0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64aed2e2d08a5-NGUYÊN-NHÂN-CỦA-NHỮNG-HẠN-CHẾ-TRONG-CHÍNH-SÁCH-THUẾ-NHÀ-Ở,-ĐẤT-Ở.jpg.webp

NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ TRONG CHÍNH SÁCH THUẾ NHÀ Ở, ĐẤT Ở

 

2.2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong chính sách thuế nhà ở, đất ở

- Một là sự bất cập và không đầy đủ trong những quy định pháp lý của chính sách thuế nhà ở, đất ở: các chính sách bộ phận của chính sách thuế nhà ở, đất ở như: chính sách thuế đăng ký nhà ở, đất ở; chính sách thuế sử dụng đất ở còn nhiều nội dung quy định không hợp lý, mục tiêu xác định không rõ, không bám sát tình hình thực tiễn sử dụng nhà ở, đất ở của người dân; cũng như tình hình kinh tế- xã hội của đất nước. Nhiều nội dung quy định còn lạc hậu, không thống nhất với các hệ thống văn bản pháp lý khác, hoặc có quy định nhưng lại không rõ ràng, dẫn đến có nhiều cách hiểu và vận hành khác nhau, gây khó khăn cho cả người nộp thuế lẫn cơ quan thuế, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả và hiệu lực của chính sách.

- Hai là sự yếu kém trong một số khâu của quy trình chính sách thuế thuế nhà ở, đất ở: như phần trên đã trình bày, ưu điểm của Việt Nam là trong quá trình làm chính sách đã có một quy trình cụ thể, tuy nhiên, nếu xem xét kỹ thì bản thân quy trình đó cho tới thời điểm hiện nay không còn phù hợp nữa, ngay trong mỗi nội dung của quy trình cũng còn nhiều vướng mắc: có nội dung không rõ ràng, cũng có nội dung không cần thiết, trùng lặp, hoặc “dòng thông tin” lưu chuyển qua các bộ phận chính sách cũng không hợp lý.

+ Không tiến hành phân tích chính sách trước, cho nên có những văn bản thật sự cần thiết phải ban hành thì chưa được dự kiến hoặc chưa được ban hành, trong khi đó có những văn bản chưa hoặc không thực sự cần thiết lại được đưa vào chương trình, phải thông qua những đạo luật có thể mang ý nghĩa tuyên ngôn mà ít ý nghĩa điều chỉnh các vấn đề kinh tế- xã hội. Hoặc vì không hình thành các giải pháp chính sách trước, nên khi đưa ra lấy ý kiến thường có nhiều thay đổi, bổ sung. Đây là nguyên nhân khiến cho các dự thảo nhiều khi phải soạn đi soạn lại hàng chục lần, vừa tốn công sức, thời gian, tiền bạc. Hay nhiều chính sách đứng trước tình trạng “đẽo cày giữa đường”, không thể hoàn thành việc soạn thảo được và cuối cùng chỉ chấp nhận nghiên cứu để sửa đổi bổ sung. Điều này cũng lý giải tại sao nhiều khi các chính sách của nước ta vừa ban hành đã phải sửa đi sửa lại.

+ Nhiều quy định trong chính sách thuế nhà ở, đất ở của Việt Nam trong suốt quá trình soạn thảo chính sách mới thiên hướng ở những phân tích, đánh giá trong “nội bộ” những người được giao soạn thảo chính sách, không tận dụng được ý kiến của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu đầu ngành. Kết quả điều tra được nêu ở Bảng 2.14 cũng đã thể hiện phần nào đánh giá này: khi được hỏi “trong việc hoạch định chính sách thuế nhà ở, đất ở đã thu hút được trí tuệ của đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý và nhân dân” thì tần suất không đồng ý với ý kiến nêu trên chiếm đại đa số (với giá trị trung bình chỉ là 2,41). Điều này cũng lý giải tại sao nhiều chính sách của chúng ta có “tuổi thọ” không dài.

+ Nhiều đơn vị tham gia phân tích chính sách thuế nhà ở, đất ở, mà mỗi đơn vị lại đứng trên một góc nhìn khác nhau đối với chính sách, vì vậy, dẫn đến có quá nhiều các tiêu chí để đánh giá chính sách, không biết căn cứ vào đâu để thẩm định và quyết định chính sách thuế nhà ở, đất ở. Vì không phải giải trình về chính sách, các hoạt động phân tích chính sách chỉ được tiến hành một cách hình thức, chiếu lệ, cho nên có thể xuất hiện những cái “khe” giúp cho việc “cài cắm” quyền lợi nếu muốn của các chủ thể tham gia soạn thảo chính sách. Việc lấy ý kiến của những đối tượng chịu tác động của chính sách thuế nhà ở, đất ở cũng chưa được đảm bảo tính khoa học, mang tính hời hợt, “lấy cho có”, công tác điều tra thực tế trước khi xây dựng chính sách cũng không khả quan hơn, chính vì vậy không dự báo được các kết quả, cũng như các tình huống có thể xảy ra khi đưa chính sách vào thực hiện, có khi một số nội dung của chính sách bị phản đối.

+ Trong việc tổ chức thực hiện chính sách thuế nhà ở, đất ở: việc phân định quyền hạn và trách nhiệm của các đơn vị liên quan trong việc thực thi chính sách không rõ ràng, nên đến khi đưa chính sách vào cuộc sống gặp nhiều khó khăn trong việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách, gây ra sự chồng chéo, mâu thuẫn về quyền hạn và trách nhiệm của các bên, làm cho việc thực hiện gặp nhiều khó khăn.

+ Một khâu không thể thiểu để đảm bảo hiệu lực quản lý là công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chính sách thuế nhà ở, đất ở. Các đơn vị phụ trách triển khai chính sách trong kế hoạch của mình đều có đề cập đến công tác này, nhưng thực tế thực hiện nhìn chung còn kém. Nhiều quy định của chính sách thuế nhà ở, đất ở khi triển khai xuống các cấp không thực hiện được, hoặc có thực hiện nhưng gặp nhiều khó khăn, hoặc thực hiện không đúng chủ trương của chính sách, tuy nhiên đơn vị phụ trách chính sách nhiều khi không nắm được, dẫn đến nhiều sai phạm trong thực hiện chính sách, khi phát hiện ra đã quá muộn, việc khắc phục hậu quả rất khó khăn và tốn kém.

- Ba là những yếu kém trong công tác quản lý thuế nhà ở, đất ở. Mặc dù đã có Luật quản lý thuế, tuy nhiên các quy định trong Luật nhiều khi không rõ ràng, hơn nữa việc triển khai thực hiện còn nhiều bất cập, cụ thể:

+ Việc phân công, phân cấp không rõ ràng, có sự chồng lấn về quyền hạn và trách nhiệm. Tuy hiện nay đã có những quy định về phân công, phân cấp của cơ quan quản lý thuế và các tổ chức có liên quan ở địa phương, tuy nhiên lại chưa có những quy định cụ thể về trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý thuế các cấp, cũng như giữa cơ quan quản lý thuế với chính quyền địa phương các cấp, điều này thường sẽ gây phát sinh việc song trùng lãnh đạo trong quản lý thuế ở địa phương.

+ Việc ứng dụng khoa học- công nghệ hiện đại trong Ngành thuế đã được thực hiện và mang lại những kết quả bước đầu, tuy nhiên, hệ thống này vẫn được đánh giá là chưa đáp ứng được yêu cầu mà chính sách thuế nhà ở, đất ở đề ra. Điều này được thể hiện rõ nét qua hệ thống thông tin trong nội bộ Ngành thuế, cũng như thông tin kết nối với bên ngoài chưa thông suốt, hệ thống xử lý thông tin chủ yếu theo mô hình xử lý phân tán, nên việc khai thác thông tin khá phức tạp, chưa thuận tiện cho việc liên kết giữa các chức năng quản lý thuế; hệ thống hiện tại gây khó khăn cho việc triển khai đồng nhất một hệ thống kết nối thông tin cho toàn ngành; các ứng dụng hiện tại thường mới chỉ đáp ứng cho các nghiệp vụ quản lý riêng biệt, chưa có khả năng xử lý tập trung số lượng lớn và hỗ trợ tự động quy trình nghiệp vụ quản lý thuế từ quản lý hồ sơ, đăng ký thuế, kê khai, tính thuế đến các nghiệp vụ xử lý chứng từ, kế toán thu nộp thuế và đôn đốc tuân thủ, thu nợ...

+ Công tác truyền thông cho chính sách thuế nhà ở, đất ở: truyền thông trong giai đoạn soạn thảo chính sách, và nhất là truyền thông trong giai đoạn đưa chính sách vào tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém và bất cập, điều này cũng được thể hiện rõ qua kết quả điều tra ở Bảng 2.14 ở trên, với nhận định “Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách đã tổ chức tốt công tác phổ biến tuyên truyền chính sách” thì giá trị trung bình thu được là 2,31- lệch trái, thể hiện sự không đồng ý với nhận định đưa ra. Nhiều chính sách đã có hiệu lựa thi hành, nhưng nhiều đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của chính sách đó lại không nắm rõ, nhiều khi không biết.

+ Chất lượng nhân lực Ngành thuế thời gian qua đã có những cải thiện đáng kể, tuy nhiên, nhìn chung đội ngũ nhân lực trong Ngành thuế quá đông, lại chưa được sắp xếp hiệu quả, trình độ chuyên môn không cao, nhất là những hiểu biết trong việc ứng dụng công nghệ vào công việc và yếu về ngoại ngữ, nên chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu và rộng như hiện nay.

- Bốn là nguồn kinh phí cho việc vận hành chính sách thuế nhà ở, đất ở còn eo hẹp. Chính nguồn kinh phí còn hạn chế đã ảnh hưởng lớn đến tất cả các khâu của quy trình chính sách thuế nhà ở, đất ở, như: do không có kinh phí nên việc nghiên cứu, điều tra, lấy ý kiến, cũng như đánh giá các tác động của chính sách thuế nhà ở, đất ở ít khi được làm đầy đủ và bài bản; việc đầu tư cho trụ sở làm việc, hạ tầng kỹ thuật của Ngành thuế cũng vì thế mà còn nhiều hạn chế; lương của đội ngũ cán bộ thuế mặc dù đã được cải thiện, tuy nhiên, nếu so sánh với các đơn vị bên ngoài, nhất là khối doanh nghiệp thì vẫn quá thấp, không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của mỗi người, đặc biệt là tại những thành phố lớn…

Theo: Phạm Văn Bình

Link luận án: 

https://docs.google.com/document/d/1mvKIPJ-0Zzb_BmCvWuD0sqzoBbhDgIAx/edit?rtpof=true

avatar
Đặng Quỳnh
972 ngày trước
NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ TRONG CHÍNH SÁCH THUẾ NHÀ Ở, ĐẤT Ở
 2.2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong chính sách thuế nhà ở, đất ở- Một là sự bất cập và không đầy đủ trong những quy định pháp lý của chính sách thuế nhà ở, đất ở: các chính sách bộ phận của chính sách thuế nhà ở, đất ở như: chính sách thuế đăng ký nhà ở, đất ở; chính sách thuế sử dụng đất ở còn nhiều nội dung quy định không hợp lý, mục tiêu xác định không rõ, không bám sát tình hình thực tiễn sử dụng nhà ở, đất ở của người dân; cũng như tình hình kinh tế- xã hội của đất nước. Nhiều nội dung quy định còn lạc hậu, không thống nhất với các hệ thống văn bản pháp lý khác, hoặc có quy định nhưng lại không rõ ràng, dẫn đến có nhiều cách hiểu và vận hành khác nhau, gây khó khăn cho cả người nộp thuế lẫn cơ quan thuế, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả và hiệu lực của chính sách.- Hai là sự yếu kém trong một số khâu của quy trình chính sách thuế thuế nhà ở, đất ở: như phần trên đã trình bày, ưu điểm của Việt Nam là trong quá trình làm chính sách đã có một quy trình cụ thể, tuy nhiên, nếu xem xét kỹ thì bản thân quy trình đó cho tới thời điểm hiện nay không còn phù hợp nữa, ngay trong mỗi nội dung của quy trình cũng còn nhiều vướng mắc: có nội dung không rõ ràng, cũng có nội dung không cần thiết, trùng lặp, hoặc “dòng thông tin” lưu chuyển qua các bộ phận chính sách cũng không hợp lý.+ Không tiến hành phân tích chính sách trước, cho nên có những văn bản thật sự cần thiết phải ban hành thì chưa được dự kiến hoặc chưa được ban hành, trong khi đó có những văn bản chưa hoặc không thực sự cần thiết lại được đưa vào chương trình, phải thông qua những đạo luật có thể mang ý nghĩa tuyên ngôn mà ít ý nghĩa điều chỉnh các vấn đề kinh tế- xã hội. Hoặc vì không hình thành các giải pháp chính sách trước, nên khi đưa ra lấy ý kiến thường có nhiều thay đổi, bổ sung. Đây là nguyên nhân khiến cho các dự thảo nhiều khi phải soạn đi soạn lại hàng chục lần, vừa tốn công sức, thời gian, tiền bạc. Hay nhiều chính sách đứng trước tình trạng “đẽo cày giữa đường”, không thể hoàn thành việc soạn thảo được và cuối cùng chỉ chấp nhận nghiên cứu để sửa đổi bổ sung. Điều này cũng lý giải tại sao nhiều khi các chính sách của nước ta vừa ban hành đã phải sửa đi sửa lại.+ Nhiều quy định trong chính sách thuế nhà ở, đất ở của Việt Nam trong suốt quá trình soạn thảo chính sách mới thiên hướng ở những phân tích, đánh giá trong “nội bộ” những người được giao soạn thảo chính sách, không tận dụng được ý kiến của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu đầu ngành. Kết quả điều tra được nêu ở Bảng 2.14 cũng đã thể hiện phần nào đánh giá này: khi được hỏi “trong việc hoạch định chính sách thuế nhà ở, đất ở đã thu hút được trí tuệ của đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý và nhân dân” thì tần suất không đồng ý với ý kiến nêu trên chiếm đại đa số (với giá trị trung bình chỉ là 2,41). Điều này cũng lý giải tại sao nhiều chính sách của chúng ta có “tuổi thọ” không dài.+ Nhiều đơn vị tham gia phân tích chính sách thuế nhà ở, đất ở, mà mỗi đơn vị lại đứng trên một góc nhìn khác nhau đối với chính sách, vì vậy, dẫn đến có quá nhiều các tiêu chí để đánh giá chính sách, không biết căn cứ vào đâu để thẩm định và quyết định chính sách thuế nhà ở, đất ở. Vì không phải giải trình về chính sách, các hoạt động phân tích chính sách chỉ được tiến hành một cách hình thức, chiếu lệ, cho nên có thể xuất hiện những cái “khe” giúp cho việc “cài cắm” quyền lợi nếu muốn của các chủ thể tham gia soạn thảo chính sách. Việc lấy ý kiến của những đối tượng chịu tác động của chính sách thuế nhà ở, đất ở cũng chưa được đảm bảo tính khoa học, mang tính hời hợt, “lấy cho có”, công tác điều tra thực tế trước khi xây dựng chính sách cũng không khả quan hơn, chính vì vậy không dự báo được các kết quả, cũng như các tình huống có thể xảy ra khi đưa chính sách vào thực hiện, có khi một số nội dung của chính sách bị phản đối.+ Trong việc tổ chức thực hiện chính sách thuế nhà ở, đất ở: việc phân định quyền hạn và trách nhiệm của các đơn vị liên quan trong việc thực thi chính sách không rõ ràng, nên đến khi đưa chính sách vào cuộc sống gặp nhiều khó khăn trong việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách, gây ra sự chồng chéo, mâu thuẫn về quyền hạn và trách nhiệm của các bên, làm cho việc thực hiện gặp nhiều khó khăn.+ Một khâu không thể thiểu để đảm bảo hiệu lực quản lý là công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chính sách thuế nhà ở, đất ở. Các đơn vị phụ trách triển khai chính sách trong kế hoạch của mình đều có đề cập đến công tác này, nhưng thực tế thực hiện nhìn chung còn kém. Nhiều quy định của chính sách thuế nhà ở, đất ở khi triển khai xuống các cấp không thực hiện được, hoặc có thực hiện nhưng gặp nhiều khó khăn, hoặc thực hiện không đúng chủ trương của chính sách, tuy nhiên đơn vị phụ trách chính sách nhiều khi không nắm được, dẫn đến nhiều sai phạm trong thực hiện chính sách, khi phát hiện ra đã quá muộn, việc khắc phục hậu quả rất khó khăn và tốn kém.- Ba là những yếu kém trong công tác quản lý thuế nhà ở, đất ở. Mặc dù đã có Luật quản lý thuế, tuy nhiên các quy định trong Luật nhiều khi không rõ ràng, hơn nữa việc triển khai thực hiện còn nhiều bất cập, cụ thể:+ Việc phân công, phân cấp không rõ ràng, có sự chồng lấn về quyền hạn và trách nhiệm. Tuy hiện nay đã có những quy định về phân công, phân cấp của cơ quan quản lý thuế và các tổ chức có liên quan ở địa phương, tuy nhiên lại chưa có những quy định cụ thể về trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý thuế các cấp, cũng như giữa cơ quan quản lý thuế với chính quyền địa phương các cấp, điều này thường sẽ gây phát sinh việc song trùng lãnh đạo trong quản lý thuế ở địa phương.+ Việc ứng dụng khoa học- công nghệ hiện đại trong Ngành thuế đã được thực hiện và mang lại những kết quả bước đầu, tuy nhiên, hệ thống này vẫn được đánh giá là chưa đáp ứng được yêu cầu mà chính sách thuế nhà ở, đất ở đề ra. Điều này được thể hiện rõ nét qua hệ thống thông tin trong nội bộ Ngành thuế, cũng như thông tin kết nối với bên ngoài chưa thông suốt, hệ thống xử lý thông tin chủ yếu theo mô hình xử lý phân tán, nên việc khai thác thông tin khá phức tạp, chưa thuận tiện cho việc liên kết giữa các chức năng quản lý thuế; hệ thống hiện tại gây khó khăn cho việc triển khai đồng nhất một hệ thống kết nối thông tin cho toàn ngành; các ứng dụng hiện tại thường mới chỉ đáp ứng cho các nghiệp vụ quản lý riêng biệt, chưa có khả năng xử lý tập trung số lượng lớn và hỗ trợ tự động quy trình nghiệp vụ quản lý thuế từ quản lý hồ sơ, đăng ký thuế, kê khai, tính thuế đến các nghiệp vụ xử lý chứng từ, kế toán thu nộp thuế và đôn đốc tuân thủ, thu nợ...+ Công tác truyền thông cho chính sách thuế nhà ở, đất ở: truyền thông trong giai đoạn soạn thảo chính sách, và nhất là truyền thông trong giai đoạn đưa chính sách vào tổ chức thực hiện còn nhiều yếu kém và bất cập, điều này cũng được thể hiện rõ qua kết quả điều tra ở Bảng 2.14 ở trên, với nhận định “Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách đã tổ chức tốt công tác phổ biến tuyên truyền chính sách” thì giá trị trung bình thu được là 2,31- lệch trái, thể hiện sự không đồng ý với nhận định đưa ra. Nhiều chính sách đã có hiệu lựa thi hành, nhưng nhiều đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của chính sách đó lại không nắm rõ, nhiều khi không biết.+ Chất lượng nhân lực Ngành thuế thời gian qua đã có những cải thiện đáng kể, tuy nhiên, nhìn chung đội ngũ nhân lực trong Ngành thuế quá đông, lại chưa được sắp xếp hiệu quả, trình độ chuyên môn không cao, nhất là những hiểu biết trong việc ứng dụng công nghệ vào công việc và yếu về ngoại ngữ, nên chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu và rộng như hiện nay.- Bốn là nguồn kinh phí cho việc vận hành chính sách thuế nhà ở, đất ở còn eo hẹp. Chính nguồn kinh phí còn hạn chế đã ảnh hưởng lớn đến tất cả các khâu của quy trình chính sách thuế nhà ở, đất ở, như: do không có kinh phí nên việc nghiên cứu, điều tra, lấy ý kiến, cũng như đánh giá các tác động của chính sách thuế nhà ở, đất ở ít khi được làm đầy đủ và bài bản; việc đầu tư cho trụ sở làm việc, hạ tầng kỹ thuật của Ngành thuế cũng vì thế mà còn nhiều hạn chế; lương của đội ngũ cán bộ thuế mặc dù đã được cải thiện, tuy nhiên, nếu so sánh với các đơn vị bên ngoài, nhất là khối doanh nghiệp thì vẫn quá thấp, không đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của mỗi người, đặc biệt là tại những thành phố lớn…Theo: Phạm Văn BìnhLink luận án: https://docs.google.com/document/d/1mvKIPJ-0Zzb_BmCvWuD0sqzoBbhDgIAx/edit?rtpof=true