0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64aed098b04b3-ĐÁNH-GIÁ-CHÍNH-SÁCH-THUẾ-NHÀ-Ở,-ĐẤT-Ở-TẠI-VIỆT-NAM.jpg.webp

ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH THUẾ NHÀ Ở, ĐẤT Ở TẠI VIỆT NAM

2.3.  Đánh giá chính sách thuế nhà ở, đất ở

2.3.1.   Đánh giá chung về chính sách thuế nhà ở, đất ở theo tiêu chí đánh giá chính sách

Xuất phát từ quy trình đánh giá chính sách thuế nhà ở, đất ở cùng với các số liệu tác giả thu thập và số liệu điều tra có thể đánh giá tổng quát về chính sách thuế nhà ở, đất ở trong giai đoạn vừa qua như sau:

- Tính phù hợp: các mục tiêu của chính sách thuế nhà ở, đất ở nằm trong một hệ thống thống nhất có liên quan chặt chẽ với nhau, các mục tiêu cấp thấp là phương tiện để đạt được mục tiêu cấp cao hơn. Đối với chính sách thuế nhà ở, đất ở, bước đầu đã đảm bảo được sự phù hợp giữa các cấp bậc mục tiêu khác nhau, cũng như sự phù hợp ngay trong các mục tiêu cùng cấp. Thêm vào đó, chính sách thuế nhà ở, đất ở hiện nay cũng đã có những sửa đổi đáng kể để phù hợp với các chính sách thuế khác, cũng như phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế.

- Tính hiệu lực của chính sách: tính hiệu lực của chính sách là so sánh giữa mục tiêu của chính sách và sự thực hiện. Mục tiêu tổng thể của chính sách thuế nhà ở, đất ở là đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo nguồn thu cho NSNN và điều tiết vĩ mô nền kinh tế- xã hội, từ đây, chúng ta có thể đi vào xem xét việc thực hiện các mục tiêu của chính sách đề ra:

Một là, về mục tiêu đảm bảo nguồn thu cho NSNN. Thực tế, trong thời gian qua số thu từ các chính sách thuế nhà ở, đất đã đáp ứng được một phần nhu cầu về nguồn thu cho NSNN, nhất là ngân sách địa phương. Số liệu về số thu của chính sách thuế nhà ở, đất ở trong các năm từ 2005 đến 2011 ở Bảng 2.9 phần nào thể hiện được điều đó. Cũng theo Bảng 2.9, chúng ta thấy cả số thu thực hiện từ lệ phí trước bạ đối với nhà ở, đất ở và số thu từ thuế sử dụng đất ở trong các năm vừa qua đều vượt kế hoạch đề ra từ 3% đến 18%: đối với lệ phí trước bạ nhà ở, đất ở, năm 2007 có mức vượt kế hoạch cao nhất là 18%, năm 2009 vượt kế hoạch thấp nhất là 3%; còn đối với thu từ thuế sử dụng đất ở năm 2008 có mức vượt kế hoạch cao nhất là 12%, năm 2005 và năm 2007 vượt kế hoạch thấp nhất là 3%.

Như vậy, có thể thấy tính hiệu lực của chính sách thuế nhà ở, đất ở hiện nay không cao, và điều này muốn nói mục tiêu của chính sách chưa được thực hiện đầy đủ, nên trong thời gian tới cần có những giải pháp để tăng cường việc đạt mục tiêu của chính sách thuế nhà ở, đất ở, nhất là đối với những mục tiêu hiện nay chưa thực hiện được, hoặc thực hiện nhưng ở mức thấp.

- Tính hiệu quả của chính sách, đây chính là việc so sánh giữa đầu ra với đầu vào của chính sách. Có thể nói hiệu quả của chính sách nhà ở, đất ở hiện này chưa cao, điều này có thể được minh chứng như sau:

Một là, chính sách chưa bao quát hết các khả năng có thể đánh thuế. Chưa có sắc thuế đánh một lần vào quá trình tạo dựng, đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản một cách đầy đủ, rõ ràng. Mặc dù lệ phí trước bạ đã đánh vào việc đăng ký quyền sở hữu một số tài sản Nhà nước cần quản lý nhưng khoản thu này còn chưa phân định được tính chất thuế và tính chất lệ phí. Các sắc thuế đánh hàng năm chưa điều tiết đầy đủ đối với các tài sản có giá trị lớn. Hiện tại chỉ mới điều tiết đối với tài sản là quyền sử dụng đất dưới hình thức thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và thuế sử dụng đất nông nghiệp. Những tài sản có giá trị lớn khác như nhà, vật kiến trúc trên đất và các tài sản khác chưa được điều tiết hàng năm.

Hai là, số thu về thuế, như đã trình bày ở trên nhìn chung còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của chính sách. Hơn nữa, các chi phí hành chính, chi phí cho quá trình tổ chức thu còn rất lớn, nhiều khi lãng phí.

Ba là, chính sách thuế được ban hành và đưa vào thực thi, nhưng các đối tượng nộp thuế nhiều khi không biết hoặc không nắm rõ về chính sách đó, điều này được thể hiện rõ qua kết quả điều tra đối với đối tượng nộp thuế, xem Bảng 2.13.

Theo như kết quả điều tra trên, chúng ta thấy trong 4 câu hỏi thì có 2 câu người được hỏi trả lời gần như không biết về nội dung chính sách (giá trị trung bình của câu 2.6 là 0,28, câu 2.7 là 0,39), 2 câu còn lại mặc dù có sự quan tâm hơn, nhưng mức độ cũng rất thấp (tỷ lệ trả lời có hiểu biết về chính sách chỉ hơn 50%).

Theo: Phạm Văn Bình

Link luận án: 

https://docs.google.com/document/d/1mvKIPJ-0Zzb_BmCvWuD0sqzoBbhDgIAx/edit?rtpof=true

avatar
Đặng Quỳnh
975 ngày trước
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH THUẾ NHÀ Ở, ĐẤT Ở TẠI VIỆT NAM
2.3.  Đánh giá chính sách thuế nhà ở, đất ở2.3.1.   Đánh giá chung về chính sách thuế nhà ở, đất ở theo tiêu chí đánh giá chính sáchXuất phát từ quy trình đánh giá chính sách thuế nhà ở, đất ở cùng với các số liệu tác giả thu thập và số liệu điều tra có thể đánh giá tổng quát về chính sách thuế nhà ở, đất ở trong giai đoạn vừa qua như sau:- Tính phù hợp: các mục tiêu của chính sách thuế nhà ở, đất ở nằm trong một hệ thống thống nhất có liên quan chặt chẽ với nhau, các mục tiêu cấp thấp là phương tiện để đạt được mục tiêu cấp cao hơn. Đối với chính sách thuế nhà ở, đất ở, bước đầu đã đảm bảo được sự phù hợp giữa các cấp bậc mục tiêu khác nhau, cũng như sự phù hợp ngay trong các mục tiêu cùng cấp. Thêm vào đó, chính sách thuế nhà ở, đất ở hiện nay cũng đã có những sửa đổi đáng kể để phù hợp với các chính sách thuế khác, cũng như phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế.- Tính hiệu lực của chính sách: tính hiệu lực của chính sách là so sánh giữa mục tiêu của chính sách và sự thực hiện. Mục tiêu tổng thể của chính sách thuế nhà ở, đất ở là đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo nguồn thu cho NSNN và điều tiết vĩ mô nền kinh tế- xã hội, từ đây, chúng ta có thể đi vào xem xét việc thực hiện các mục tiêu của chính sách đề ra:Một là, về mục tiêu đảm bảo nguồn thu cho NSNN. Thực tế, trong thời gian qua số thu từ các chính sách thuế nhà ở, đất đã đáp ứng được một phần nhu cầu về nguồn thu cho NSNN, nhất là ngân sách địa phương. Số liệu về số thu của chính sách thuế nhà ở, đất ở trong các năm từ 2005 đến 2011 ở Bảng 2.9 phần nào thể hiện được điều đó. Cũng theo Bảng 2.9, chúng ta thấy cả số thu thực hiện từ lệ phí trước bạ đối với nhà ở, đất ở và số thu từ thuế sử dụng đất ở trong các năm vừa qua đều vượt kế hoạch đề ra từ 3% đến 18%: đối với lệ phí trước bạ nhà ở, đất ở, năm 2007 có mức vượt kế hoạch cao nhất là 18%, năm 2009 vượt kế hoạch thấp nhất là 3%; còn đối với thu từ thuế sử dụng đất ở năm 2008 có mức vượt kế hoạch cao nhất là 12%, năm 2005 và năm 2007 vượt kế hoạch thấp nhất là 3%.Như vậy, có thể thấy tính hiệu lực của chính sách thuế nhà ở, đất ở hiện nay không cao, và điều này muốn nói mục tiêu của chính sách chưa được thực hiện đầy đủ, nên trong thời gian tới cần có những giải pháp để tăng cường việc đạt mục tiêu của chính sách thuế nhà ở, đất ở, nhất là đối với những mục tiêu hiện nay chưa thực hiện được, hoặc thực hiện nhưng ở mức thấp.- Tính hiệu quả của chính sách, đây chính là việc so sánh giữa đầu ra với đầu vào của chính sách. Có thể nói hiệu quả của chính sách nhà ở, đất ở hiện này chưa cao, điều này có thể được minh chứng như sau:Một là, chính sách chưa bao quát hết các khả năng có thể đánh thuế. Chưa có sắc thuế đánh một lần vào quá trình tạo dựng, đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản một cách đầy đủ, rõ ràng. Mặc dù lệ phí trước bạ đã đánh vào việc đăng ký quyền sở hữu một số tài sản Nhà nước cần quản lý nhưng khoản thu này còn chưa phân định được tính chất thuế và tính chất lệ phí. Các sắc thuế đánh hàng năm chưa điều tiết đầy đủ đối với các tài sản có giá trị lớn. Hiện tại chỉ mới điều tiết đối với tài sản là quyền sử dụng đất dưới hình thức thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và thuế sử dụng đất nông nghiệp. Những tài sản có giá trị lớn khác như nhà, vật kiến trúc trên đất và các tài sản khác chưa được điều tiết hàng năm.Hai là, số thu về thuế, như đã trình bày ở trên nhìn chung còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của chính sách. Hơn nữa, các chi phí hành chính, chi phí cho quá trình tổ chức thu còn rất lớn, nhiều khi lãng phí.Ba là, chính sách thuế được ban hành và đưa vào thực thi, nhưng các đối tượng nộp thuế nhiều khi không biết hoặc không nắm rõ về chính sách đó, điều này được thể hiện rõ qua kết quả điều tra đối với đối tượng nộp thuế, xem Bảng 2.13.Theo như kết quả điều tra trên, chúng ta thấy trong 4 câu hỏi thì có 2 câu người được hỏi trả lời gần như không biết về nội dung chính sách (giá trị trung bình của câu 2.6 là 0,28, câu 2.7 là 0,39), 2 câu còn lại mặc dù có sự quan tâm hơn, nhưng mức độ cũng rất thấp (tỷ lệ trả lời có hiểu biết về chính sách chỉ hơn 50%).Theo: Phạm Văn BìnhLink luận án: https://docs.google.com/document/d/1mvKIPJ-0Zzb_BmCvWuD0sqzoBbhDgIAx/edit?rtpof=true