NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NỮ LAO ĐỘNG DI TRÚ TỪ NÔNG THÔN ĐẾN THÀNH THỊ Ở VIỆT NAM
3.2. Nguyên nhân của thực trạng về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam hiện nay
3.2.1.Nguyên nhân của thành tựu về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, cơ sở pháp lý quốc tế về QCN khá phong phú đã tạo ra những yêu cầu và nỗ lực của quốc gia đáp ứng được những yêu cầu của việc bảo đảm các QCN nói chung và quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương nói chung.
Thứ hai, Việt Nam luôn nỗ lực tạo ra sự công bằng trong xã hội, đặc biệt là những người yếu thế. Chính sách ASXH, chính sách về việc làm luôn song hành cùng với chính sách phát triển kinh tế sẽ tạo ra môi trường thụ hưởng quyền tốt cho nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị.
Thứ ba, dân tộc Việt Nam có truyền thống đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau tại nên một công đồng cùng phát triển nên những đối tượng yếu thế luôn được Đảng, nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm.
Thứ tư, sự phát triển nhận thức lý luận của Đảng về QCN, về quyền của nhóm người yếu thế, nhóm lao động đặc thù cũng tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam hiện nay như định hướng cho việc ghi nhận quyền tại các văn bản quy phạm pháp luật, …
3.2.2. Nguyên nhân của hạn chế về bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, đối tượng nữ lao động di trú trong nước nói chung và nữ lao động di trú nói trú từ nông thôn đến thành thị nói riêng chưa được xem là đối tượng yếu thế cần được chú trọng quan tâm tại các văn kiện của Đảng cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hiện nay, đây là đối tượng được hỗ trợ về việc làm tại nông thôn nhưng mục đích chủ yếu là để giảm gánh nặng của việc di cư cho thành thị mà chưa chú trọng bảo đảm quyền của nhóm xã hội này khi đã di cư đến thành thị.
Thứ hai, nhiều vấn đề lý luận về bảo đảm QCN cũng như bảo đảm quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong giai đoạn mới vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ tạo ra những chính sách ngắn hạn không mang tính lâu dài trong việc bảo đảm quyền đó.
Thứ ba, sự thiếu hụt nguồn lực để đảm bảo quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị dẫn đến chưa có những ưu đãi trực tiếp cho nhóm xã hội này.
Thứ tư, thiếu chính sách và các nguồn lực hấp dẫn để thu hút các nguồn lực từ các các nhân, tổ chức trong xã hội cùng góp sức hỗ trợ cho đối tượng lao động yếu thế là lao động di cư trong nước.
Phần lớn lao động nữ di cư từ nông thôn đến thành thị tìm kiếm được việc làm tại thành thị với thu nhập cao hơn tại nơi xuất cư. Tuy nhiên, họ vẫn gặp những rào cản nhất định trong công việc. Tình trạng phân biệt đối xử giữa lao động nam di cư và lao động nữ di cư trong tuyển dụng và trả thu nhập vẫn còn diễn ra. Thu nhập chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của lao động nữ. Tình trạng công việc bấp bênh, không ổn định với cường độ làm việc cao vẫn đang còn diễn ra. Với vị thế là lao động nhập cư, lao động nữ cũng gặp khó khăn trong việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cũng như tiếp cận những ưu đãi về việc làm khác. Về việc thụ hưởng quyền ASXH, lao động nữ di cư, mặc dù, đã được tham gia các loại hình bảo hiểm, được chăm sóc sức khỏe và tiếp cận được dịch vụ công nhưng lại có sự phân hóa rõ giữa lao động nữ di cư trong khu vực chính thức và khu vực phi chính thức. Trong đó, đa số lao động nữ di cư làm việc trong khu vực phi chính thức không tham gia BHXH tự nguyện, do đó các quyền lợi được thụ hưởng từ việc tham gia bảo hiểm cũng hạn chế. Lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị cũng ít tham gia các hoạt động cộng đồng và các đoàn thể tại nơi cư trú mới.
Hiện nay, chưa có quy định trực tiếp tới lao động nữ di cư trong nước, lao động ở khu vực không chính thức cũng không thuộc điều chỉnh của Bộ luật lao động. Chế độ BHXH tự nguyện còn hạn chế chế độ thụ hưởng, BHTN cũng loại trừ lao động tự do, … Đây chính là những khó khăn về mặt thể chế mà lao động nữ di cư phải đối mặt. Mặt khác, đối với chính sách việc làm, chính sách giảm nghèo, … thì lao động nữ di cư vẫn chưa được coi là đối tượng lao động đặc thù cần phải quan tâm. Họ vẫn bị xem là đối tượng cần phải hạn chế trước sức ép về hạ tầng đô thị từ di cư, do đó, chính sách cư trú lại trở thành biện pháp hành chính để hạn chế di cư chứ không phải là cơ sở để bảo đảm quyền cho đối tượng này. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải có các giải pháp thiết thực và hữu ích nhất để tác động một cách trực tiếp đến đối tượng nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị.
Theo: Dương Thị Hải Yến
Link luận án: Tại đây