NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG BẤT CẬP, HẠN CHẾ TRONG QUẢN LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN
3.3. Đánh giá nguyên nhân của những bất cập, hạn chế
3.3.1. Nguyên nhân khách quan
Một là do tính phức tạp của các vụ việc phá sản nói chung và hoạt động quản lý tài sản phá sản nói riêng
Nhìn chung, các loại vụ việc phá sản chiếm tỷ lệ nhỏ trong các tranh chấp về kinh doanh thương mại. Tuy nhiên, hầu hết các vụ việc phá sản mang tính chất rất phức tạp, bao gồm nhiều quan hệ pháp luật như các loại hợp đồng tín dụng, thế chấp, gia công, mua bán… cho đến quan hệ về tiền lương, bảo hiểm, thuế… có những hồ sơ vụ việc phá sản phải giải quyết hàng trăm hồ sơ tín dụng, có hàng trăm chủ nợ, người mắc nợ…với thời gian giải quyết kéo dài nhiều năm. Vì vậy đòi hỏi Thẩm phán không những phải nắm vững kiến thức về Luật Phá sản mà còn phải nắm vững kiến thức của các lĩnh vực liên quan.
Hai là vướng mắc từ các quy định của pháp luật phá sản nói chung và các quy định về quản lý tài sản phá sản nói riêng.
Qua phân tích thực tiễn thực thi các quy định về quản lý tài sản phá sản cho thấy, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những khó khăn trong việc quản lý tài sản phá sản xuất phát từ việc các quy định còn nhiều điểm chưa rõ ràng, chưa cụ thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất. Pháp luật về phá sản nói chung và các quy định về quản lý tài sản phá sản nói riêng là thủ tục bán tư pháp, chính vì thế các quy định cần phải được rõ ràng về trình tự, thủ tục để làm căn cứ pháp lý thực hiện cho các bên liên quan.
Ba là nguyên nhân từ chế độ tài chính – kế toán của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.
Chế độ tài chính – kế toán của doanh nghiệp có ảnh hưởng quan trọng với việc quản lý tài sản phá sản của doanh nghiệp. Hiện nay, chỉ số minh bạch về tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam được xếp vào loại yếu kém nhất trên thế giới. Thực tế cho thấy có hiện tượng các doanh nghiệp sử dụng hai hệ thống sổ sách kế toán, thống kê. Trong một số trường hợp chứng từ còn chưa đầy đủ, vi phạm chế độ kế toán, thống kê. Việc không đảm bảo tính chính xác, minh bạch trong kế toán, thống kê do đó, trong hoạt động quản lý tài sản phá sản, tòa án, quản tài viên/doanh nghiệp quản lý tài sản phá sản gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định khối tài sản phá sản của doanh nghiệp, xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp mắc nợ cũng như thực hiện các biện pháp quản lý tài sản.
3.3.2. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, về năng lực của đội ngũ thẩm phán:
Do tính chất phức tạp và khó khăn khi giải quyết vụ việc phá sản, còn tình trạng Thẩm phán e ngại khi được phân công giải quyết vụ việc; không tích cực giải quyết hồ sơ, thậm chí giao toàn bộ trách nhiệm cho quản tài viên, không đôn đốc, nhắc nhở và theo dõi tiến trình giải quyết; chậm tác động hồ sơ vụ việc và chậm nghiên cứu khi tiếp nhận hồ sơ phá sản của các Thẩm phán khác giao lại. Bên cạnh một số Thẩm phán tích cực tham gia hội thảo, tập huấn, bồi dưỡng về pháp Luật Phá sản do Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, vẫn còn một số Thẩm phán còn thụ động, chưa tích cực nghiên cứu học hỏi để nâng cao kỹ năng giải quyết vụ việc phá sản. Chưa có nhiều các buổi tập huấn chuyên đề về phá sản cho toàn bộ các Thẩm phán của Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố.
Thứ hai, năng lực cung cấp dịch vụ quản lý tài sản phá sản của Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản còn hạn chế
Mặc dù, các nhiệm vụ, quyền hạn của Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, về cơ bản, đã tiến gần đến với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế về Quản tài viên tư pháp trong phá sản. Tuy nhiên, khi nghiên cứu thực trạng và thực tiễn áp dụng Luật Phá sản vào quá trình quản lý tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, cũng như so sánh với các chuẩn mực quốc tế mà cụ thể là chuẩn mực của OECD về nhiệm vụ, quyền hạn của Quản tài viên như đã trình bày ở phần trên cũng đã bộc lộ một số vấn đề đáng chú ý.
Thực tiễn hiện nay cho thấy, đội ngũ Quản tài viên, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản chưa được bồi dưỡng chuyên sâu, thường xuyên về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, vì vậy chất lượng hành nghề còn chưa cao, chưa tạo được uy tín. Ngoài ra, các điều kiện hành nghề của Quản tài viên còn khá dễ dàng và chưa mang tính chặt chẽ để ràng buộc về yếu tố kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn có liên quan đến hoạt động quản lý tài sản phá sản dành cho các đối tượng là Kiểm toán viên và Luật sư. Mặc dù việc bổ nhiệm những Quản tài viên có xuất thân từ Kiểm toán viên và Luật sư xuất phát từ việc hai nghề này có nhiều điểm rất gần với nghề Quản tài viên, tuy nhiên, việc không quy định về thời gian kinh nghiệm dành cho hai đối tượng này khiến cho việc trở thành Quản tài viên tương đối khá dễ dàng, có khả năng ảnh hướng đến hiệu quả hoạt động quản lý tài sản phá sản. Bên cạnh đó, việc mở rộng thêm đối tượng là những người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có kinh nghiệm 05 năm trở lên về lĩnh vực được đào tạo cũng đã mở rộng khá nhiều cho con đường trở thành Quản tài viên. Do đó, cần thiết phải có cơ chế để kiểm tra và đảm bảo chất lượng của đội ngũ nhân sự có chứng chỉ hành nghề quản lý tài sản.
Theo: Nguyễn Tuấn Hải
Link luận án: Tại đây