GIẢI PHÁP CỤ THỂ TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN CỦA NỮ LAO ĐỘNG DI TRÚ TỪ NÔNG THÔN ĐẾN THÀNH THỊ Ở VIỆT NAM
4.1. Những giải pháp cụ thể tăng cường bảo đảm quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam trong thời gian tới
4.1.1. Những giải pháp tăng cường pháp luật về quyền của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam trong thời gian tới
4.1.1.1. Tích cực thể chế hóa quan điểm của Đảng về quyền làm việc và quyền hưởng an sinh xã hội của nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị ở Việt Nam hiện nay tại các văn bản quy phạm pháp luật.
Với thực trạng pháp luật hiện nay chưa thể hiện rõ quan điểm của Đảng về lao động di cư trong nước cụ thể là quan điểm tăng cường bảo đảm của Nhà nước và xã hội đối với nhóm người yếu thế hiện nay. Điều này chưa tạo ra sự thống nhất trong quan điểm lập pháp, trong nội dung của những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến quyền của nữ lao động di trú trong nước. Do đó, pháp luật Việt Nam cần được hoàn thiện theo hướng xác định rõ đối tượng yếu thế hiện nay bao gồm cả người lao động di cư trong nước, đặc biệt là lao động trong khu vực phi chính thức. Vấn đề này phải được thể chế tại văn bản Luật như Bộ luật lao động, Luật việc làm, Luật bình đẳng giới, Luật trợ giúp pháp lý, Luật bảo hiểm xã hội và Luật bảo hiểm y tế. Đồng thời trong các chương trình việc làm, ASXH phải xác định rõ lao động di cư trong nước đặc biệt là lao động di trú từ nông thôn đến thành thị là đối tượng yếu thế cần được quan tâm. Khi được thể chế hóa tại các văn bản quy phạm pháp luật sẽ tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị có thể thụ hưởng quyền làm việc và quyền hưởng ASXH một cách tốt nhất trên thực tế.
Việc thực hiện thể chế hoá các quan điểm của Đảng về lao động trong nước cần được thực hiện bởi Quốc hội khi ban hành các văn bản luật, của Chính phủ, Bộ LĐ - TB và XH, các văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương nơi đến. Đồng thời, phải tiến hành rà soát và yêu cầu các cơ quan trên thực hiện nhiệm vụ rà soát theo định kỳ năm năm một lần việc thể chế hoá các quan điểm đó tại các văn bản quy phạm pháp luật. Để thực hiện được nội dung này, các cơ quan nêu trên phải nắm vững được quan điểm, đường lối chính trị của Đảng về tăng cường bảo đảm quyền của lao động trong nước, có sự tham mưu, trao đổi giữa các cơ quan có liên quan với nhau để thể chế hoá quan điểm đó một cách sâu sắc nhất.
4.1.1.2. Pháp luật điều chỉnh quyền làm việc và quyền được hưởng an sinh xã hội phải có quy định đặc thù cho lao động di cư trong nước
Hiện nay, các quy định tập trung điều chỉnh đối tượng lao động di cư ra nước ngoài. Do đó, việc xây dựng những quy định đặc thù về quyền làm việc và quyền hưởng ASXH cho lao động di cư trong nước có ý nghĩa quan trọng trong việc trao quyền cho lao động đặc thù cũng như tạo ra sự tôn trọng, tuân thủ của các tổ chức, các nhân trong xã hội trong việc bảo đảm quyền của nhóm xã hội này.
Trước hết tại văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp, cần xây dựng riêng một điều về bảo đảm ASXH, phục vụ lợi xã hội cho nhóm người gặp khó khăn chú trọng tới phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người dân tộc thiểu số, người di cư. Bổ sung Điều 35 – Hiến pháp 2013 về mở rộng đối tượng bảo đảm các quyền của người lao động không chỉ là người làm công ăn lương mà còn có cả người lao động tự tạo ra thu nhập. Dưới góc độ quản lý nhà nước, cần thiết lồng ghép đối tượng lao động di cư trong nước trở thành đối tượng điều chỉnh của Bộ luật lao động tại phần những quy định cho đối tượng lao động đặc thù như lao động là người cao tuổi, lao động chưa thành niên, lao động nữ, ... Bảo đảm quyền trực tiếp cho nữ lao động di cư trong đó chú trọng nữ lao động di cư làm việc tự do không có hợp đồng tại một chế định riêng biệt “Quy định dành cho lao động làm việc tự do không có hợp đồng lao động”. Trong chế định này sẽ quy định các quyền và nghĩa vụ về việc làm mà nhóm lao động này được bảo đảm như: vấn đề làm việc tại môi trường làm việc an toàn, được tham gia BHYT, tham gia BHXH, BHTN, việc khai báo, được thông tin về việc làm, điều kiện an toàn lao động, trợ giúp pháp lý, … Đồng thời quy định trách nhiệm cho đoàn thể và chính quyền về trách nhiệm cung cấp thông tin về việc làm, hướng dẫn di cư an toàn cũng như bảo đảm các điều kiện, tạo thuận lợi và có chính sách hỗ trợ cho đời sống của nhóm lao động này. Cần quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước, chính quyền nơi đến và nơi đi trong việc tạo mọi điều kiện để lao động di cư có thu nhập và hòa nhập với cộng đồng tại nơi đến. Đồng thời, quy định về thanh tra, xử lý vi phạm khi có vi phạm quyền của lao động di cư. Điều đó sẽ tạo ra khung pháp lý toàn diện làm giảm tính tổn thương, yếu thế của nhóm xã hội này. Từ đó, lao động nữ di cư trong nước vừa được bảo đảm dưới quyền đặc thù của lao động nữ vừa bảo đảm dưới quyền đặc thù của lao động di cư trong nước.
Luật việc làm phải mở rộng đối tượng tham gia BHTN cho cả lao động không có hợp đồng, xác định lại cơ sở mức đóng không chỉ phụ thuộc vào tiền lương như hiện hành mà còn bao gồm cả thu nhập của người lao động tự tạo ra. Có thể đưa ra để người lao động tự lựa chọn. Khi quy định như vậy thì Nhà nước phải có cách thức tạo quỹ BHTN bao gồm cả Nhà nước và cộng đồng. Muốn làm được điều này, việc xác định rõ lao động nữ lao động di trú từ nông thôn đến thành thị nói chung, lao động làm việc tự do nói riêng là đối tượng lao động yếu thế là hết sức cần thiết. Bởi khi xác định một cách rõ ràng và có cơ sở thì mới huy động được cộng đồng để xây dựng quy BHTN cho nhóm xã hội này. Trong hệ thống pháp luật về bình đẳng giới và bảo đảm quyền cho lao động nữ, phải xây dựng nội dung cụ thể liên quan đến đối tượng lao động nữ di cư trong nước. Luật trợ giúp pháp lý cũng cần đưa đối tượng lao động di cư trong nước trở thành thành đối tượng điều chỉnh. Đặc biệt, là văn bản hướng dẫn cụ thể các văn bản Luật thì lao động di cư cũng phải được đề cập đến dưới góc độ bảo đảm quyền như các đối tượng lao động khác như lao động là người dân tộc thiểu số, khuyết tật, ... Có như vây, đối tượng này mới được nằm trong các chính sách ưu đãi về vay vốn và các chính sách khác của Nhà nước. Mặt khác, đối tượng lao động nữ di trú từ nông thôn đến thành thị phải được coi là đối tượng bảo trợ xã hội. Việc xác định hộ nghèo đối với lao động nữ di trú phải được quy định riêng là chuẩn nghèo của thành thịu chứ không phải chuẩn nghèo tại nông thôn, mặc dù họ chưa đăng ký nơi thường trú tại thành thị.
Đối với những quy định mang tính đặc thù này cần thiết phải có việc điều tra thực trạng về lao động nữ di cư mang tính định kỳ của Bộ LĐ - TB và XH (giao cho các Sở LĐ-TB&XH nơi đến), báo cáo của BHXH Việt Nam, của Hội phụ nữ tại nơi đến ,... để có căn cứ xây dựng phù hợp và khả thi. Mặt khác, các cơ quan ban hành pháp luật cần phải học tập và tiếp thu những quy định pháp luật có hiệu quả của các nước trên thế giới trong quá trình xây dựng các quy định mang tính đặc thù về lao động nữ di cư trong nước ở Việt Nam. Việc sửa đổi Luật việc làm theo hướng trên cần được thực hiện ngay trong giai đoạn hiện nay
Theo: Dương Thị Hải Yến
Link luận án: Tại đây