0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64b417491fbf8-CƠ-SỞ-THỰC-TIỄN-GHI-NHẬN-QUYỀN-CỦA-NỮ-LAO-ĐỘNG-DI-TRÚ-TỪ-NÔNG-THÔN-ĐẾN-THÀNH-THỊ-Ở-VIỆT-NAM-HIỆN-NAY.jpg.webp

CƠ SỞ THỰC TIỄN GHI NHẬN QUYỀN CỦA NỮ LAO ĐỘNG DI TRÚ TỪ NÔNG THÔN ĐẾN THÀNH THỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.

3.2.  Thực trạng ghi nhận quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam hiện nay

3.2.1. Những kết quả của việc ghi nhận quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam hiện nay

3.2.1.1. Quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị đã được ghi nhận tại Hiến pháp thông qua quyền của người lao động

Những nguyên tắc được Hiến định tạo cơ sở pháp lý vững chắc để nữ lao động di từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam có thể được thụ hưởng quyền trên thực tế, bởi xuất phát từ giá trị pháp lý cao nhất của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Theo đó, ngoài ghi nhận những quyền chung thì Hiến pháp đã ghi nhận về quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH - những quyền đặc thù gắn liền với nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị. Sự ghi nhận đó thể hiện sự kế thừa, phát triển và tiến bộ về quan điểm, kỹ thuật lập hiến, đặc biệt có hướng đến bảo đảm quyền cho lao động nữ; lao động gặp khó khăn; sự tương thích với các chuẩn mực quốc tế, sự thể chế hóa quan điểm của Đảng cộng sản về quyền làm việc và quyền hưởng ASXH.

- Các quy định về quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH tại Hiến pháp thể hiện sự kế thừa, phát triển và tiến bộ về quan điểm, kỹ thuật lập hiến, đặc biệt, có hướng đến bảo đảm quyền cho lao động gặp khó khăn.

Sự kế thừa về ghi nhận quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH thể hiện thông qua các bản Hiến pháp. Tại Hiến pháp năm 1946, mặc dù quyền việc làm và quyền được hưởng ASXH không được đề cập đến, tuy nhiên, đã khẳng định sự bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa công dân Việt Nam, giữa đàn ông và đàn bà. Điều này gián tiếp quy định về sự bình đẳng giữa lao động nữ và lao động nam cũng như trách nhiệm của cơ quan nhà nước, của xã hội phải đảm bảo được sự bình đẳng, không phân biệt đối xử đó. Các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 ngoài quy định về sự bình đẳng, không biệt đối xử giữa các công dân với nhau thì việc ghi nhận quyền của công dân nói chung đã được mở rộng ra cũng như trách nhiệm của Nhà nước cũng được quy định rõ ràng hơn, đặc biệt các quyền của người lao động, các nguyên tắc không phân biệt đối xử, sự bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ về thu nhập, … Nhìn chung, các bản Hiến pháp đã có quy định về bảo đảm quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH, tuy nhiên đối tượng thụ hưởng là công dân, là viên chức, công nhân hoặc xã viên của hợp tác xã.

Đến Hiến pháp 2013 là một bước tiến mới về tư duy cũng như kỹ thuật lập pháp khi lần đầu tiền QCN được ghi nhận cùng với quyền công dân. Đặc biệt, vị trí không phải ở chương 5 như các bản hiến pháp trước đó mà là chương thứ hai ngay sau chương chế độ chính trị. Điều đó đã chứng tỏ, đảng và nhà nước rất coi trọng quyền con người và đặt ra yêu cầu bảo đảm quyền, sự tôn trọng QCN trong xã hội, bất khả xâm phạm trừ những trường hợp hạn chế quyền nhưng những hạn chế đó cũng phải được quy định tại văn bản Luật chứ không phải văn bản dưới Luật. Đặt ra trách nhiệm của Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người (Điều 3).

Trước hết, Hiến pháp ghi nhận nguyên tắc không phân biệt đối xử tại Điều 16: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Điều đó có nghĩa là cấm mọi hành vi phân biệt đối xử trong xã hội, là nền tảng để lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị được đảm bảo sự bình đẳng không bị phân biệt đối xử trong công việc cũng như trong đời sống sinh hoạt tại thành thị.

Về quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH của NLĐ nói chung: Trước hết, ghi nhận nguyên tắc bình đẳng: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt (Điều 26). Về quyền làm việc, Hiến pháp ghi nhận: Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc (Điều 35). Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, quyền về an sinh xã hội được ghi nhận. Theo đó: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34). Đồng thời, mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh (Điều 38). Đây là những nguyên tắc hiến định trao quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH cho người lao động nói chung trong đó có nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị.

Bên cạnh việc ghi nhận quyền, Hiến pháp năm 2013 yêu cầu bắt buộc các chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác theo quy định tại Khoản 2 – Điều 15. Đây là một bước tiến mới tư duy lý luận về QCN trong kỹ thuật lập hiến, bởi theo Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định dưới khía cạnh công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình với nhà nước (Điều 51). Điều này đồng nghĩa với việc, đã ghi nhận quyền thì tất yếu phải phát sinh trách nhiệm của các chủ thể trong việc bảo đảm quyền đó. Do đó, Hiến pháp 2013 đã quy định rõ trách nhiệm trong việc bảo đảm quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH. Cụ thể: Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới, Nhà nước gia đình và xã hội, nghiêm cấm sự phân biệt về giới (Điều 26); Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi (Điều 35); Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng (Điều 38); Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động, Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định (Điều 57); Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình (Điều 58). Hiến pháp năm 2013 quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người (Điều 102). Đây cũng là một điểm tiến bộ trong khi Hiến pháp 1992 chỉ nêu nhiệm vụ của Tòa án nhân dân là bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, không đề cập về việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Ngoài ra, Hiến pháp cũng quy định trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể cụ thể là Mặt trận tổ quốc, Hội phụ nữ, … đặc biệt là tổ chức công đoàn trong việc đại diện quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động (Điều 9).

Hiến pháp 2013 đã hướng tới bảo đảm quyền cho nhóm xã hội khó khăn. Đây là một cơ sở pháp lý quan trọng khi đối tượng lao động nữ từ nông thôn đến thành thị được tiếp cận dưới góc độ là nhóm xã hội yếu thế, gặp nhiều khó khăn tại nơi đến. Theo đó, Khoản 2 - Điều 59 – Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác”.

Từ những phân tích trên cho thấy, Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ đã công nhận, tôn trọng quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH trong đó bao gồm nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị, tạo cơ sở cho việc cụ thể hóa quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH trong các văn bản luật, văn bản dưới luật và chính sách của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH từ nông thôn đến thành thị.

- Quyền làm việc, quyền được hưởng ASXH được ghi nhận tại Hiến pháp đã có sự tương thích với các chuẩn mực quốc tế

Những nội dung về quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH được ghi nhận tại Hiến pháp 2013 về cơ bản phù hợp với pháp luật, công ước và thông lệ quốc tế mà Việt Nam cam kết thực hiện. Quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH được xác định là một trong các quyền về kinh tế, xã hội theo Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của Liên hợp quốc phải được các quốc gia ghi nhận, bảo đảm dưới góc độ quyền tự nhiên của con người. Đặc biệt, trong các công ước của ILO ngoài quy định về quyền làm việc còn định hướng tới bảo đảm các quyền được hưởng ASXH của NLĐ nhất là lao động nữ. Về vấn đề trao quyền làm việc, quyền được hưởng ASXH với những nội dung cụ thể như trả lương công bằng giữa lao động nam và lao động nữ, quyền nghỉ ngơi của lao động, quyền được tham gia các loại hình bảo hiểm, … và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền của NLĐ nói chung trong đó có nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị, đã phù hợp với nội dung của các văn kiện quốc tế có liên quan, đặc biệt là các công ước quốc tế của ILO như: Công ước số 100 về không phân biệt đối xử trong lao động, Công ước 142 về Hướng nghiệp và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực; Công ước số 122 về chính sách việc làm; Công ước 131 về Ấn định lương tối thiểu, đặc biệt đối với các nước đang phát triển; Công ước 102 về quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội, ... Các công ước này đã quy định rất rõ về các quyền cơ bản của NLĐ bao hàm cả đối tượng lao động di trú nông thôn đến thành thị; quy định trách nhiệm của nhà nước các nước thành viên ILO về tạo khung pháp lý, xây dựng sàn tối thiểu về ASXH.

Theo: Dương Thị Hải Yến

Link luận án:  Tại đây

 

avatar
Đặng Quỳnh
883 ngày trước
CƠ SỞ THỰC TIỄN GHI NHẬN QUYỀN CỦA NỮ LAO ĐỘNG DI TRÚ TỪ NÔNG THÔN ĐẾN THÀNH THỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
3.2.  Thực trạng ghi nhận quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam hiện nay3.2.1. Những kết quả của việc ghi nhận quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam hiện nay3.2.1.1. Quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị đã được ghi nhận tại Hiến pháp thông qua quyền của người lao độngNhững nguyên tắc được Hiến định tạo cơ sở pháp lý vững chắc để nữ lao động di từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam có thể được thụ hưởng quyền trên thực tế, bởi xuất phát từ giá trị pháp lý cao nhất của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Theo đó, ngoài ghi nhận những quyền chung thì Hiến pháp đã ghi nhận về quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH - những quyền đặc thù gắn liền với nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị. Sự ghi nhận đó thể hiện sự kế thừa, phát triển và tiến bộ về quan điểm, kỹ thuật lập hiến, đặc biệt có hướng đến bảo đảm quyền cho lao động nữ; lao động gặp khó khăn; sự tương thích với các chuẩn mực quốc tế, sự thể chế hóa quan điểm của Đảng cộng sản về quyền làm việc và quyền hưởng ASXH.- Các quy định về quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH tại Hiến pháp thể hiện sự kế thừa, phát triển và tiến bộ về quan điểm, kỹ thuật lập hiến, đặc biệt, có hướng đến bảo đảm quyền cho lao động gặp khó khăn.Sự kế thừa về ghi nhận quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH thể hiện thông qua các bản Hiến pháp. Tại Hiến pháp năm 1946, mặc dù quyền việc làm và quyền được hưởng ASXH không được đề cập đến, tuy nhiên, đã khẳng định sự bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa công dân Việt Nam, giữa đàn ông và đàn bà. Điều này gián tiếp quy định về sự bình đẳng giữa lao động nữ và lao động nam cũng như trách nhiệm của cơ quan nhà nước, của xã hội phải đảm bảo được sự bình đẳng, không phân biệt đối xử đó. Các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 ngoài quy định về sự bình đẳng, không biệt đối xử giữa các công dân với nhau thì việc ghi nhận quyền của công dân nói chung đã được mở rộng ra cũng như trách nhiệm của Nhà nước cũng được quy định rõ ràng hơn, đặc biệt các quyền của người lao động, các nguyên tắc không phân biệt đối xử, sự bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ về thu nhập, … Nhìn chung, các bản Hiến pháp đã có quy định về bảo đảm quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH, tuy nhiên đối tượng thụ hưởng là công dân, là viên chức, công nhân hoặc xã viên của hợp tác xã.Đến Hiến pháp 2013 là một bước tiến mới về tư duy cũng như kỹ thuật lập pháp khi lần đầu tiền QCN được ghi nhận cùng với quyền công dân. Đặc biệt, vị trí không phải ở chương 5 như các bản hiến pháp trước đó mà là chương thứ hai ngay sau chương chế độ chính trị. Điều đó đã chứng tỏ, đảng và nhà nước rất coi trọng quyền con người và đặt ra yêu cầu bảo đảm quyền, sự tôn trọng QCN trong xã hội, bất khả xâm phạm trừ những trường hợp hạn chế quyền nhưng những hạn chế đó cũng phải được quy định tại văn bản Luật chứ không phải văn bản dưới Luật. Đặt ra trách nhiệm của Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người (Điều 3).Trước hết, Hiến pháp ghi nhận nguyên tắc không phân biệt đối xử tại Điều 16: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Điều đó có nghĩa là cấm mọi hành vi phân biệt đối xử trong xã hội, là nền tảng để lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị được đảm bảo sự bình đẳng không bị phân biệt đối xử trong công việc cũng như trong đời sống sinh hoạt tại thành thị.Về quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH của NLĐ nói chung: Trước hết, ghi nhận nguyên tắc bình đẳng: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt (Điều 26). Về quyền làm việc, Hiến pháp ghi nhận: Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc (Điều 35). Đặc biệt, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, quyền về an sinh xã hội được ghi nhận. Theo đó: Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34). Đồng thời, mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh (Điều 38). Đây là những nguyên tắc hiến định trao quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH cho người lao động nói chung trong đó có nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị.Bên cạnh việc ghi nhận quyền, Hiến pháp năm 2013 yêu cầu bắt buộc các chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác theo quy định tại Khoản 2 – Điều 15. Đây là một bước tiến mới tư duy lý luận về QCN trong kỹ thuật lập hiến, bởi theo Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định dưới khía cạnh công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình với nhà nước (Điều 51). Điều này đồng nghĩa với việc, đã ghi nhận quyền thì tất yếu phải phát sinh trách nhiệm của các chủ thể trong việc bảo đảm quyền đó. Do đó, Hiến pháp 2013 đã quy định rõ trách nhiệm trong việc bảo đảm quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH. Cụ thể: Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới, Nhà nước gia đình và xã hội, nghiêm cấm sự phân biệt về giới (Điều 26); Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi (Điều 35); Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng (Điều 38); Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động, Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định (Điều 57); Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình (Điều 58). Hiến pháp năm 2013 quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người (Điều 102). Đây cũng là một điểm tiến bộ trong khi Hiến pháp 1992 chỉ nêu nhiệm vụ của Tòa án nhân dân là bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, không đề cập về việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Ngoài ra, Hiến pháp cũng quy định trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể cụ thể là Mặt trận tổ quốc, Hội phụ nữ, … đặc biệt là tổ chức công đoàn trong việc đại diện quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động (Điều 9).Hiến pháp 2013 đã hướng tới bảo đảm quyền cho nhóm xã hội khó khăn. Đây là một cơ sở pháp lý quan trọng khi đối tượng lao động nữ từ nông thôn đến thành thị được tiếp cận dưới góc độ là nhóm xã hội yếu thế, gặp nhiều khó khăn tại nơi đến. Theo đó, Khoản 2 - Điều 59 – Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác”.Từ những phân tích trên cho thấy, Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ đã công nhận, tôn trọng quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH trong đó bao gồm nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị, tạo cơ sở cho việc cụ thể hóa quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH trong các văn bản luật, văn bản dưới luật và chính sách của Nhà nước nhằm bảo đảm quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH từ nông thôn đến thành thị.- Quyền làm việc, quyền được hưởng ASXH được ghi nhận tại Hiến pháp đã có sự tương thích với các chuẩn mực quốc tếNhững nội dung về quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH được ghi nhận tại Hiến pháp 2013 về cơ bản phù hợp với pháp luật, công ước và thông lệ quốc tế mà Việt Nam cam kết thực hiện. Quyền làm việc và quyền được hưởng ASXH được xác định là một trong các quyền về kinh tế, xã hội theo Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa của Liên hợp quốc phải được các quốc gia ghi nhận, bảo đảm dưới góc độ quyền tự nhiên của con người. Đặc biệt, trong các công ước của ILO ngoài quy định về quyền làm việc còn định hướng tới bảo đảm các quyền được hưởng ASXH của NLĐ nhất là lao động nữ. Về vấn đề trao quyền làm việc, quyền được hưởng ASXH với những nội dung cụ thể như trả lương công bằng giữa lao động nam và lao động nữ, quyền nghỉ ngơi của lao động, quyền được tham gia các loại hình bảo hiểm, … và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền của NLĐ nói chung trong đó có nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị, đã phù hợp với nội dung của các văn kiện quốc tế có liên quan, đặc biệt là các công ước quốc tế của ILO như: Công ước số 100 về không phân biệt đối xử trong lao động, Công ước 142 về Hướng nghiệp và đào tạo nghề trong phát triển nguồn nhân lực; Công ước số 122 về chính sách việc làm; Công ước 131 về Ấn định lương tối thiểu, đặc biệt đối với các nước đang phát triển; Công ước 102 về quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội, ... Các công ước này đã quy định rất rõ về các quyền cơ bản của NLĐ bao hàm cả đối tượng lao động di trú nông thôn đến thành thị; quy định trách nhiệm của nhà nước các nước thành viên ILO về tạo khung pháp lý, xây dựng sàn tối thiểu về ASXH.Theo: Dương Thị Hải YếnLink luận án:  Tại đây