KHÁI QUÁT LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG
2.1. Khái quát lý luận pháp luật về tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng
2.1.1. Khái niệm pháp luật về tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng
Theo Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, pháp luật được hiểu là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp nhà nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình, áp dụng cho mọi chủ thể và trên phạm vi quốc gia.
Đối với hoạt động công chứng, như đã trình bày ở trên, công chứng là dịch vụ công thiết yếu mang tính nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm trong việc cung cấp dịch vụ công chứng và quyết định mô hình công chứng, thể thức công chứng, loại hình tổ chức và hoạt động của của TCHNCC, bảo đảm cho cư dân được tiếp cận dịch vụ công chứng ở mọi địa bàn, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện kinh tế và xu thế phát triển kinh tế tương thích ở mỗi quốc gia. Tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu trên, Nhà nước phải ban hành pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ liên quan đến hoạt động công chứng, trong đó, có vấn đề tổ chức và hoạt động của TCHNCC.
Hầu hết các quốc gia tồn tại hoạt động công chứng đều ban hành pháp luật để quy định về tổ chức và hoạt động của TCHNCC nhằm bảo đảm cho TCHNCC thực hiện tốt chức năng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật, những văn bản này phải công chứng hay do các cá nhân và tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. TCHNCC thay Nhà nước chứng nhận tính xác thực và hợp pháp của hợp đồng, giao dịch. TCHNCC có con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính bằng nguồn thu từ phí công chứng và thù lao công chứng. Do những đặc thù trong quy định hình thức pháp lý về tổ chức và hoạt động của TCHNCC, các quy định pháp luật về vấn đề này chủ yếu nằm trong Luật Công chứng và các văn bản pháp luật có liên quan.
Với các phân tích ở phần trên và dựa theo nguyên lý của điều chỉnh pháp luật, có thể đưa ra khái niệm: “Pháp luật về tổ chức và hoạt động của TCHNCC là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động công chứng, quy định hình thức pháp lý của TCHNCC, địa vị pháp lý của CCV, nguyên tắc hoạt động; cơ chế quản lý và kiểm soát của Nhà nước đối với tổ chức và hoạt động hành nghề công chứng, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức trong hoạt động công chứng”.
2.1.2. Những nội dung cơ bản của pháp luật về tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề công chứng
Một là, quy định dịch vụ công chứng và địa vị pháp lý của CCV.
Ở hầu hết các nước có nền tư pháp phát triển thì công chứng được coi là một dịch vụ. Tại các nước theo hệ thống thông luật (Common Law) công chứng là một dịch vụ pháp lý bình thường giống như luật sư. Một số ít quốc gia theo trường phái công chứng tập thể (các nước trong hệ thống XHCN trước đây), thì công chứng được coi như một thủ tục hành chính, được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước. Hầu hết các quốc gia theo hệ thống dân luật (Civil Law) coi công chứng là một loại dịch vụ công. Về bản chất, có coi là thủ tục hay là dịch vụ thì công chứng vẫn là một hoạt động thu thập và lưu giữ chứng cứ. Sự khác nhau nằm ở phạm vi của hoạt động công chứng rộng hay hẹp, ưu tiên đáp ứng cho nhu cầu quản lý của Nhà nước hay nhu cầu bảo đảm an toàn pháp lý của người dân hay dung hòa cân bằng giữa hai đối tượng này.
Khi coi công chứng là một thủ tục, dường như pháp luật hướng sự ưu tiên cho yếu tố kiểm soát, quản lý và bảo đảm trật tự xã hội của Nhà nước. Khi coi công chứng là một dịch vụ, tính chất phục vụ được đặt lên cao hơn và dường như pháp luật đã ưu tiên hướng đến các nhu cầu bảo đảm an toàn pháp lý của người dân. Dù vậy, có thể thấy việc đáp ứng nhiệm vụ của Nhà nước hay nhu cầu của người dân thì nó cũng đều quan trọng cả, hơn nữa mục đích cao nhất là duy trì trật tự xã hội, bảo đảm các nhu cầu cơ bản của con người. Vì vậy, mà ở rất nhiều quốc gia hiện nay, công chứng được quy định và hiểu một cách hài hòa, cân bằng hơn, đó là một loại dịch vụ công, có thể hiểu đây là một dịch vụ cơ bản, thiết yếu phục vụ cho lợi ích của người dân và bảo đảm lợi ích chung của toàn xã hội.
Dịch vụ công chứng được pháp luật quy định là dịch vụ công do CCV được Nhà nước bổ nhiệm và giao quyền thực hiện chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch và giấy tờ theo yêu cầu của công dân, tổ chức, nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho hợp đồng, giao dịch và giấy tờ được công chứng, góp phần phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, tổ chức và xã hội. CCV là chức danh bổ trợ tư pháp do Nhà nước bổ nhiệm cho cá nhân có đủ các điều kiện, phẩm chất theo luật định, được Nhà nước giao quyền thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công chứng phục vụ xã hội, bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch được công chứng, góp phần phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật. Nhiều quốc gia có quy định khi được bổ nhiệm CCV phải tuyên thệ thực hiện chức năng công chứng một cách tự giác, chỉ tuân theo pháp luật, giữ gìn bí mật nghề nghiệp, bí mật Nhà nước, tôn trọng nguyên tắc trung thực, vô tư, liêm khiết. Trong quá trình hành nghề, CCV cũng luôn phải trung thành với tuyên thệ: vô tư, khách quan, không đại diện cho một bên đương sự. CCV phải chứng tỏ mình xứng đáng với nghề nghiệp, từ chối công chứng nếu xét thấy không phù hợp với nghiệp vụ của mình, nhất là thấy việc công chứng phục vụ mục đích bất hợp pháp và không lành mạnh. Ngược lại, CCV cũng không có nghĩa vụ phải công chứng bằng ngôn ngữ khác với quốc gia mình hành nghề hoặc do có lo ngại sẽ không vô tư, khách quan. CCV là chuyên gia có chuyên môn độc lập và trung lập, chuyên giải quyết trước các hậu quả pháp lý để không xảy ra kiện tụng sau này khi các giao dịch được thực hiện, nên CCV cũng có các nghĩa vụ khi hành nghề, cụ thể như sau:
(i) Nghĩa vụ hành động: Với nhiệm vụ và quyền hạn của CCV, đây chính là nghĩa vụ đầu tiên và cơ bản nhất của CCV. CCV không thể từ chối thực hiện việc công chứng mỗi khi được yêu cầu (theo pháp luật công chứng của Pháp, Ba Lan, Trung Quốc...), trừ phí hoạt động đó là trái với trật tự công cộng hoặc thuần phong mỹ tục. Pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức cũng quy định CCV không được từ chối công chứng nếu không có lý do chính đáng. Trách nhiệm này phải do chính CCV trực tiếp thực hiện, song tại một số nước có quy định rõ trong pháp luật như Pháp có quy định về chức danh thư ký công chứng thì CCV có thể ủy quyền cho thư ký thực hiện một số công việc nếu được người yêu cầu công chứng đồng ý và CCV vẫn là người chịu trách nhiệm cuối cùng. Trong hầu hết các trường hợp thì CCV thực hiện việc công chứng một mình, song pháp luật của Pháp cũng có thể cho phép một số trường hợp VBCC được lập bởi 2 CCV.
(ii) Nghĩa vụ tuân thủ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp và quy tắc kỷ luật: Các nghĩa vụ này phải được các CCV tôn trọng vì họ là được Nhà nước bổ nhiệm chứ không chỉ là những người đơn thuần hoạt động tự do. Nếu không tuân thủ các quy tắc này, họ sẽ bị kỷ luật dưới các hình thức khác nhau như cảnh cáo, đình chỉ hoặc miễn nhiệm (theo pháp luật công chứng của Trung Quốc, Pháp, Tây Ban Nha...).
(iii) Nghĩa vụ bảo mật thông tin biết được trong quá trình hành nghề: Đây là một trong những nghĩa vụ được hầu hết các nước thống nhất quy định và đây là nghĩa vụ phải thực hiện kể cả sau khi họ không còn là CCV nữa. Theo pháp luật công chứng của Cộng hòa Liên bang Đức, CCV không được cấp bản sao công chứng hay tiết lộ nội dung văn bản với người không phải là đương sự, người thừa kế và người có nghĩa vụ, quyền lợi đối với đương sự, trừ trường hợp có lệnh của Chánh án có thẩm quyền; nếu vi phạm mà gây thiệt hại thì bị phạt tiền, tái phạm sẽ bị đình chỉ hành nghề 3 tháng. CCV phải giữ bí mật công vụ, kể cả sau khi chấm dứt chức danh và phải giải thích cho người làm việc cho mình tuân thủ nghĩa vụ đó, trừ trường hợp được các bên tham gia hoặc cơ quan giám sát cho phép. Tại Ba Lan, CCV phải giữ bí mật thông tin nắm được qua hoạt động nghề nghiệp, trừ trường hợp được Bộ trưởng Bộ Tư pháp cho phép. Trường hợp làm chứng trước Tòa án thì không cần giữ bí mật nếu việc này không gây hại cho Nhà nước hoặc cho cá nhân. Theo pháp luật Trung Quốc, CCV bị cấm tự ý cung cấp VBCC, cấm cấp VBCC không đúng sự thật hoặc bất hợp pháp, cấm tiết lộ bí mật quốc gia, bí mật kinh doanh hoặc chuyện riêng tư cá nhân biết được trong quá trình công chứng. Theo pháp luật của Tây Ban Nha, Quy chế công chứng cũng quy định hồ sơ lưu trữ các văn kiện công chứng là các tài liệu mật.
Theo: Hoàng Mạnh Thắng
Link luận án: Tại đây