0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64b5169f07d8f-NHỮNG-VẤN-ĐỀ-LÝ-LUẬN-PHÁP-LUẬT-VỀ-TỔ-CHỨC-VÀ-HOẠT-ĐỘNG-CỦA-TỔ-CHỨC-HÀNH-NGHỀ-CÔNG-CHỨNG.jpg.webp

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG


2.1.  Những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng

2.1.1.   Khái quát lý luận về công chứng, nghề công chứng và công chứng viên

2.1.1.1.   Khái niệm và đặc điểm của công chứng, dịch vụ công chứng

Công chứng là nhu cầu của xã hội xuất phát từ việc bảo vệ, bảo đảm an toàn về pháp lý cho các giao dịch trong xã hội. Công chứng khởi nguồn từ xã hội và mang tính xã hội sâu sắc, lúc đầu do những cá nhân có uy tín tự tổ chức, sau đó chức năng quan trọng này được Nhà nước tổ chức, duy trì hoạt động, đến nay chức năng công chứng đã từng bước được trả về cho xã hội.

Với sự ra đời từ rất lâu và gắn bó chặt chẽ với đời sống cư dân, khởi đầu công chứng là nghề tự do, phục vụ cho nhu cầu giao thương, tự bảo vệ của cư dân khi thiết lập các khế ước cần đến vai trò làm chứng để bảo đảm tính minh bạch, chính xác, đề phòng tranh chấp trong giao dịch. Đây là nhu cầu tự nhiên hình thành do cơ chế tự phòng vệ của cư dân khi tham gia giao dịch, vốn dĩ xuất phát từ sự bất tín, lật lọng sẽ có thể xảy ra, dẫn đến tranh chấp, nên xã hội phải cần cơ chế tự phòng vệ như xét xử, phạt vi phạm, làm chứng... thông qua vai trò của Nhà nước trong việc tổ chức cơ chế phòng vệ này bằng hệ thống cơ quan xét xử, thi hành án, công chứng… để bảo vệ an toàn pháp lý cho các giao dịch. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, công chứng đã khẳng định vai trò quan trọng, được xã hội thừa nhận và trở thành chức năng thiết yếu trên phương diện hỗ trợ và bổ trợ cho hoạt động tư pháp.

Trên thế giới tồn tại nhiều khái niệm về công chứng, ở mỗi quốc gia, mỗi hệ thống pháp luật khái niệm này có nội hàm không giống nhau. Tuy nhiên, có thể nhận thấy những đặc điểm cơ bản của những khái niệm về công chứng, đó là: “xác thực”, “ghi chép lại bằng văn bản”, “lưu giữ” và “được thực hiện bởi CCV”. Nhìn chung, các nước theo hệ phái Latinh đều ghi nhận công chứng là hoạt động của CCV xác nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hành vi pháp lý dân sự, sự kiện và văn bản theo trình tự luật định. Hệ phái công chứng Latinh cho rằng bản chất cốt lõi của việc công chứng phải do và chỉ do CCV thực hiện. Các nước theo hệ phái công chứng Latinh, pháp luật đều chấp nhận quan điểm công chứng gắn với việc chứng nhận về nội dung hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Theo Các nguyên tắc cơ bản của hệ thống công chứng Latinh, thì “công chứng là việc CCV ghi chép lại bằng văn bản, chứng nhận xác thực và lưu giữ chứng cứ nhằm bảo đảm giá trị pháp lý của VBCC”. Ở Trung Quốc, “công chứng là hoạt động được thực hiện bởi một TCHNCC, theo đơn đề nghị của một cá nhân hoặc pháp nhân hoặc tổ chức khác, theo đúng quy trình luật định để chứng nhận tính xác thực và hợp pháp của hành vi pháp lý dân sự, sự kiện hoặc tài liệu pháp lý”. Ở Liên bang Nga, theo Các nguyên tắc cơ bản của Luật Liên bang Nga về công chứng (phê duyệt ngày 11 tháng 02 năm 1993 (N4462-1), sửa đổi, bổ sung ngày 02 tháng 7 năm 2021), ghi nhận ở Điều 35 về việc “công chứng được thực hiện bởi CCV bao gồm công chứng các hợp đồng giao dịch, chứng nhận quyền sở hữu của phần tài sản trong khối tài sản chung, áp dụng và hủy bỏ ngăn chặn liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản, chứng thực bản sao, chữ ký, xác nhận thông tin nhân thân và cung cấp chứng cứ”. Ở Hàn Quốc, “công chứng là hệ thống lưu giữ chứng cứ dạng văn bản, nhằm ngăn ngừa tranh chấp và tạo điều kiện để thực hiện các quyền của cá nhân”.

Như vậy, có thể hiểu: “Công chứng là việc CCV chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của nội dung giao dịch bằng văn bản theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, hoạt động công chứng cũng hướng tới xu thế hình thành công chứng số nhằm phục vụ cho nhu cầu công chứng đối với giao dịch điện tử ngày càng tăng cao, với tính ưu việt và bảo mật cao. Cư dân sẽ lựa chọn công chứng số hay công chứng truyền thống tùy thuộc vào nhu cầu giao dịch của họ. Thực tiễn đa số quốc gia đều đã ban hành luật công nhận hiệu lực pháp lý của chữ ký điện tử và tài liệu điện tử và khuyến khích phát hành Công ước điện tử Apostilles, cũng như để tạo điều kiện công chứng hóa điện tử các tài liệu công. Ở Hàn Quốc đã triển khai xây dựng Trung tâm Tài liệu điện tử được chứng nhận, chính thức được khai thác từ năm 2012, khởi đầu cho việc công chứng các tài liệu và văn bản điện tử. Những quốc gia thực hiện công chứng số đều khởi nguồn từ việc đơn giản như chứng nhận bản sao điện tử, chữ ký điện tử và công chứng trực tuyến và đi đến những hoạt động phức tạp của công chứng số.

Công chứng số gắn liền với quá trình chuyển đổi số trong hoạt động công chứng, qua đó việc công chứng số được thực hiện thông qua kiểm chứng, xác thực bằng cơ sở dữ liệu số; lưu trữ và trích xuất dữ liệu số; chứng nhận VBCC số, sử dụng chữ ký số và con dấu số; quản lý việc tác nghiệp trên môi trường số; báo cáo, thống kê, kiểm tra, lập kế hoạch và xây dựng chính sách theo phân tích dữ liệu số. Vì vậy, có thể hiểu: “Công chứng số được thực hiện trên môi trường điện tử, do CCV chứng nhận thông qua công cụ số, chữ ký số, tạo ra VBCC điện tử phục vụ cho các giao dịch điện tử của cá nhân, tổ chức và được lưu trữ trên cơ sở dữ liệu tập trung theo trình tự, thủ tục do luật định”.

Ở Việt Nam, hoạt động công chứng hiện nay chưa bắt kịp tiến bộ của công nghệ thông tin trong bối cảnh nền kinh tế thực hiện chuyển đổi số, Luật Công chứng mới chỉ đề cập đến việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng nhằm ngăn ngừa những rủi ro phát sinh trong hoạt động công chứng. Vấn đề đặt ra là hoạt động công chứng cần cơ sở pháp lý và cách thức thực hiện để bảo đảm VBCC số được thực hiện trong môi trường điện tử có được giá trị pháp lý tương đương với VBCC được thực hiện theo cách truyền thống trên giấy tờ. Hay nói cách khác, pháp luật phải ghi nhận được giá trị pháp lý của VBCC điện tử và cơ sở dữ liệu công chứng quốc gia tập trung. VBCC điện tử được thực hiện công chứng trên môi trường điện tử, do CCV chứng nhận và ký bằng chữ ký số, được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu công chứng tập trung, có giá trị pháp lý như VBCC giấy do CCV ký trực tiếp và lưu giữ tại TCHNCC. Khi công chứng Việt Nam lựa chọn và tổ chức theo mô hình công chứng tự do với thể thức công chứng nội dung, thì công chứng số sẽ là giải pháp thích hợp và hữu hiệu khi kết hợp được những ưu điểm của công chứng nội dung là sự chặt chẽ, xác thực, bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch về cả nội dung và hình thức, cùng với những ưu điểm của công chứng hình thức là nhanh chóng, dễ tiếp cận, thuận tiện và chi phí thấp.

Trong suốt quá trình từ khi hình thành và phát triển đến nay, công chứng luôn có những đặc điểm cơ bản như: (i) Việc công chứng do nhu cầu của xã hội, kể cả nhu cầu của các tầng lớp cư dân và Nhà nước trong việc ghi nhận, lưu giữ lâu dài, chính xác các tài liệu cơ sở để bảo đảm quyền lợi thông qua việc tạo lập, tập hợp và lưu giữ thành chứng cứ viết; (ii) CCV là người được Nhà nước chỉ định để lập và lưu giữ các chứng cứ văn bản và được Nhà nước thừa nhận giá trị và tính xác thực; (iii) Công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ, phục vụ theo yêu cầu và trả phí cho việc sử dụng dịch vụ.

Công chứng cũng có thể nhìn nhận dưới góc độ là dịch vụ công thiết yếu do Nhà nước tổ chức thực hiện để phục vụ xã hội, thông qua việc trực tiếp thành lập hoặc giao quyền cho tư nhân thành lập TCHNCC, để tổ chức thực hiện cung cấp dịch vụ công chứng. Chủ thể được Nhà nước giao thực hiện cung cấp dịch vụ công có thể là tổ chức của Nhà nước hoặc tư nhân được Nhà nước giao quyền. Ở Việt Nam, dịch vụ công được tập trung vào chức năng phục vụ xã hội của Nhà nước, không bao gồm các chức năng công quyền như lập pháp, hành pháp, tư pháp, ngoại giao… Hoạt động cung cấp dịch vụ công không mang tính quyền lực nhà nước, khác với hoạt động công quyền của cơ quan nhà nước. Nhà nước không độc quyền cung cấp dịch vụ công mà xã hội hóa một số dịch vụ, qua đó, có thể chia sẻ và giao việc cung cấp một phần những dịch vụ công cho tư nhân thực hiện. Nhà nước giữ vai trò điều tiết dịch vụ công nhằm bảo đảm hiệu quả và công bằng trong phân phối dịch vụ, khắc phục những bất cập, khiếm khuyết của thị trường thông qua hoạt động ban hành chính sách, pháp luật… hoặc trực tiếp tổ chức, can thiệp vào việc cung cấp dịch vụ. Dịch vụ công chứng là dịch vụ công thiết yếu của Nhà nước, do Nhà nước tổ chức, nhưng được chia sẻ một phần cho tổ chức của tư nhân cung cấp. Dịch vụ công chứng không giống dịch vụ thương mại thông thường khác, nó mang tính chất “dịch vụ công” nhưng không phải là “hoạt động công vụ”, mà được tổ chức, vận hành theo quy luật cơ bản của thị trường và theo nhu cầu của đời sống xã hội.

Việc Nhà nước ủy quyền theo phương diện ủy nhiệm và giao quyền cho CCV, không hẳn là viên chức, thực hiện việc cung cấp dịch vụ công thiết yếu nhằm chia sẻ với tư nhân một phần hoạt động cung cấp dịch vụ công, nhưng không phải là chia sẻ quyền lực nhà nước. Thông qua công chứng, những giao dịch bình thường được chuyển hóa thành VBCC có giá trị pháp lý như văn bản, tài liệu công.

Dịch vụ công chứng đặc biệt ở những phương diện: (i) Là dịch vụ phục vụ cộng đồng của Nhà nước nhưng được Nhà nước ủy nhiệm và giao quyền cho cá nhân CCV thực hiện; (ii) Thực hiện thông qua tác nghiệp trực tiếp cá nhân của CCV, là chủ thể pháp lý đặc biệt có những đòi hỏi về điều kiện và phẩm chất hành nghề nhất định do luật định; (iii) Việc công chứng thực hiện bằng cách thức CCV chứng nhận giao dịch và loại bỏ những yếu tố, thành phần bất hợp pháp, vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội trong giao dịch đưa giao dịch bình thường trở thành chứng cứ xác thực, có giá trị pháp lý, được công nhận, duy trì và bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch được công chứng; (iv) Những giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội thường được các bên yêu cầu hoặc pháp luật của quốc gia quy định phải công chứng.

Theo: Hoàng Mạnh Thắng

Link luận án:  Tại đây

avatar
Đặng Quỳnh
883 ngày trước
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
2.1.  Những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng2.1.1.   Khái quát lý luận về công chứng, nghề công chứng và công chứng viên2.1.1.1.   Khái niệm và đặc điểm của công chứng, dịch vụ công chứngCông chứng là nhu cầu của xã hội xuất phát từ việc bảo vệ, bảo đảm an toàn về pháp lý cho các giao dịch trong xã hội. Công chứng khởi nguồn từ xã hội và mang tính xã hội sâu sắc, lúc đầu do những cá nhân có uy tín tự tổ chức, sau đó chức năng quan trọng này được Nhà nước tổ chức, duy trì hoạt động, đến nay chức năng công chứng đã từng bước được trả về cho xã hội.Với sự ra đời từ rất lâu và gắn bó chặt chẽ với đời sống cư dân, khởi đầu công chứng là nghề tự do, phục vụ cho nhu cầu giao thương, tự bảo vệ của cư dân khi thiết lập các khế ước cần đến vai trò làm chứng để bảo đảm tính minh bạch, chính xác, đề phòng tranh chấp trong giao dịch. Đây là nhu cầu tự nhiên hình thành do cơ chế tự phòng vệ của cư dân khi tham gia giao dịch, vốn dĩ xuất phát từ sự bất tín, lật lọng sẽ có thể xảy ra, dẫn đến tranh chấp, nên xã hội phải cần cơ chế tự phòng vệ như xét xử, phạt vi phạm, làm chứng... thông qua vai trò của Nhà nước trong việc tổ chức cơ chế phòng vệ này bằng hệ thống cơ quan xét xử, thi hành án, công chứng… để bảo vệ an toàn pháp lý cho các giao dịch. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, công chứng đã khẳng định vai trò quan trọng, được xã hội thừa nhận và trở thành chức năng thiết yếu trên phương diện hỗ trợ và bổ trợ cho hoạt động tư pháp.Trên thế giới tồn tại nhiều khái niệm về công chứng, ở mỗi quốc gia, mỗi hệ thống pháp luật khái niệm này có nội hàm không giống nhau. Tuy nhiên, có thể nhận thấy những đặc điểm cơ bản của những khái niệm về công chứng, đó là: “xác thực”, “ghi chép lại bằng văn bản”, “lưu giữ” và “được thực hiện bởi CCV”. Nhìn chung, các nước theo hệ phái Latinh đều ghi nhận công chứng là hoạt động của CCV xác nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hành vi pháp lý dân sự, sự kiện và văn bản theo trình tự luật định. Hệ phái công chứng Latinh cho rằng bản chất cốt lõi của việc công chứng phải do và chỉ do CCV thực hiện. Các nước theo hệ phái công chứng Latinh, pháp luật đều chấp nhận quan điểm công chứng gắn với việc chứng nhận về nội dung hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. Theo Các nguyên tắc cơ bản của hệ thống công chứng Latinh, thì “công chứng là việc CCV ghi chép lại bằng văn bản, chứng nhận xác thực và lưu giữ chứng cứ nhằm bảo đảm giá trị pháp lý của VBCC”. Ở Trung Quốc, “công chứng là hoạt động được thực hiện bởi một TCHNCC, theo đơn đề nghị của một cá nhân hoặc pháp nhân hoặc tổ chức khác, theo đúng quy trình luật định để chứng nhận tính xác thực và hợp pháp của hành vi pháp lý dân sự, sự kiện hoặc tài liệu pháp lý”. Ở Liên bang Nga, theo Các nguyên tắc cơ bản của Luật Liên bang Nga về công chứng (phê duyệt ngày 11 tháng 02 năm 1993 (N4462-1), sửa đổi, bổ sung ngày 02 tháng 7 năm 2021), ghi nhận ở Điều 35 về việc “công chứng được thực hiện bởi CCV bao gồm công chứng các hợp đồng giao dịch, chứng nhận quyền sở hữu của phần tài sản trong khối tài sản chung, áp dụng và hủy bỏ ngăn chặn liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản, chứng thực bản sao, chữ ký, xác nhận thông tin nhân thân và cung cấp chứng cứ”. Ở Hàn Quốc, “công chứng là hệ thống lưu giữ chứng cứ dạng văn bản, nhằm ngăn ngừa tranh chấp và tạo điều kiện để thực hiện các quyền của cá nhân”.Như vậy, có thể hiểu: “Công chứng là việc CCV chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của nội dung giao dịch bằng văn bản theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, hoạt động công chứng cũng hướng tới xu thế hình thành công chứng số nhằm phục vụ cho nhu cầu công chứng đối với giao dịch điện tử ngày càng tăng cao, với tính ưu việt và bảo mật cao. Cư dân sẽ lựa chọn công chứng số hay công chứng truyền thống tùy thuộc vào nhu cầu giao dịch của họ. Thực tiễn đa số quốc gia đều đã ban hành luật công nhận hiệu lực pháp lý của chữ ký điện tử và tài liệu điện tử và khuyến khích phát hành Công ước điện tử Apostilles, cũng như để tạo điều kiện công chứng hóa điện tử các tài liệu công. Ở Hàn Quốc đã triển khai xây dựng Trung tâm Tài liệu điện tử được chứng nhận, chính thức được khai thác từ năm 2012, khởi đầu cho việc công chứng các tài liệu và văn bản điện tử. Những quốc gia thực hiện công chứng số đều khởi nguồn từ việc đơn giản như chứng nhận bản sao điện tử, chữ ký điện tử và công chứng trực tuyến và đi đến những hoạt động phức tạp của công chứng số.Công chứng số gắn liền với quá trình chuyển đổi số trong hoạt động công chứng, qua đó việc công chứng số được thực hiện thông qua kiểm chứng, xác thực bằng cơ sở dữ liệu số; lưu trữ và trích xuất dữ liệu số; chứng nhận VBCC số, sử dụng chữ ký số và con dấu số; quản lý việc tác nghiệp trên môi trường số; báo cáo, thống kê, kiểm tra, lập kế hoạch và xây dựng chính sách theo phân tích dữ liệu số. Vì vậy, có thể hiểu: “Công chứng số được thực hiện trên môi trường điện tử, do CCV chứng nhận thông qua công cụ số, chữ ký số, tạo ra VBCC điện tử phục vụ cho các giao dịch điện tử của cá nhân, tổ chức và được lưu trữ trên cơ sở dữ liệu tập trung theo trình tự, thủ tục do luật định”.Ở Việt Nam, hoạt động công chứng hiện nay chưa bắt kịp tiến bộ của công nghệ thông tin trong bối cảnh nền kinh tế thực hiện chuyển đổi số, Luật Công chứng mới chỉ đề cập đến việc xây dựng cơ sở dữ liệu công chứng nhằm ngăn ngừa những rủi ro phát sinh trong hoạt động công chứng. Vấn đề đặt ra là hoạt động công chứng cần cơ sở pháp lý và cách thức thực hiện để bảo đảm VBCC số được thực hiện trong môi trường điện tử có được giá trị pháp lý tương đương với VBCC được thực hiện theo cách truyền thống trên giấy tờ. Hay nói cách khác, pháp luật phải ghi nhận được giá trị pháp lý của VBCC điện tử và cơ sở dữ liệu công chứng quốc gia tập trung. VBCC điện tử được thực hiện công chứng trên môi trường điện tử, do CCV chứng nhận và ký bằng chữ ký số, được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu công chứng tập trung, có giá trị pháp lý như VBCC giấy do CCV ký trực tiếp và lưu giữ tại TCHNCC. Khi công chứng Việt Nam lựa chọn và tổ chức theo mô hình công chứng tự do với thể thức công chứng nội dung, thì công chứng số sẽ là giải pháp thích hợp và hữu hiệu khi kết hợp được những ưu điểm của công chứng nội dung là sự chặt chẽ, xác thực, bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch về cả nội dung và hình thức, cùng với những ưu điểm của công chứng hình thức là nhanh chóng, dễ tiếp cận, thuận tiện và chi phí thấp.Trong suốt quá trình từ khi hình thành và phát triển đến nay, công chứng luôn có những đặc điểm cơ bản như: (i) Việc công chứng do nhu cầu của xã hội, kể cả nhu cầu của các tầng lớp cư dân và Nhà nước trong việc ghi nhận, lưu giữ lâu dài, chính xác các tài liệu cơ sở để bảo đảm quyền lợi thông qua việc tạo lập, tập hợp và lưu giữ thành chứng cứ viết; (ii) CCV là người được Nhà nước chỉ định để lập và lưu giữ các chứng cứ văn bản và được Nhà nước thừa nhận giá trị và tính xác thực; (iii) Công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ, phục vụ theo yêu cầu và trả phí cho việc sử dụng dịch vụ.Công chứng cũng có thể nhìn nhận dưới góc độ là dịch vụ công thiết yếu do Nhà nước tổ chức thực hiện để phục vụ xã hội, thông qua việc trực tiếp thành lập hoặc giao quyền cho tư nhân thành lập TCHNCC, để tổ chức thực hiện cung cấp dịch vụ công chứng. Chủ thể được Nhà nước giao thực hiện cung cấp dịch vụ công có thể là tổ chức của Nhà nước hoặc tư nhân được Nhà nước giao quyền. Ở Việt Nam, dịch vụ công được tập trung vào chức năng phục vụ xã hội của Nhà nước, không bao gồm các chức năng công quyền như lập pháp, hành pháp, tư pháp, ngoại giao… Hoạt động cung cấp dịch vụ công không mang tính quyền lực nhà nước, khác với hoạt động công quyền của cơ quan nhà nước. Nhà nước không độc quyền cung cấp dịch vụ công mà xã hội hóa một số dịch vụ, qua đó, có thể chia sẻ và giao việc cung cấp một phần những dịch vụ công cho tư nhân thực hiện. Nhà nước giữ vai trò điều tiết dịch vụ công nhằm bảo đảm hiệu quả và công bằng trong phân phối dịch vụ, khắc phục những bất cập, khiếm khuyết của thị trường thông qua hoạt động ban hành chính sách, pháp luật… hoặc trực tiếp tổ chức, can thiệp vào việc cung cấp dịch vụ. Dịch vụ công chứng là dịch vụ công thiết yếu của Nhà nước, do Nhà nước tổ chức, nhưng được chia sẻ một phần cho tổ chức của tư nhân cung cấp. Dịch vụ công chứng không giống dịch vụ thương mại thông thường khác, nó mang tính chất “dịch vụ công” nhưng không phải là “hoạt động công vụ”, mà được tổ chức, vận hành theo quy luật cơ bản của thị trường và theo nhu cầu của đời sống xã hội.Việc Nhà nước ủy quyền theo phương diện ủy nhiệm và giao quyền cho CCV, không hẳn là viên chức, thực hiện việc cung cấp dịch vụ công thiết yếu nhằm chia sẻ với tư nhân một phần hoạt động cung cấp dịch vụ công, nhưng không phải là chia sẻ quyền lực nhà nước. Thông qua công chứng, những giao dịch bình thường được chuyển hóa thành VBCC có giá trị pháp lý như văn bản, tài liệu công.Dịch vụ công chứng đặc biệt ở những phương diện: (i) Là dịch vụ phục vụ cộng đồng của Nhà nước nhưng được Nhà nước ủy nhiệm và giao quyền cho cá nhân CCV thực hiện; (ii) Thực hiện thông qua tác nghiệp trực tiếp cá nhân của CCV, là chủ thể pháp lý đặc biệt có những đòi hỏi về điều kiện và phẩm chất hành nghề nhất định do luật định; (iii) Việc công chứng thực hiện bằng cách thức CCV chứng nhận giao dịch và loại bỏ những yếu tố, thành phần bất hợp pháp, vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội trong giao dịch đưa giao dịch bình thường trở thành chứng cứ xác thực, có giá trị pháp lý, được công nhận, duy trì và bảo đảm an toàn pháp lý cho giao dịch được công chứng; (iv) Những giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội thường được các bên yêu cầu hoặc pháp luật của quốc gia quy định phải công chứng.Theo: Hoàng Mạnh ThắngLink luận án:  Tại đây