0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64ad7e190d592-CƠ-SỞ-KHOA-HỌC-CỦA-VIỆC-QUY-ĐỊNH-VỀ-XÃ-HỘI-HOÁ-THI-HÀNH-ÁN-DÂN-SỰ.jpg.webp

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ XÃ HỘI HOÁ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

 

1.1.1.  Việc xây dựng các quy định về xã hội hoá thi hành án dân sự dựa trên cơ sở lý luận về nghĩa vụ dân sự

Về phương diện lý luận, theo học giả Vũ Văn Mẫu “nghĩa vụ là một mối liên hệ pháp lý giữa hai người, nhờ đó một người là trái chủ (hay chủ nợ) có quyền đòi người kia phụ trái (hay con nợ) phải thi hành một cung khoản có thể trị giá bằng tiền”. Cung khoản (une prestation) này có thể quan niệm dưới ba hình thức: Một nghĩa vụ chuyển hữu, có mục đích bắt buộc người phụ trái phải chuyển dịch một quyền sở hữu hay một quyền đối với vật nào khác; cũng có thể là một nghĩa vụ tác động hay hành sự nghĩa là một nghĩa vụ phải làm; còn có thể là một nghĩa vụ bất tác động hay bất hành sự. Phát sinh ra nghĩa vụ có thể nói rằng có hai nguồn gốc: các nghĩa vụ khế ước do ý muốn của các đương sự kết lập dưới các hình thức khế ước hay hợp ước và các nghĩa vụ ngoại khế ước được phát sinh ra ngoài ý muốn của trái chủ cũng như người phụ trái như trong các trường hợp trách nhiệm dân sự 

Tòa án là cơ quan bảo vệ công lý, căn cứ vào pháp luật của quốc gia để xác định và phán xử về quyền lợi, nghĩa vụ dân sự của các chủ thể trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Thông qua phán quyết của Tòa án các quyền lợi, nghĩa vụ dân sự của chủ thể được luật pháp ghi nhận đã trở nên có hiệu lực cưỡng chế và bên có nghĩa vụ có trách nhiệm phải thực thi phán quyết của Tòa án. Bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án là một nội dung quan trọng của hoạt động Nhà nước. Đặc biệt, trong Nhà nước pháp quyền XHCN thì vai trò pháp chế luôn được đề cao, pháp luật được đảm bảo thực hiện. Pháp chế đòi hỏi phải chấp hành nghiêm chỉnh các phán quyết nhân danh công lý mà Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền đã tuyên. Thông qua việc thi hành những bản án, quyết định của Tòa án quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân được bảo vệ, công bằng xã hội được bảo đảm, công lý được thực thi trên thực tế, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế XHCN, tăng cường hiệu lực hiệu quả của bộ máy Nhà nước. Việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án kém hiệu quả sẽ làm vô hiệu hóa toàn bộ hoạt động của các cơ quan tố tụng ở giai đoạn trước, gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào tính nghiêm minh của pháp luật. Do đó, để bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án cần phải xây dựng một hệ thống quy phạm pháp luật để tổ chức THADS đến cùng nếu đương sự không tự nguyện thi hành án. XHHTHADS với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân THA tư nhân (TPL) vào quá trình THA, một mặt có tính chất là một loại dịch vụ công được cung cấp theo yêu cầu để đáp ứng quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mặt khác lại có tính bắt buộc, có tính cưỡng chế do Nhà nước bảo đảm. Chính đặc điểm này làm cho dịch vụ thi hành án do TPL cung cấp khác hẳn với các dịch vụ pháp lý khác như tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, hòa giải…Nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực thì chấp hành viên/TPL có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật.

1.1.2.   Bảo đảm hiệu lực thi hành của bản án, quyết định dân sự

THADS là hoạt động phức tạp, việc thi hành án còn tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của người phải thi hành án, chính vì lẽ đó, muốn thi hành án được tiến hành thuận lợi thì đòi hỏi người thi hành án phải nhận thức đúng đắn về quyền, nghĩa vụ thi hành án, từ đó tích cực phối hợp trong quá trình thi hành án. Trong khi đó, THADS là việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự đã được ghi nhận trong bản án, quyết định; là hoạt động nhằm bảo vệ tư quyền69, hơn nữa, hoạt động THADS còn mang dấu hiệu của hoạt động hành chính - tư pháp, nên tính chất cá biệt hóa của nó rất cao. Vì vậy, việc Nhà nước không cần thiết phải tham dự vào một công việc mang tính “tư”70, mà giao cho một chủ thể ngoài Nhà nước hỗ trợ, tổ chức cho các bên thực hiện theo bản án là hợp lý và hợp logic. Chính vì lẽ đó, XHHTHADS giúp giảm tải công việc cho Tòa án, Cơ quan THADS, góp phần tôn vinh hoạt động tư pháp, đặc biệt là Tòa án đồng thời bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án phải thi hành trên thực tế. Tính đến thời điểm hiện nay, việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án về cơ bản vẫn là thuộc trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước mà cụ thể là các CQTHADS. Việc thi hành án do các cơ quan Nhà nước thực hiện bên cạnh những ưu điểm của nó cũng tồn tại những hạn chế, dẫn tới quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án không được bảo đảm, việc thi hành án bị kéo dài ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Để khắc phục tình trạng trên, đồng thời khuyến khích việc tự thi hành án từ phía người phải thi hành án và người được thi hành án thì cần phải thiết lập được một cơ chế phù hợp để đảm bảo hài hoà giữa lợi ích của người được thi hành án và lợi ích của những người làm “dịch vụ công” trong thi hành án nhằm nâng cao hiệu quả của công tác THADS. XHHTHADS là chuyển giao một số nhiệm vụ, quyền hạn trước đây thuộc về trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc thi hành các bản án, quyết định sang cho cá nhân, tổ chức tư nhân thực hiện như là một “dịch vụ công” trong thi hành án, qua đó, thúc đẩy quá trình THADS, giảm bớt gánh nặng cho cơ quan thi hành án, nâng cao hiệu quả trong THADS. XHHTHADS với việc xuất hiện các tổ chức thi hành án tư nhân có chức năng thi hành án đã góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong đời sống dân sự, trong quan hệ với cơ quan Nhà nước và trong các quá trình tố tụng, giúp giảm tải công việc cho cơ quan THADS và Tòa án, tạo điều kiện để hoạt động tư pháp đúng pháp luật, nhanh hơn, hiệu quả hơn. Ngoài ra, XHHTHADS còn nhằm nâng cao trách nhiệm, tạo điều kiện cho người dân, xã hội tham gia vào hoạt động tư pháp, người dân có quyền lựa chọn tổ chức thi hành án cho mình, việc cạnh tranh sẽ làm tăng chất lượng dịch vụ, các cơ quan THADS của Nhà nước sẽ có động lực đổi mới phong cách, lề lối làm việc, khắc phục quan liêu, sách nhiễu, tiêu cực trong thi hành án.

1.1.3.   Bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong thi hành án dân sự

Quyền con người bao giờ và ở đâu cũng luôn là sản phẩm của một trình độ phát triển xã hội nhất định. Nhân quyền không phải là bẩm sinh mà là sản sinh trong lịch sử”71. Ngày nay, khoa học pháp lý phát triển đã cho chúng ta nhiều căn cứ để hiểu khái niệm quyền con người đầy đủ hơn trong sự vận động biện chứng của lịch sử. “Quyền con người là cái có trước và Nhà nước với công cụ của nó là pháp luật chỉ làm nhiệm vụ ghi nhận và bảo vệ. Quyền bình đẳng tuyệt đối chứ không phải là sự ban phát hay có thể xin cho từ phía Nhà nước mà chỉ là ghi nhận, đảm bảo thực hiện và bảo vệ khi nó bị xâm phạm”72. Do đó, có thể nói không có pháp luật thì không có quyền. Quyền con người trước hết phải được ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật của mỗi quốc gia nói riêng, pháp luật quốc tế nói chung. Để bảo đảm quyền con người và cả quyền công dân thì trách nhiệm trước hết và chủ yếu là từ Nhà nước. Nhà nước cần thực hiện các biện pháp về thể chế lập pháp, hành pháp, tư pháp,… nhằm thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy quyền con người trong thực tế.

Điều 7, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào”. Để bảo vệ quyền con người thì Nhà nước phải xây dựng được hệ thống pháp luật tạo ra sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ cho tất cả công dân.

So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp mới có những sửa đổi, bổ sung và phát triển quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Theo đó, Hiến pháp đã khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính chị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật”(Điều 14) quy định này thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp, bởi vì Hiến pháp năm 1992 chỉ ghi nhận quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được thể hiện trong quyền công dân. Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung nguyên tắc hạn chế quyền phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Đó là “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng” (Điều 14). Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 khẳng định trách nhiệm của Nhà nước là công nhận bằng hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân bằng việc tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả.

Theo: Nguyễn Thị Tuyền

Link luận án: 

https://docs.google.com/document/d/1o8ol9cRXHH06CrKDNCNrzIavPSRrtbvF/edit?rtpof=true

avatar
Đặng Quỳnh
974 ngày trước
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ XÃ HỘI HOÁ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
 1.1.1.  Việc xây dựng các quy định về xã hội hoá thi hành án dân sự dựa trên cơ sở lý luận về nghĩa vụ dân sựVề phương diện lý luận, theo học giả Vũ Văn Mẫu “nghĩa vụ là một mối liên hệ pháp lý giữa hai người, nhờ đó một người là trái chủ (hay chủ nợ) có quyền đòi người kia phụ trái (hay con nợ) phải thi hành một cung khoản có thể trị giá bằng tiền”. Cung khoản (une prestation) này có thể quan niệm dưới ba hình thức: Một nghĩa vụ chuyển hữu, có mục đích bắt buộc người phụ trái phải chuyển dịch một quyền sở hữu hay một quyền đối với vật nào khác; cũng có thể là một nghĩa vụ tác động hay hành sự nghĩa là một nghĩa vụ phải làm; còn có thể là một nghĩa vụ bất tác động hay bất hành sự. Phát sinh ra nghĩa vụ có thể nói rằng có hai nguồn gốc: các nghĩa vụ khế ước do ý muốn của các đương sự kết lập dưới các hình thức khế ước hay hợp ước và các nghĩa vụ ngoại khế ước được phát sinh ra ngoài ý muốn của trái chủ cũng như người phụ trái như trong các trường hợp trách nhiệm dân sự Tòa án là cơ quan bảo vệ công lý, căn cứ vào pháp luật của quốc gia để xác định và phán xử về quyền lợi, nghĩa vụ dân sự của các chủ thể trong quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Thông qua phán quyết của Tòa án các quyền lợi, nghĩa vụ dân sự của chủ thể được luật pháp ghi nhận đã trở nên có hiệu lực cưỡng chế và bên có nghĩa vụ có trách nhiệm phải thực thi phán quyết của Tòa án. Bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án là một nội dung quan trọng của hoạt động Nhà nước. Đặc biệt, trong Nhà nước pháp quyền XHCN thì vai trò pháp chế luôn được đề cao, pháp luật được đảm bảo thực hiện. Pháp chế đòi hỏi phải chấp hành nghiêm chỉnh các phán quyết nhân danh công lý mà Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền đã tuyên. Thông qua việc thi hành những bản án, quyết định của Tòa án quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân được bảo vệ, công bằng xã hội được bảo đảm, công lý được thực thi trên thực tế, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế XHCN, tăng cường hiệu lực hiệu quả của bộ máy Nhà nước. Việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án kém hiệu quả sẽ làm vô hiệu hóa toàn bộ hoạt động của các cơ quan tố tụng ở giai đoạn trước, gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào tính nghiêm minh của pháp luật. Do đó, để bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án cần phải xây dựng một hệ thống quy phạm pháp luật để tổ chức THADS đến cùng nếu đương sự không tự nguyện thi hành án. XHHTHADS với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân THA tư nhân (TPL) vào quá trình THA, một mặt có tính chất là một loại dịch vụ công được cung cấp theo yêu cầu để đáp ứng quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, mặt khác lại có tính bắt buộc, có tính cưỡng chế do Nhà nước bảo đảm. Chính đặc điểm này làm cho dịch vụ thi hành án do TPL cung cấp khác hẳn với các dịch vụ pháp lý khác như tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, hòa giải…Nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực thì chấp hành viên/TPL có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật.1.1.2.   Bảo đảm hiệu lực thi hành của bản án, quyết định dân sựTHADS là hoạt động phức tạp, việc thi hành án còn tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của người phải thi hành án, chính vì lẽ đó, muốn thi hành án được tiến hành thuận lợi thì đòi hỏi người thi hành án phải nhận thức đúng đắn về quyền, nghĩa vụ thi hành án, từ đó tích cực phối hợp trong quá trình thi hành án. Trong khi đó, THADS là việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự đã được ghi nhận trong bản án, quyết định; là hoạt động nhằm bảo vệ tư quyền69, hơn nữa, hoạt động THADS còn mang dấu hiệu của hoạt động hành chính - tư pháp, nên tính chất cá biệt hóa của nó rất cao. Vì vậy, việc Nhà nước không cần thiết phải tham dự vào một công việc mang tính “tư”70, mà giao cho một chủ thể ngoài Nhà nước hỗ trợ, tổ chức cho các bên thực hiện theo bản án là hợp lý và hợp logic. Chính vì lẽ đó, XHHTHADS giúp giảm tải công việc cho Tòa án, Cơ quan THADS, góp phần tôn vinh hoạt động tư pháp, đặc biệt là Tòa án đồng thời bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án phải thi hành trên thực tế. Tính đến thời điểm hiện nay, việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án về cơ bản vẫn là thuộc trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước mà cụ thể là các CQTHADS. Việc thi hành án do các cơ quan Nhà nước thực hiện bên cạnh những ưu điểm của nó cũng tồn tại những hạn chế, dẫn tới quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án không được bảo đảm, việc thi hành án bị kéo dài ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Để khắc phục tình trạng trên, đồng thời khuyến khích việc tự thi hành án từ phía người phải thi hành án và người được thi hành án thì cần phải thiết lập được một cơ chế phù hợp để đảm bảo hài hoà giữa lợi ích của người được thi hành án và lợi ích của những người làm “dịch vụ công” trong thi hành án nhằm nâng cao hiệu quả của công tác THADS. XHHTHADS là chuyển giao một số nhiệm vụ, quyền hạn trước đây thuộc về trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc thi hành các bản án, quyết định sang cho cá nhân, tổ chức tư nhân thực hiện như là một “dịch vụ công” trong thi hành án, qua đó, thúc đẩy quá trình THADS, giảm bớt gánh nặng cho cơ quan thi hành án, nâng cao hiệu quả trong THADS. XHHTHADS với việc xuất hiện các tổ chức thi hành án tư nhân có chức năng thi hành án đã góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong đời sống dân sự, trong quan hệ với cơ quan Nhà nước và trong các quá trình tố tụng, giúp giảm tải công việc cho cơ quan THADS và Tòa án, tạo điều kiện để hoạt động tư pháp đúng pháp luật, nhanh hơn, hiệu quả hơn. Ngoài ra, XHHTHADS còn nhằm nâng cao trách nhiệm, tạo điều kiện cho người dân, xã hội tham gia vào hoạt động tư pháp, người dân có quyền lựa chọn tổ chức thi hành án cho mình, việc cạnh tranh sẽ làm tăng chất lượng dịch vụ, các cơ quan THADS của Nhà nước sẽ có động lực đổi mới phong cách, lề lối làm việc, khắc phục quan liêu, sách nhiễu, tiêu cực trong thi hành án.1.1.3.   Bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong thi hành án dân sựQuyền con người bao giờ và ở đâu cũng luôn là sản phẩm của một trình độ phát triển xã hội nhất định. Nhân quyền không phải là bẩm sinh mà là sản sinh trong lịch sử”71. Ngày nay, khoa học pháp lý phát triển đã cho chúng ta nhiều căn cứ để hiểu khái niệm quyền con người đầy đủ hơn trong sự vận động biện chứng của lịch sử. “Quyền con người là cái có trước và Nhà nước với công cụ của nó là pháp luật chỉ làm nhiệm vụ ghi nhận và bảo vệ. Quyền bình đẳng tuyệt đối chứ không phải là sự ban phát hay có thể xin cho từ phía Nhà nước mà chỉ là ghi nhận, đảm bảo thực hiện và bảo vệ khi nó bị xâm phạm”72. Do đó, có thể nói không có pháp luật thì không có quyền. Quyền con người trước hết phải được ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật của mỗi quốc gia nói riêng, pháp luật quốc tế nói chung. Để bảo đảm quyền con người và cả quyền công dân thì trách nhiệm trước hết và chủ yếu là từ Nhà nước. Nhà nước cần thực hiện các biện pháp về thể chế lập pháp, hành pháp, tư pháp,… nhằm thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy quyền con người trong thực tế.Điều 7, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt nào”. Để bảo vệ quyền con người thì Nhà nước phải xây dựng được hệ thống pháp luật tạo ra sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ cho tất cả công dân.So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp mới có những sửa đổi, bổ sung và phát triển quan trọng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Theo đó, Hiến pháp đã khẳng định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính chị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật”(Điều 14) quy định này thể hiện sự phát triển quan trọng về nhận thức và tư duy trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp, bởi vì Hiến pháp năm 1992 chỉ ghi nhận quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được thể hiện trong quyền công dân. Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung nguyên tắc hạn chế quyền phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Đó là “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng” (Điều 14). Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 khẳng định trách nhiệm của Nhà nước là công nhận bằng hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân bằng việc tổ chức thi hành pháp luật hiệu quả.Theo: Nguyễn Thị TuyềnLink luận án: https://docs.google.com/document/d/1o8ol9cRXHH06CrKDNCNrzIavPSRrtbvF/edit?rtpof=true