THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XÃ HỘI HOÁ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
2.1. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XÃ HỘI HOÁ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
2.1.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về xã hội hoá tổ chức thi hành án dân sự
Chế định TPL đã từng tồn tại ở Việt Nam thời kỳ trước năm 1950 và tiếp tục ở Miền Nam cho đến năm 1975, với nhiệm vụ chủ yếu là hỗ trợ hoạt động tố tụng và THADS. Qua kết quả nhiều năm nghiên cứu, chế định này đã được xác định là một trong những nội dung cần được thí điểm nhằm tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện thể chế về tố tụng và THADS. Thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: “Nghiên cứu chế định TPL (thừa hành viên); trước mắt có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”; Nghị quyết số 24/2008/QH12 của Quốc hội về thi hành Luật THADS (sau đây gọi là Nghị quyết số 24/2008/QH12), Nghị quyết số 36/2012/QH13 về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định TPL, từ năm 2010 chế định này được thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và tiếp đó là 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đến hết ngày 31/12/2015, và tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm, báo cáo để Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp cuối năm 2015.
Thực hiện Nghị quyết số 24/2008/QH12 về thi hành Luật THADS, Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp phối hợp với Thành ủy, UBND thành phố Hồ Chí Minh và các Bộ, Ngành có liên quan triển khai thực hiện thí điểm chế định TPL trên địa bàn Thành phố. Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối hợp với TANDTC, VKSND, UBND TP Hồ Chí Minh và một số cơ quan liên quan xây dựng Đề án “Thực hiện thí điểm chế định TPL tại thành phố Hồ Chí Minh”. Đề án được xây dựng dựa trên việc nghiên cứu tiếp thu các yếu tố hợp lý của chế định TPL đã từng tồn tại ở Việt Nam thời kỳ trước năm 1950 và tiếp tục ở Miền Nam cho đến năm 1975, đồng thời có sự điều chỉnh, bổ sung các nội dung mới phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và yêu cầu CCTP, cải cách hành chính hiện nay ở nước ta.
Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 224/QĐ- TTg ngày 19/02/2009, theo đó, TPL là người có đủ các tiêu chuẩn do pháp luật quy định, được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về THADS bao gồm: xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp thi hành bản án, quyết định theo yêu cầu của đương sự); tống đạt giấy tờ của Toà án và của Cơ quan THADS cho đương sự; lập vi bằng (ghi nhận sự kiện, hành vi được dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác) và làm các công việc khác theo quy định của pháp luật có liên quan. TPL hành nghề thông qua hình thức Văn phòng TPL. Đồng thời, để tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của TPL thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh (Nghị định số 135/2013/NĐ-CP). Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng, ban hành 03 Thông tư để hướng dẫn, triển khai thực hiện chế định TPL. Có thể nói, đây là những văn bản quy phạm pháp luật ghi nhận lần đầu tiên kể từ năm 1975 một chủ thể ngoài Nhà nước được tham gia vào quá trình thi hành án bên cạnh đội ngũ CHV của Cơ quan THADS.
Theo đó, mô hình TPL trong giai đoạn này được tổ chức theo quy định tại Nghị định số 135/2013/NĐ-CP: TPL là người có các tiêu chuẩn, được Nhà nước bổ nhiệm và trao quyền để làm các công việc theo quy định của pháp luật; Về tiêu chuẩn bổ nhiệm TPL: Là công dân Việt Nam, có sức khỏe, có phẩm chất đạo đức tốt; Không có tiền án; Có bằng cử nhân luật; Đã công tác trong ngành pháp luật trên 05 năm hoặc đã từng là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư; CHV, Công chứng viên, Điều tra viên từ Trung cấp trở lên; Có chứng chỉ hoàn thành lớp tập huấn về nghề TPL do Bộ Tư pháp tổ chức; không kiêm nhiệm hành nghề Công chứng, Luật sư và những công việc khác theo quy định của pháp luật.
Về tổ chức bộ máy hoạt động của văn phòng TPL, theo quy định của Điều 15 Nghị định số 61/2009/NĐ–CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh (Nghị định 61/2009/NĐ-CP) và Điều 5 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP quy định về tổ chức của các văn phòng TPL phải đáp ứng các quy định về tên gọi “phải bao gồm cụm từ “Văn phòng TPL” và phần tên riêng liền sau”; Về cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành, chế độ tài chính của phòng “thực hiện theo quy định của Nghị định 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP, trong trường hợp Nghị định không quy định thì áp dụng quy định của Luật Doanh nghiệp”.
Mặc dù mới được thành lập, tổ chức và hoạt động của mô hình TPL trong giai đoạn này cũng đã đạt được một số kết quá khá khả quan, là bước đi quan trọng cho một hướng cải cách lâu dài nhằm góp phần xây dựng bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả như mục tiêu của CCTP đã đặt ra. Tuy nhiên, vì là giai đoạn thí điểm cho nên tổ chức TPL trong quá trình triển khai đã gặp không ít những khó khăn, đó là: Đội ngũ TPL chủ yếu được tận dụng từ nguồn nhân lực sẵn có, chưa có thời gian đào tạo bài bản mà chỉ được bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng nghề TPL nên trong quá trình thực hiện hoạt động được giao đã xảy ra không ít sai sót; Đội ngũ TPL, thư ký và nhân viên giúp việc tại các Văn phòng vẫn còn thiếu về số lượng, chất lượng chưa đồng đều, còn những trường hợp thiếu kỹ năng, kinh nghiệm trong giải quyết công việc hoặc có trường hợp chưa đáp ứng yêu cầu về năng lực công tác. Những khó khăn này có nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến một số nguyên nhân cơ bản như sau:
Về mặt pháp luật: Do đang trong giai đoạn thí điểm, nên các văn bản ban hành còn thiếu và chồng chéo; chậm xây dựng và hoàn thiện thể chế về tổ chức và hoạt động của TPL, trong suốt thời kỳ thí điểm, TPL vẫn chỉ hoạt động trong khung pháp lý là Nghị định số 61/2009/NĐ-CP. Thậm chí, sau 06 năm triển khai thí điểm và Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 107/2015/QH13 chấm dứt việc thực hiện thí điểm, cho thực hiện chế định TPL trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01/01/2016 nhưng mãi đến năm 2020 mới ban hành Nghị định về tổ chức và hoạt động của TPL94 gây khó khăn không nhỏ cho việc triển khai mô hình này trong thực tế.
Về mặt tâm lý: Người dân còn e ngại, chưa thật sự tin tưởng đối với một số công việc do TPL thực hiện. Bởi vì TPL mới được thí điểm trong thời gian ngắn, người dân còn chưa quen với việc tồn tại của một tổ chức cũng có chức năng thi hành án như Cơ quan THADS Nhà nước, cho nên, người dân còn chưa mạnh dạn sử dụng các dịch vụ do TPL cung cấp. Thậm chí, các cơ quan Nhà nước có liên quan, kể cả Cơ quan THADS, Tòa án cũng chưa hoàn toàn tin tưởng cũng như phối hợp cùng TPL trong quá trình thi hành án.
Các kết quả bước đầu sau 06 năm thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và 3 năm thí điểm mở rộng tại 12 tỉnh/thành phố khác như phân tích ở trên cho thấy khả năng của các nguồn lực xã hội có thể huy động để đảm nhiệm những chức năng vốn “độc quyền” của Nhà nước (tống đạt văn bản, giấy tờ tư pháp; thi hành án), đồng thời góp phần giảm tải công việc của bộ máy cơ quan nhà nước liên quan (Tòa án, THADS). Đồng thời, để khắc phục những hạn chế, bất cập trên, ngày 08 tháng 01 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của TPL (Nghị định 08/2020/NĐ-CP). Nghị định này có nhiểu điểm mới và chính thức có hiệu lực từ ngày 24 tháng 2 năm 2020, thay thế các nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 135/2013/NĐ-CP. Theo đó, mô hình tổ chức TPL được tổ chức dưới hình thức Doanh nghiệp tư nhân hoặc Công ty Hợp danh95; Tiêu chuẩn bổ nhiệm TPL được quy định tại Điều 6 Nghị định 08/2020/NĐ-CP, gồm 5 tiêu chuẩn: (i) Là công dân Việt Nam không quá 65 tuổi, thường trú tại Việt Nam, chấp hành tốt Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt; (ii) Có bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật; (iii) Có thời gian công tác pháp luật từ 03 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật,
(iv) Tốt nghiệp khóa đào tạo, được công nhận tương đương đào tạo hoặc hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề TPL quy định tại Điều 7 của Nghị định này và (v) Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề TPL.
Theo: Nguyễn Thị Tuyền
Link luận án:
https://docs.google.com/document/d/1o8ol9cRXHH06CrKDNCNrzIavPSRrtbvF/edit?rtpof=true