trong THADS là nhằm đảm bảo cho các quyết định của Tòa án được ghi trong bản án, quyết định được thực thi trong thực tế chứ không phải là ra văn bản áp dụng pháp luật hoặc quyết định có tính điều hành - nét đặc trưng của hoạt động hành chính.
Như vậy, mặc dù có những quan niệm, phạm vi tiếp cận khác nhau nhưng xuất phát từ bản chất của THADS là bảo vệ quyền và các lợi ích hợp pháp của các bên, đương sự được tự do bày tỏ ý chí, sự thỏa thuận hoặc sự định đoạt của mình, cho nên, Nhà nước nên cho phép thành lập và chuyển giao những công việc không nhất thiết phải phải sử dụng quyền lực Nhà nước cho các tổ chức, cá nhân đáp ứng đủ điều kiện thực hiện. Một mặt, giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước, mặt khác, tăng tốc độ và hiệu quả trong việc giải quyết các tranh chấp tư pháp. Bên cạnh đó, XHH công tác THADS còn là yêu cầu bức thiết trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó quyền lực thuộc về Nhân dân; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quản lý nhà nước; tăng cường hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, pháp luật52 nhằm bảo vệ tốt hơn các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong đó, hợp tác về lĩnh vực cải cách, tư pháp, pháp luật là những nội dung đã đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn cần tiếp tục duy trì thực hiện và nâng cao hiệu quả. Việc hợp tác quốc tế nhằm học tập, vận dụng kinh nghiệm về XHH công tác THADS là rất cần thiết.
Trên thế giới, XHHTHADS thông qua mô hình TPL đã là một nghề xuất hiện khá sớm và phát triển mạnh ở các quốc gia Châu Âu - lục địa sau đó du nhập vào nhiều quốc gia, ở hầu khắp các khu vực trên thế giới. Hiện nay có 72 nước là thành viên của Liên minh TPL quốc tế, riêng tại EU, trong số 27 nước thành viên, có 19 thành viên có văn phòng TPL. Pháp là một trong những quốc gia có hệ thống tổ chức TPL lâu đời nhất, phát triển nhất và mang tính chuyên nghiệp nhất. Mô hình TPL Pháp đã được Việt Nam tham khảo và triển khai thực hiện thí điểm, không những thế, các chuyên gia của TPL Pháp đã góp phần quan trọng trong việc bồi dưỡng, đào tạo TPL ở Việt Nam từ khi thí điểm, cho đến khi thực hiện chính thức như hiện nay.
Theo phân tích của các tác giả trên thì khái niệm XHHTHADS bao gồm hai nội dung chính là: là việc Nhà nước chuyển giao cho các cá nhân, tổ chức ngoài Nhà nước thực hiện hoạt động thi hành án và mức độ, phạm vi những công việc nên được chuyển giao. Theo đó, các tác giả đều thống nhất rằng XHH là “chuyển giao” các hoạt động THADS cho các nhân, tổ chức tư nhân thực hiện, còn việc “chuyển giao” như thế nào? Mức độ “chuyển giao” ra sao? “chuyển giao toàn bộ” hay chỉ “chuyển giao một phần” và lộ trình “chuyển giao” các công việc đó thì cần phải có lộ trình phù hợp. Trong giai đoạn hiện nay, khi mà người dân vẫn còn quá quen thuộc với việc THADS là do Nhà nước tổ chức thực hiện, cùng với điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa pháp luật cũng như trình độ dân trí vẫn còn ở mức độ chưa cao thì về phạm vi XHH tạm thời chỉ nên dừng lại ở việc “chuyển giao một phần” công việc THADS cho tư nhân thực hiện. Thêm vào đó, về thời gian “chuyển giao”, chúng ta không nên vội vàng, cần phải có sự chuẩn bị về mọi mặt về kinh tế - xã hội cũng như điều kiện dân trí. Bởi vì, dẫu biết rằng XHHTHADS là một trong những giải pháp quan trọng trong việc cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, qua đó, tăng cường trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức và huy động các nguồn lực cho sự phát triển của xã hội; đồng thời XHHTHADS không phải là sự chia sẻ quyền lực mà là chuyển giao một phần các công việc Nhà nước không nhất phải thực hiện cho tổ chức, cá nhân trong xã hội, là một hướng đi tất yếu, phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế, nhưng nếu như chúng ta XHH vội vàng hoặc bằng mọi cách để XHH thì có thể dẫn đến sụp đổ mô hình XHH. Bên cạnh đó, XHHTHADS không chỉ dừng lại ở việc “từng bước chuyển giao một số công việc về thi hành án” mà còn là việc Nhà nước cho phép các cá nhân, tổ chức tư nhân tham gia vào quá trình XHHTHADS bằng hoạt động cấp phép thành lập các tổ chức, cá nhân thi hành án tư nhân tham gia vào quá trình thi hành án hoặc bổ trợ tư pháp. Chính vì lẽ đó, theo NCS, đến năm 2030, Bộ Tư pháp tổng kết hoạt động của TPL sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị định 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của TPL để từ đó quyết định nên XHH toàn bộ hay một phần hoạt động THADS.
Còn dưới góc độ dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, theo tác giả Trần Thu Hường, Luận án tiến sĩ “hoàn thiện pháp luật về XHH dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở Việt Nam hiện nay” thì cho rằng XHH là quá trình huy động các tổ chức, cá nhân tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp để cùng với Nhà nước nâng cao chất lượng và thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, qua đó góp phần vào việc bảo đảm và thực hiện quyền, lợi ích chính đáng của công dân, bảo vệ pháp luật, duy trì công bằng, công lý trong xã hội.
Như vậy, xã hội hóa THADS dưới góc độ dịch vụ công được hiểu là quá trình huy động, tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của nhân dân và các tổ chức thi hành án tư nhân vào hoạt động cung ứng dịch vụ thi hành án dân sự (tống đạt các văn bản, giấy tờ; xác minh điều kiện thi hành án; tổ chức thi hành các bản án, quyết định trên cơ sở yêu cầu của đương sự;...) trên cơ sở phát huy tính sáng tạo, khả năng đóng góp của mỗi người nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Từ đó có thể rút ra đặc điểm của xã hội hóa THADS dưới góc độ dịch vụ công như sau:
Thứ nhất, xã hội hóa THADS hướng tới hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của công dân, là hoạt động không vụ lợi, không nhắm mục đích lợi nhuận.
THADS là hoạt động rất phức tạp, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên có liên quan, do vậy nếu các đương sự có sự hiểu biết đúng về pháp luật, nhận thức đúng về quyền và nghĩa vụ của họ trong thi hành án dân sự thì họ sẽ tự nguyện thực hiện và việc thi hành án sẽ thuận lợi. Khi tiến hành xã hội hóa, các cá nhân, tổ chức tham gia vào việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giúp người dân nắm rõ được quyền lợi của mình trong việc thụ hưởng dịch vụ trong thi hành án (như xác minh điều kiện thi hành án, yêu cầu định giá, kê biên tài sản, tổng đạt các văn bản, giấy tờ..). Đồng thời, cơ quan thi hành án dân sự, từ chỗ là cơ quan công quyền, độc quyền trong thi hành án thì giờ chuyển sang cơ chế phối hợp thực hiện, hướng tới phục vụ, đáp ứng những yêu cầu hợp pháp và hợp lý của các tổ chức, cá nhân.
Thứ hai, việc xã hội hóa THADS phải đảm bảo sự công bằng trong tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ giữa mọi chủ thể có yêu cầu
Sự công bằng trong việc thụ hưởng dịch vụ giữa các chủ thể có yêu cầu nghĩa là mọi công dân, không phân biệt giàu, nghèo, địa vị cao, thấp, gái, trai... đều có quyền được phục vụ như nhau khi có yêu cầu về cung cấp dịch vụ thi hành án, việc trả phí để được thụ hưởng dịch vụ dựa trên quy định của pháp luật theo nguyên tắc: không ai phải trả nhiều hơn ai để hưởng cùng một dịch vụ được cung cấp như nhau.
Thứ ba, việc cung ứng các dịch vụ trong THADS là trách nhiệm của nhà nước, được thực hiện trên cơ sở pháp luật.
Nhà nước chịu trách nhiệm ban hành các văn bản hướng dẫn việc tổ chức thực hiện việc cung cấp các dịch vụ trong THADS, như xây dựng các mô hình cung ứng dịch vụ, các biểu phí dịch vụ được áp dụng chung, thống nhất đối với các tổ chức, cá nhân thi hành án tư nhân khi tổ chức thi hành án. Việc cung ứng dịch vụ cần phải đảm bảo công bằng và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người dân, thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định liên quan đến xã hội hóa THADS.
Như vậy, XHHTHADS là quá trình xây dựng mô hình tổ chức THADS, huy động, tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của nhân dân và các tổ chức thi hành án tư nhân vào hoạt động cung ứng dịch vụ thi hành án dân sự (tống đạt các văn bản, giấy tờ; xác minh điều kiện thi hành án; tổ chức thi hành các bản án, quyết định trên cơ sở yêu cầu của đương sự...)góp phân nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế khi các tổ chức, cá nhân này đáp ứng được những điều kiện, tiêu chuẩn do pháp luật quy định và chịu sự quản lý của Nhà nước.
1.1.2. Đặc điểm của xã hội hoá thi hành án dân sự
Mô hình XHHTHADS ngoài những đặc trưng của một loại hình dịch vụ công nói chung thì phải phản ánh những đặc điểm riêng của quá trình chuyển giao nhiệm vụ thi hành án gắn với việc bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước từ cơ quan THADS nhà nước sang cho các chủ thể khác ngoài nhà nước. Đó là các đặc điểm:
Thứ nhất, XHHTHADS là việc thành lập các tổ chức THADS tư nhân và tổ chức hỗ trợ thi hành án tư nhân để thực hiện những công việc về THADS mà trước đây vốn chỉ do các cơ quan của Nhà nước thực hiện.
Trên thế giới, tổ chức THADS tư nhân hay còn gọi là TPL là một nghề cung cấp dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tư pháp, bổ trợ tư pháp có lịch sử phát triển lâu đời. Hiện thế giới có 72 nước là thành viên của Liên minh TPL quốc tế. Riêng tại EU, trong số 27 nước thành viên, có 19 thành viên có văn phòng TPL. Trong đó, Pháp là một trong những quốc gia có hệ thống tổ chức TPL lâu đời nhất, phát triển nhất và mang tính chuyên nghiệp nhất, và tại Pháp, TPL là một nghề độc lập do Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm. Họ tự quản lý và điều hành doanh nghiệp riêng của mình theo cách giám đốc điều hành công ty, thuê một số lượng lớn nhân viên có trình độ, có văn phòng hiện đại, máy tính và các thiết bị giao tiếp. TPL do Nhà nước bổ nhiệm, nhưng thực hiện công việc theo sự triệu dụng của người dân, thu phí từ hoạt động của mình, đồng thời đem lại một khoản thuế lớn cho Nhà nước, mà Nhà nước không phải tốn chi phí để duy trì hoạt động của TPL58. Cùng với sự phát triển của TPL ở Pháp, các nước châu Âu như Anh, xứ Wales, Bỉ, Hà Lan, Scotland, Hy Lạp, Luxembour, các TPL luôn có quy chế hành nghề độc lập.
Có thể thấy, ở các nước trên thế giới, hoạt động THADS là do một tổ chức tư nhân (TPL) đảm nhận, hoạt động tự do, độc lập Nhà nước không phải tốn chi phí để trả lương cho TPL và trang bị các phương tiên, thiết bị, xây dựng trụ sở, văn phòng… duy trì hoạt động của TPL.
Tại Việt Nam, trước khi tiến hành XHHTHADS, với quan niệm Nhà nước có sức mạnh cưỡng chế thông qua việc nắm quyền xét xử, có lực lượng cảnh sát, trại giam nên có trách nhiệm, có quyền lực nắm toàn bộ công tác thi hành án, cũng vì có sức mạnh, có nguồn lực nên việc tổ chức thi hành án do Nhà nước thực hiện sẽ hiệu quả hơn. Việc thi hành án là lĩnh vực thuộc “quyền lực Nhà nước”, do đó không dễ bị chia sẻ với các chủ thể khác trong xã hội. Hoạt động THADS vừa là trách nhiệm, vừa là quyền trong tổ chức thực thi quyền lực Nhà nước, phản ánh sức mạnh và biểu tượng của Nhà nước trước xã hội. Chính vì lẽ đó, khi chưa tiến hành XHH, trong quá trình tổ chức thi hành một vụ án cụ thể, Cơ quan THADS và CHV là những chủ thể hoạt động và hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước nên phải tự mình thực hiện toàn bộ các công việc (mặc dù trong số đó, có những công việc không nhất thiết CHV phải đích thân thực hiện, chẳng hạn như tống đạt giấy tờ, hòa giải…), ngân sách Nhà nước chi trả cho toàn bộ các hoạt động đó. Nhưng từ khi có chủ trương XHH, với việc thành lập các tổ chức thi hành án tư nhân và trao một số hoạt động trước đây do Nhà nước trực tiếp thực hiện cho các tổ chức này đã góp phần không nhỏ trong việc làm giảm bớt gánh nặng của Nhà nước.
XHHTHADS với việc thành lập các tổ chức thi hành án tư nhân, đồng thời chuyển giao một phần nhiệm vụ THADS từ Nhà nước cho các chủ thể trong xã hội thực hiện, qua đó sẽ khắc phục sự quá tải của bộ máy Nhà nước; giải phóng Nhà nước khỏi các công việc cụ thể để tập trung thực hiện hoạt động quản lý. Đồng thời, tạo điều kiện để các chủ thể trong xã hội có cơ hội thực hiện quyền tự định đoạt ngoài phạm vi quyền lực Nhà nước, góp phần giảm tải công việc và giảm chi phí từ ngân sách Nhà nước. Đặc biệt, XHHTHADS sự còn là một trong những hoạt động quan trọng góp phần đắc lực thực hiện tinh giảm biên chế, cải cách hành chính, tổ chức bộ máy Nhà nước hiện nay.
Theo: Nguyễn Thị Tuyền
Link luận án:
https://docs.google.com/document/d/1o8ol9cRXHH06CrKDNCNrzIavPSRrtbvF/edit?rtpof=tru