0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64b40eff1cacc-PHÁP-LUẬT-QUỐC-TẾ-VỀ-BẢO-ĐẢM-QUYỀN-CỦA-NỮ-LAO-ĐỘNG-DI-TRÚ-TỪ-NÔNG-THÔN-ĐẾN-THÀNH-THỊ.jpg.webp

PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NỮ LAO ĐỘNG DI TRÚ TỪ NÔNG THÔN ĐẾN THÀNH THỊ

 

2.1.1.1. Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị

Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị bao gồm các văn bản có giá trị pháp lý toàn cầu và khu vực quy định về đảm bảo quyền cho nhóm xã hội này. Chủ thể quyền là lao động nữ di trú trong nước nên dưới góc độ quốc tế, không có quy định một cách trực tiếp đến chủ thể này mà nghĩa vụ này thuộc về quốc gia, ... Những văn kiện quốc tế về QCN nói chung cụ thể là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, Các Công ước quốc tế về các quyền dân sự; Công ước quốc tế về các quyền chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Đây là những văn bản pháp lý quốc tế quan trọng ghi nhận QCN trong đó có nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị, có thể kể đến một số quyền: quyền được hưởng một mức sống thích đáng ở các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế, hưởng BHXH; quyền được làm việc; quyền được bảo đảm tiền lương thỏa đáng; quyền tự do đi lại, tự do lựa chọn nơi cư trú; … Về bảo đảm quyền của phụ nữ có Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 của Liên Hợp Quốc (CEDAW). Theo đó, ghi nhận, bảo đảm quyền không bị phân biệt đối xử với nam giới trong quyền được hưởng an sinh xã hội, bảo vệ sức khỏe trong đó có chức năng sinh đẻ; quyền được chăm sóc sức khỏe thích đáng,

…Về bảo đảm quyền của NLĐ có các văn kiện pháp lý quan trọng của tổ chức lao động thế giới ILO bảo đảm các quyền như: quyền làm việc, quyền được trả công bình đẳng, quyền không bị phân biệt đối xử trong lao động, ..Có thể kể đến một số văn kiện quan trọng như: Tuyên bố của ILO về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động năm 1998 sửa đổi 2010, Công ước số 100 – trả công bình đẳng năm 1951, Công ước số 111 – phân biệt đối xử (việc làm và nghề nghiệp), 1958.

2.1.1.2. Pháp luật quốc gia về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị

Pháp luật quốc gia về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị là tổng thể quy phạm pháp luật quy định về chủ thể, đối tượng, phạm vi các quyền và nghĩa vụ pháp lý, trình tự và cách thức thực hiện, hậu quả pháp lý về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị. Hệ thống các quy định pháp luật đó bao gồm: Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới Luật về quy định quyền và bảo đảm quyền liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với đối tượng theo cách tiếp cận nữ lao động di trú vừa là con người, phụ nữ và là người lao động di cư. Hệ thống các quy định pháp luật quốc gia về quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị phải đảm bảo những yêu cầu sau:

Thứ nhất, các quy định pháp luật về quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị phải là sự thể chế hóa một cách chi tiết, rõ ràng các chính sách, chủ trương của Đảng về bảo đảm quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương nói chung và quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam nói riêng.

Thứ hai, quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị phải được chú trọng ghi nhận tại Hiến pháp và văn bản Luật và phù hợp với các điều ước quốc tế. Mặc dù, có thể được ghi nhận một cách trực tiếp hay gián tiếp nhưng với tính giá trị pháp lý cao của Hiến pháp và văn bản Luật sẽ tạo ra sức mạnh pháp lý làm cơ sở cho việc thực hiện quyền của chủ thể quyền. Đồng thời, hạn chế ban hành các văn bản dưới Luật xuất phát từ nhận thức pháp lý cũng như tiếp cận pháp lý của nữ lao động nông thôn còn rất hạn chế. Mặt khác, những quy định đó phải phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc phê chuẩn, bởi bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị chính là bảo đảm các QCN mà cả cộng đồng quốc tế và Việt Nam đang nỗ lực thực thi. 

Thứ ba, các quy định pháp luật phải mang tính đầy đủ, chặt chẽ, khả thi và đồng bộ và linh hoạt. Các quy định phải gắn liền với các đặc điểm của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị, xác định được tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền của nhóm xã hội này trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, mới có cơ sở xác định các nội dung cần quy định, các chủ thể cần phải quy định về quyền và nghĩa vụ, ... Đặc biệt, tránh sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật khi thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị. Sự linh hoạt của pháp luật là luôn đáp ứng kịp thời, nhanh nhạy những đòi hỏi chính đáng, nhu cầu thiết yếu, cấp bách về mặt xã hội của những biến đổi, phát sinh về quyền cần được bảo đảm của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị.

Thứ tư, các quy định phải mang tính răn đe đối với các chủ thê xâm phạm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị. Xuất phát từ tính dễ bị tổn thương, dễ bị xâm hại của chủ thể quyền, vì vây, các quy định pháp luật điều chỉnh phải mang tính răn đe cao.

Từ góc nhìn của khoa học luật học, các bảo đảm pháp lý rất đa dạng, phong phú, trước hết là sự ghi nhận quyền đến trách nhiệm của các chủ thể, về thanh tra kiểm tra, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị. Các nội dung thể chế pháp lý đó được phân tích dưới các nhóm quy định sau:

- Nhóm quy định về quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam

Như đã phân tích ở phần trên, để có cơ sở pháp bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị, trước hết pháp luật phải ghi nhận quyền hay nói cách khác phải được quy định cụ thể các các văn bản quy phạm pháp luật dưới góc độ xác định nội dung dung, phạm vi quyền. Cụ thể là các quy định về quyền làm việc của NLĐ và NLĐ có giới tính nữ; các quy định về quyền hưởng ASXH. Vì nội dung quyền khá rộng, gồm nhiều khía cạnh thuộc đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật. Do đó, những quy phạm pháp luật này sẽ được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật.

-   Nhóm quy định trách nhiệm của NSDLĐ trong việc bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị

Mục đích di chuyển của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị là vì mục đích lao động, làm việc. Tại nơi đến, nữ lao động di trú có thể xác lập quan hệ lao động thông qua hợp đồng với NSDLĐ. Vì vậy, việc thụ hưởng các quyền liên quan đến quyền làm việc chắc chắn phải chịu tác động từ trách nhiệm của NSDLĐ. Nếu NSDLĐ không bị ràng buộc bởi các quy định pháp luật trong việc bảo đảm quyền cho NLĐ nói chung và lao động nữ di trú nói riêng thì việc tạo điều kiện về việc làm, trả lương, thực hiện chế độ về nghỉ ngơi, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho chủ thể hưởng thụ quyền sẽ hạn chế. Do đó, nhóm quy định về trách nhiệm của NSDLĐ trong việc bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị   sẽ tạo ra tính bắt buộc trong sự tuân thủ pháp luật đối với NSDLĐ trong việc bảo đảm quyền quan trọng nhất của nhóm xã hội này.

- Nhóm quy định trách nhiệm quản lý nhà nước và hỗ trợ việc bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị

Nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị bên cạnh làm việc cho NSDLĐ, họ còn làm việc tự do để có thu nhập và trong trường hợp này, trách nhiệm của NSDLĐ không dược đặt ra. Do đó, trách nhiệm này phải thuộc về Nhà nước và việc có những quy định về quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền của nhóm xã hội này là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị có quan hệ lao động với NSDLĐ thì không cần được bảo đảm dưới góc độ quản lý nhà nước mà chế độ quản lý nhà nước sẽ bảo đảm chung cho tất cả nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị. Theo đó, nhóm quy định này sẽ quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, trách nhiệm của tổ chức chính trị, các đoàn thể xã hội tại nơi đến và nơi đi của nữ lao động.

- Nhóm quy định thanh tra kiểm tra, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị

Việc ghi nhận quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong việc bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị chỉ là bước đầu để chủ thể quyền

 

có cơ sở pháp lý thực hiện quyền và các chủ thể khác phải có trách nhiệm tuân thủ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các quy định đó, các chủ thể có thi hành, tuân thủ hay áp dụng đúng hay không lại là một vấn đề khác. Do đó, cần phải có những quy định về thanh tra, kiểm tra việc bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị. Khi thanh tra, kiểm tra phát hiện vi phạm thì phải áp dụng các biện pháp xử lý. Điều này sẽ phòng, ngừa và ngăn chặn những vi phạm xảy ra. Đồng thời, những quy định về khiếu nại, tố cáo những sai phạm của các chủ thể sẽ góp phần bảo đảm được quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị.

Theo: Dương Thị Hải Yến

Link luận án:  Tại đây

 

avatar
Đặng Quỳnh
967 ngày trước
PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NỮ LAO ĐỘNG DI TRÚ TỪ NÔNG THÔN ĐẾN THÀNH THỊ
 2.1.1.1. Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thịPháp luật quốc tế về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị bao gồm các văn bản có giá trị pháp lý toàn cầu và khu vực quy định về đảm bảo quyền cho nhóm xã hội này. Chủ thể quyền là lao động nữ di trú trong nước nên dưới góc độ quốc tế, không có quy định một cách trực tiếp đến chủ thể này mà nghĩa vụ này thuộc về quốc gia, ... Những văn kiện quốc tế về QCN nói chung cụ thể là Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, Các Công ước quốc tế về các quyền dân sự; Công ước quốc tế về các quyền chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Đây là những văn bản pháp lý quốc tế quan trọng ghi nhận QCN trong đó có nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị, có thể kể đến một số quyền: quyền được hưởng một mức sống thích đáng ở các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế, hưởng BHXH; quyền được làm việc; quyền được bảo đảm tiền lương thỏa đáng; quyền tự do đi lại, tự do lựa chọn nơi cư trú; … Về bảo đảm quyền của phụ nữ có Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 của Liên Hợp Quốc (CEDAW). Theo đó, ghi nhận, bảo đảm quyền không bị phân biệt đối xử với nam giới trong quyền được hưởng an sinh xã hội, bảo vệ sức khỏe trong đó có chức năng sinh đẻ; quyền được chăm sóc sức khỏe thích đáng,…Về bảo đảm quyền của NLĐ có các văn kiện pháp lý quan trọng của tổ chức lao động thế giới ILO bảo đảm các quyền như: quyền làm việc, quyền được trả công bình đẳng, quyền không bị phân biệt đối xử trong lao động, ..Có thể kể đến một số văn kiện quan trọng như: Tuyên bố của ILO về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động năm 1998 sửa đổi 2010, Công ước số 100 – trả công bình đẳng năm 1951, Công ước số 111 – phân biệt đối xử (việc làm và nghề nghiệp), 1958.2.1.1.2. Pháp luật quốc gia về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thịPháp luật quốc gia về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị là tổng thể quy phạm pháp luật quy định về chủ thể, đối tượng, phạm vi các quyền và nghĩa vụ pháp lý, trình tự và cách thức thực hiện, hậu quả pháp lý về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị. Hệ thống các quy định pháp luật đó bao gồm: Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới Luật về quy định quyền và bảo đảm quyền liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với đối tượng theo cách tiếp cận nữ lao động di trú vừa là con người, phụ nữ và là người lao động di cư. Hệ thống các quy định pháp luật quốc gia về quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị phải đảm bảo những yêu cầu sau:Thứ nhất, các quy định pháp luật về quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị phải là sự thể chế hóa một cách chi tiết, rõ ràng các chính sách, chủ trương của Đảng về bảo đảm quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương nói chung và quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam nói riêng.Thứ hai, quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị phải được chú trọng ghi nhận tại Hiến pháp và văn bản Luật và phù hợp với các điều ước quốc tế. Mặc dù, có thể được ghi nhận một cách trực tiếp hay gián tiếp nhưng với tính giá trị pháp lý cao của Hiến pháp và văn bản Luật sẽ tạo ra sức mạnh pháp lý làm cơ sở cho việc thực hiện quyền của chủ thể quyền. Đồng thời, hạn chế ban hành các văn bản dưới Luật xuất phát từ nhận thức pháp lý cũng như tiếp cận pháp lý của nữ lao động nông thôn còn rất hạn chế. Mặt khác, những quy định đó phải phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc phê chuẩn, bởi bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị chính là bảo đảm các QCN mà cả cộng đồng quốc tế và Việt Nam đang nỗ lực thực thi. Thứ ba, các quy định pháp luật phải mang tính đầy đủ, chặt chẽ, khả thi và đồng bộ và linh hoạt. Các quy định phải gắn liền với các đặc điểm của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị, xác định được tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền của nhóm xã hội này trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, mới có cơ sở xác định các nội dung cần quy định, các chủ thể cần phải quy định về quyền và nghĩa vụ, ... Đặc biệt, tránh sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật khi thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị. Sự linh hoạt của pháp luật là luôn đáp ứng kịp thời, nhanh nhạy những đòi hỏi chính đáng, nhu cầu thiết yếu, cấp bách về mặt xã hội của những biến đổi, phát sinh về quyền cần được bảo đảm của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị.Thứ tư, các quy định phải mang tính răn đe đối với các chủ thê xâm phạm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị. Xuất phát từ tính dễ bị tổn thương, dễ bị xâm hại của chủ thể quyền, vì vây, các quy định pháp luật điều chỉnh phải mang tính răn đe cao.Từ góc nhìn của khoa học luật học, các bảo đảm pháp lý rất đa dạng, phong phú, trước hết là sự ghi nhận quyền đến trách nhiệm của các chủ thể, về thanh tra kiểm tra, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị. Các nội dung thể chế pháp lý đó được phân tích dưới các nhóm quy định sau:- Nhóm quy định về quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt NamNhư đã phân tích ở phần trên, để có cơ sở pháp bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị, trước hết pháp luật phải ghi nhận quyền hay nói cách khác phải được quy định cụ thể các các văn bản quy phạm pháp luật dưới góc độ xác định nội dung dung, phạm vi quyền. Cụ thể là các quy định về quyền làm việc của NLĐ và NLĐ có giới tính nữ; các quy định về quyền hưởng ASXH. Vì nội dung quyền khá rộng, gồm nhiều khía cạnh thuộc đối tượng điều chỉnh của nhiều ngành luật. Do đó, những quy phạm pháp luật này sẽ được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật.-   Nhóm quy định trách nhiệm của NSDLĐ trong việc bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thịMục đích di chuyển của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị là vì mục đích lao động, làm việc. Tại nơi đến, nữ lao động di trú có thể xác lập quan hệ lao động thông qua hợp đồng với NSDLĐ. Vì vậy, việc thụ hưởng các quyền liên quan đến quyền làm việc chắc chắn phải chịu tác động từ trách nhiệm của NSDLĐ. Nếu NSDLĐ không bị ràng buộc bởi các quy định pháp luật trong việc bảo đảm quyền cho NLĐ nói chung và lao động nữ di trú nói riêng thì việc tạo điều kiện về việc làm, trả lương, thực hiện chế độ về nghỉ ngơi, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho chủ thể hưởng thụ quyền sẽ hạn chế. Do đó, nhóm quy định về trách nhiệm của NSDLĐ trong việc bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị   sẽ tạo ra tính bắt buộc trong sự tuân thủ pháp luật đối với NSDLĐ trong việc bảo đảm quyền quan trọng nhất của nhóm xã hội này.- Nhóm quy định trách nhiệm quản lý nhà nước và hỗ trợ việc bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thịNữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị bên cạnh làm việc cho NSDLĐ, họ còn làm việc tự do để có thu nhập và trong trường hợp này, trách nhiệm của NSDLĐ không dược đặt ra. Do đó, trách nhiệm này phải thuộc về Nhà nước và việc có những quy định về quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền của nhóm xã hội này là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị có quan hệ lao động với NSDLĐ thì không cần được bảo đảm dưới góc độ quản lý nhà nước mà chế độ quản lý nhà nước sẽ bảo đảm chung cho tất cả nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị. Theo đó, nhóm quy định này sẽ quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, trách nhiệm của tổ chức chính trị, các đoàn thể xã hội tại nơi đến và nơi đi của nữ lao động.- Nhóm quy định thanh tra kiểm tra, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thịViệc ghi nhận quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong việc bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị chỉ là bước đầu để chủ thể quyền có cơ sở pháp lý thực hiện quyền và các chủ thể khác phải có trách nhiệm tuân thủ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các quy định đó, các chủ thể có thi hành, tuân thủ hay áp dụng đúng hay không lại là một vấn đề khác. Do đó, cần phải có những quy định về thanh tra, kiểm tra việc bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị. Khi thanh tra, kiểm tra phát hiện vi phạm thì phải áp dụng các biện pháp xử lý. Điều này sẽ phòng, ngừa và ngăn chặn những vi phạm xảy ra. Đồng thời, những quy định về khiếu nại, tố cáo những sai phạm của các chủ thể sẽ góp phần bảo đảm được quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị.Theo: Dương Thị Hải YếnLink luận án:  Tại đây