0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64b5f5f9750d2-NHỮNG-VẤN-ĐỀ-LÝ-LUẬN-VỀ-NGƯỜI-LAO-ĐỘNG-CAO-TUỔI-VÀ-VỀ-PHÁP-LUẬT-NGƯỜI-LAO-ĐỘNG-CAO-TUỔI-.jpg.webp

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CAO TUỔI VÀ VỀ PHÁP LUẬT NGƯỜI LAO ĐỘNG CAO TUỔI

 

2.1. Người lao động cao tuổi: Khái niệm, đặc điểm và vai trò

2.1.1. Khái niệm người lao động cao tuổi

2.1.1.1.   Khái niệm người cao tuổi

Khái niệm NCT được xem xét ở nhiều giác độ khác nhau và ở mỗi quốc gia trên thế giới thì khái niệm này cũng được hiểu không giống nhau, nó phụ thuộc vào quan niệm như thế nào là “tuổi già”. Ở các nước phát triển, do điều kiện phúc lợi xã hội và y tế tốt, cùng với những thuận lợi khác về môi trường xã hội nên công dân có thể sống khoẻ mạnh và vẫn có đóng góp cho xã hội kể cả trong độ tuổi khá cao. Trong bối cảnh đó, độ tuổi được xem là “tuổi già” và gắn với nó là khái niệm “NCT” có xu hướng cao hơn ở các nước đang phát triển. Cụ thể, hầu hết các nước châu Âu xem NCT là những người từ 65 tuổi trở lên, trong khi ở một số nước châu Phi độ tuổi được xem là NCT chỉ vào khoảng 50 đến 55. Về phía các tổ chức quốc tế, Uỷ ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (cơ quan giám sát thực hiện Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá năm 1966 của Liên Hợp quốc) trong Bình luận chung số 06 năm 1995 (về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá của NCT) xác định NCT là người từ 60 tuổi [93]. Quỹ Dân số Liên Hợp quốc (UNPFA), trong Báo cáo tóm tắt “Già hóa trong thế kỉ 21: Thành tựu và thách thức” công bố năm 2012 tuy không nêu cụ thể nhưng cũng hàm ý NCT là những người có độ tuổi từ 60 trở lên. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại xác định tuổi già là 65. Tương tự, Cơ quan Thống kê của Liên minh Châu Âu (Eurostat) cũng coi “người cao tuổi” là những người từ 65 tuổi trở lên .

Dưới góc độ y học, NCT là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể. Mỗi quốc gia có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe, điều kiện sống khác nhau nên sức khỏe và các biểu hiện già hóa của người dân ở mỗi nước cũng có thể khác nhau.

Dưới góc độ luật học, cuộc đời mỗi người chia làm 3 giai đoạn chính: Giai đoạn chưa thành niên, giai đoạn thành niên và giai đoạn cao niên. Cao niên thường là chỉ thời kỳ mà con người ở vào giai đoạn cuối cuộc đời, đã có mặt trên thế gian nhiều thập kỷ mà phần lớn các nước xác định độ tuổi đó là 60. Để mô tả con người ở giai đoạn cuối cuộc đời, người ta đã sử dụng thuật ngữ người già hoặc NCT. Ở một số nước trên thế giới còn gọi là “lớp người thứ ba”. Quá trình già hóa của cơ thể con người là do sự tác động của thời gian và quá trình sống lên cơ thể sống. Thời gian vật lý là tháng, năm trôi qua, quá trình và môi trường sống là thời gian sinh, gia đình, xã hội, tôn giáo, trình độ văn hóa xã hội, quá trình đào tạo, nghề nghiệp, hành vi và các biến cố của cuộc đời…

Trạng thái già xuất hiện ở từng người với từng thời điểm khác nhau. Có người trẻ lâu, có người già sớm. Cao tuổi không phải khi nào cũng là già. Do vậy, già không đồng nghĩa với tuổi cao.Theo các chuyên gia y học, cao tuổi chưa hẳn đã già, nhưng nhiều người đã già khi tuổi chưa cao. Theo thời gian, quá trình biến đổi của cơ thể song song với sự tích lũy tuổi tác. Quá trình này bắt đầu khi con người mới sinh ra, liên tục tiến triển song song với quá trình sống của con người và kết thúc khi sự sống kết thúc. Tuổi càng nhiều thì càng có nhiều vấn đề về sức khỏe và nhiều chức năng của cơ thể bị suy giảm, trong đó có hệ thống miễn dịch suy giảm dẫn đến dễ mắc bệnh.

Ở giai đoạn cao tuổi, con người có những đặc điểm tâm sinh lý khác với giai đoạn tuổi trẻ. Trải qua quá trình lão hóa nên NCT có những thay đổi về thể chất và tâm lý so với giai đoạn trước đó. Đây là diễn biến tự nhiên của cơ thể con người mà không thể đảo ngược.

Trước hết là những thay đổi về thể chất. Do sự lão hóa của các cơ quan trong cơ thể và khả năng miễn dịch của cơ thể bị suy giảm, NCT thường rất dễ mắc các bệnh truyền nhiễm như cảm cúm, viêm phổi… Đồng thời, do sự suy giảm chức năng của hệ miễn dịch nên NCT thường mắc các bệnh mạn tính như: Tim mạch, tăng huyết áp, đột quỵ, đái tháo đường, ung thư, phổi tắc nghẽn mãn tính, thoái hóa khớp, loãng xương, sa sút trí tuệ. Có thể nhận thấy tuổi là yếu tố có mối liên quan chặt chẽ với tình trạng sức khỏe. Tuổi càng cao, sức khỏe càng giảm. Thực tế cho thấy tỷ lệ đau ốm tăng dần theo nhóm tuổi.

Không chỉ có những thay đổi về thể chất, NCT còn có những thay đổi lớn về tâm lý theo thời gian. Ở mỗi giai đoạn phát triển của con người thì mỗi cá nhân đều có những biến đổi về tâm lý. Tuy nhiên, đối với NCT, những thay đổi này có sự đa dạng, phức tạp hơn. Có thể sự diễn biến tâm lý ở mỗi cá nhân có khác nhau. Có thể diễn biến theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Nhìn chung, NCT với sự tích lũy kinh nghiệm trong cuộc đời, sự gia tăng kiến thức và sự thành thạo các kỹ năng trải qua những biến động của thời gian sẽ có tác phong khác người trẻ tuổi. Mặt khác, quá trình lão hóa của cơ thể và những bệnh tật mà NCT mắc phải cũng ảnh hưởng tới sự tâm lý, ứng xử của họ. Tùy thuộc vào mức độ trải nghiệm những áp lực, căng thẳng, lo âu trong cuộc sống của NCT mà quyết định trạng thái tâm lý của họ theo hướng là vô tư, bình thản hoặc dễ cảm xúc đến những biểu hiện tự tin, tự chủ, lạc quan, bi quan, tự ti hoặc giận hờn, bùng nổ…Vì vậy cần có sự tham gia của nhiều cá nhân trong xã hội và gia đình để giúp NCT có trạng thái tâm lý theo chiều hướng tích cực.

Như vậy, có thể thấy, NCT là người thuộc một bộ phận dân cư sống qua một độ tuổi nhất định, độ tuổi này được pháp luật của từng nước quy định. Tại các nước phát triển, luật quy định từ 65 tuổi trở lên được coi là NCT. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển và kém phát triển quy định về độ tuổi của NCT tùy theo luật của từng nước, một số nước quy định trong luật là 60 tuổi trở lên trong khi một số nước khác quy định mốc 65 tuổi trở lên. Hiện tại chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho các quốc gia, Liên Hợp Quốc chấp nhận từ 60 tuổi trở lên là mốc để xác định dân số già. Trong người già, người cao niên, NCT phân loại người già nhất từ 85 trở lên.

Trong nghiên cứu của mình, xét trong bối cảnh của một đất nước đang phát triển như Việt Nam, mặc dù tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 73 năm nhưng chỉ có 64 năm sống khỏe [76] và với mục đích là dễ nhận diện và khoanh vùng, tác giả chọn khái niệm NCT là nhóm dân số có độ tuổi từ 60 trở lên đang có sự thay đổi về ngoại hình, sức khỏe, tâm lý và tinh thần.

2.1.1.2.   Khái niệm người lao động cao tuổi

Cũng giống như khái niệm về NCT, khái niệm NLĐCT được quy định khác nhau ở mỗi quốc gia và tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử.

Theo Liên hợp quốc, NLĐCT là những người từ 60 tuổi trở lên đang làm việc. Còn theo cơ quan Thống kê châu Âu (UROSTAT) định nghĩa NLĐCT là những người từ 55 đến 64 tuổi đang làm việc.

Pháp luật của một số nước EU cho rằng: NLĐCT là người lao động đã hết tuổi lao động theo qui định của pháp luật, còn khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động.

Thuật ngữ “người lao động cao tuổi” thường dùng để chỉ những người lao động từ 50 hoặc 55 tuổi trở lên. Ngưỡng này được chọn vì ở nhiều quốc gia, độ tuổi này tương ứng với sự suy giảm tỷ lệ tham gia vào thị trường lao động .

Tại Mỹ, Đạo luật chống phân biệt đối xử về tuổi tác trong việc làm năm 1967 thì cho rằng: NLĐCT với tư cách là nhóm được bảo vệ, bao gồm những người từ 40 tuổi trở lên. Độ tuổi này cũng là ngưỡng mà nhân viên có thể nhận thấy rằng cơ hội đào tạo và phát triển tại nơi làm việc dường như ít dành cho họ.

Nghiên cứu của Pitt-Catsouphes, M. & Smyer, M. (2005). Older workers cũng chỉ ra rằng NLĐCT khi đến tuổi nghỉ hưu là độ tuổi họ bắt đầu nhận các quyền lợi ASXH hiện tại là 65 (đối với những người đã 62 tuổi vào năm 2000). Độ tuổi này sẽ tăng dần lên 67 vào năm 2022. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải thừa nhận rằng độ tuổi 62-65 là mốc đánh dấu sự bắt đầu nghỉ hưu nhưng không phải là sự khởi đầu của một giai đoạn cuộc sống và sự nghiệp của một người lao động cao tuổi tuổi.

Tùy thuộc vào quy định về độ tuổi nghỉ hưu của các quốc gia khác nhau để xác định đối tượng lao động NCT. Hay nói một cách khác, yếu tố độ tuổi là yếu tố quan trọng trong việc xác định đối tượng lao động NCT.

Bên cạnh đó, do sự khác biệt về giới giữa lao động nam và lao động nữ mà việc xác định hết tuổi lao động có qui định khác nhau, thường theo hướng lao động nữ được nghỉ sớm hơn.

Như vậy để thống nhất với phạm vi nghiên cứu của luận án, theo cách hiểu của NCS, NLĐCT là người tiếp tục lao động sau độ tuổi nghỉ hưu, họ còn khả năng lao động và có kí kết hợp đồng lao động.

2.1.2. Đặc điểm của người lao động cao tuổi

Thứ nhất, NLĐCT thường hạn chế về sức khỏe do tuổi cao. Sau một thời gian lao động, cùng với qui luật sinh học tự nhiên của con người, NLĐCT xuất hiện những biểu hiện của sự suy giảm các chức năng tâm sinh lý và chức năng làm việc, các phản xạ chậm hơn và có phần kém đi, họ cần được nghỉ ngơi. Tuy vậy, trong thực tế có nhiều NLĐCT mong muốn được tiếp tục làm việc, được tiếp tục cống hiến và tham gia các hoạt động xã hội để có thêm thu nhập.

Về phía NSDLĐ, dĩ nhiên phải có nhu cầu mới sử dụng họ, như cần người lao động cao tuổi cố vấn về chuyên môn, truyền đạt kinh nghiệm cho thế hệ trẻ, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật cho những người mới bước vào nghề. Chính vì lý do này, NLĐCT cần cân nhắc lựa chọn việc giao kết hợp đồng lao động với nghề nghiệp và điều kiện lao động phù hợp với tình trạng sức khỏe của mình.

Thứ hai, NLĐCT còn hạn chế về trí lực, yếu tố này cho thấy khả năng ghi nhớ kém tập trung, NLĐCT khó tiếp cận những kiến thức và qui trình hiện đại so với những kinh nghiệm đã có…Tuy nhiên, họ lại có ưu điểm là nhiều kinh nghiệm, sự thận trọng và trách nhiệm trong công việc.

Thứ ba, NLĐCT thích ứng với các loại công việc đòi hỏi kinh nghiệm, trình độ khoa học kỹ thuật hay trình độ quản lý, không phù hợp với các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Bởi lẽ, trải qua một quá trình học tập, tích lũy kinh nghiệm, kiến thức, giá trị sức lao động của NLĐCT ngày càng tăng cao. Ở góc độ này, NLĐCT được coi là nguồn lực quan trọng của quốc gia. Do vậy, cần có sự khai thác hợp lý giá trị sức lao động của đối tượng này. Việc quan tâm của xã hội đến những người lao động cao tuổi không chỉ bằng những khoản trợ cấp xã hội, mà quan trọng hơn là giúp họ tự lực cải thiện đời sống, tạo điều kiện cho họ thể hiện mình vẫn là người có ích cho xã hội.

2.1.3. Vai trò của người lao động cao tuổi

Với kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình lao động, cống hiến, với những giá trị văn hóa truyền thống được lưu giữ, NLĐCT thực sự đóng góp lớn cho sự phát triển trên mọi mặt của đời sống xã hội. Theo đó, những vai trò quan trọng của NLĐCT được thể hiện trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất, NLĐCT là một nguồn lực quan trọng của xã hội. NLĐCT là những người có kiến thức, kinh nghiệm. Trong số NCT, rất nhiều người là những chuyên gia, người lao động trình độ cao của các ngành, lĩnh vực; có sức khỏe, có nguyện vọng tiếp tục cống hiến cho gia đình và xã hội. Họ không muốn nghỉ ngơi thụ động, phụ thuộc vào con cái mà muốn có cuộc sống chủ động, tích cực, tham gia công việc gia đình, xã hội. Bên cạnh đó, NLĐCT còn truyền thụ kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ và nghề truyền thống cho thế hệ trẻ; nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ; tư vấn chuyên môn, kỹ thuật; phát triển kinh tế, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp. NLĐCT đã trải qua những giai đoạn thăng trầm của lịch sử, đã tích lũy được tri thức, kinh nghiệm sản xuất, đạo đức, lối sống để truyền dạy cho các thế hệ sau, những vốn quý về văn hóa, truyền thống dân tộc đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bằng vốn kiến thức đã tích lũy, những trải nghiệm cuộc sống… NCT không chỉ truyền dạy cho con cháu mà còn truyền dạy cho các thế hệ sau. Vì vậy, Nhà nước và xã hội cần thay đổi quan niệm, cách tiếp cận, cách nhìn đối với vấn đề NCT. Thực tế có rất nhiều người còn sức khỏe, nhất là từ 60 tuổi đến 70 tuổi. Họ vẫn muốn tiếp tục cống hiến, vẫn muốn được tạo điều kiện nhưng chưa được đáp ứng. NCT không chỉ là vấn đề cần giải quyết mà còn là cơ hội, nguồn lực cho sự phát triển. Nhà nước cần quan tâm tạo cơ chế, chính sách để thu hút, khai thác nguồn lực một cách hiệu quả.

Thứ hai, khi NLĐCT tham gia vào thị trường lao động sẽ làm giảm áp lực về lao động, nhất là trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang đối mặt với thách thức già hóa dân số. Báo đảm lực lượng lao động ổn định là một phần quan trọng đó bảo đảm các quỹ an sinh nhằm đáp ứng với chi phí ASXH ngày một tăng cao do dân số già. Chính sách tạo việc làm cho NCT là rất cần thiết hiện nay, nó không chi bảo đảm ổn định chính trị xã hội, mà còn trực tiếp góp phần củng cố và nâng cao sức mạnh kinh tế của đất nước. Tham gia vào thị trường lao động, những NLĐCT không chỉ tạo ra một vị thế mới mà còn đảm bảo được chất lượng cuộc sống từ nguồn thu nhập do làm việc. NCT, đặc biệt là người có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, tiếp tục làm việc là nguồn nhân lực tốt. Vì vậy, Nhà nước và xã hội cần thay đổi quan niệm, cách tiếp cận, cách nhìn đối với vấn đề NCT. Thực tế có rất nhiều người còn sức khỏe, nhất là từ 60 tuổi đến 70 tuổi. Họ vẫn muốn tiếp tục cống hiến, vẫn muốn được tạo điều kiện nhưng chưa được đáp ứng. NCT không chỉ là vấn đề cần giải quyết mà còn là cơ hội, nguồn lực cho sự phát triển. Nhà nước cần quan tâm tạo cơ chế, chính sách để thu hút, khai thác nguồn lực một cách hiệu quả.

Thứ ba, NLĐCT góp phần vào các hoạt động động nhằm đạt được các mục tiêu quốc gia về chính trị, kinh tế, xã hội của quốc gia. NLĐCT khi tham gia vào thị trường lao động, nắm một vị trí hết sức đặc biệt bởi họ có kinh nghiệm, có kỹ năng, có năng lực tích lũy qua thời gian làm việc lâu dài. Bên cạnh đó, ý thức kỷ luật, ý thức chấp hành và sự am hiểu về pháp luật của họ rất tốt, tiếp nữa họ làm việc chậm rãi, tỉ mì và cũng ít bị tai nạn lao động hơn. Mặt khác, việc thỏa thuận sử dụng lao động với nhóm NCT cũng dễ dàng hơn các nhóm lao động khác. Do đó, NLĐCT vẫn có khả năng làm việc và sự eo hẹp của ngân sách nhà nước, nguồn hỗ trợ của Nhà nước sẽ khó có thể đảm bảo mức hỗ trợ tốt cho NCT, đặc biệt là với những người không có lương hưu.

Trong Ngày quốc tế NCT 01/10/2016, Liên Hợp Quốc kêu gọi thế giới khai thác những đóng góp của NCT, đồng thời kêu gọi chăm sóc thích hợp để đảm bảo cho NCT có cơ hội đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại. Tại Việt Nam, Luật NCT năm 2009 quy định về hoạt động phát huy vai trò NCT (Điều 23). Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để NCT phát huy trí tuệ, kinh nghiệm quý báu và phẩm chất tốt đẹp của mình cho sự phát triển chung của xã hội. Trên quan điểm đó, hàng năm Nhà nước dành kinh phí hợp lý hỗ trợ NCT trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và tạo môi trường thuận lợi để NCT tiếp tục đóng góp cho xã hội. Vì vậy, Nhà nước và xã hội cần thay đổi quan niệm, cách tiếp cận, cách nhìn đối với vấn đề NCT. Thực tế có rất nhiều người còn sức khỏe, nhất là từ 60 tuổi đến 70 tuổi. Họ vẫn muốn tiếp tục cống hiến, vẫn muốn được tạo điều kiện nhưng chưa được đáp ứng. NCT không chỉ là vấn đề cần giải quyết mà còn là cơ hội, nguồn lực cho sự phát triển. Nhà nước cần quan tâm tạo cơ chế, chính sách để thu hút, khai thác nguồn lực một cách hiệu quả.

Chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng hướng trực tiếp đến NCT; khuyến khích, tạo điều kiện, hỗ trợ cho họ rèn luyện sức khỏe; tham gia học tập; hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhà nước cần bố trí nguồn lực hằng năm để thực hiện pháp luật, chính sách chăm sóc và phát huy vai trò NCT, nhất là đối với những NCT có hoàn cảnh đặc biệt. Những nỗ lực của gia đình, xã hội và Nhà nước sẽ tạo ra môi trường xã hội thúc đẩy tính năng động của NCT, tạo điều kiện và cơ hội tốt nhất phát huy được đầy đủ khả năng của NCT và cùng xã hội đáp ứng tốt nhất nhu cầu của nhóm xã hội đặc biệt này.

Theo: Trần Đức Thắng
Link luận án: Tại đây

avatar
Đặng Quỳnh
966 ngày trước
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CAO TUỔI VÀ VỀ PHÁP LUẬT NGƯỜI LAO ĐỘNG CAO TUỔI
 2.1. Người lao động cao tuổi: Khái niệm, đặc điểm và vai trò2.1.1. Khái niệm người lao động cao tuổi2.1.1.1.   Khái niệm người cao tuổiKhái niệm NCT được xem xét ở nhiều giác độ khác nhau và ở mỗi quốc gia trên thế giới thì khái niệm này cũng được hiểu không giống nhau, nó phụ thuộc vào quan niệm như thế nào là “tuổi già”. Ở các nước phát triển, do điều kiện phúc lợi xã hội và y tế tốt, cùng với những thuận lợi khác về môi trường xã hội nên công dân có thể sống khoẻ mạnh và vẫn có đóng góp cho xã hội kể cả trong độ tuổi khá cao. Trong bối cảnh đó, độ tuổi được xem là “tuổi già” và gắn với nó là khái niệm “NCT” có xu hướng cao hơn ở các nước đang phát triển. Cụ thể, hầu hết các nước châu Âu xem NCT là những người từ 65 tuổi trở lên, trong khi ở một số nước châu Phi độ tuổi được xem là NCT chỉ vào khoảng 50 đến 55. Về phía các tổ chức quốc tế, Uỷ ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (cơ quan giám sát thực hiện Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá năm 1966 của Liên Hợp quốc) trong Bình luận chung số 06 năm 1995 (về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá của NCT) xác định NCT là người từ 60 tuổi [93]. Quỹ Dân số Liên Hợp quốc (UNPFA), trong Báo cáo tóm tắt “Già hóa trong thế kỉ 21: Thành tựu và thách thức” công bố năm 2012 tuy không nêu cụ thể nhưng cũng hàm ý NCT là những người có độ tuổi từ 60 trở lên. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại xác định tuổi già là 65. Tương tự, Cơ quan Thống kê của Liên minh Châu Âu (Eurostat) cũng coi “người cao tuổi” là những người từ 65 tuổi trở lên .Dưới góc độ y học, NCT là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể. Mỗi quốc gia có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe, điều kiện sống khác nhau nên sức khỏe và các biểu hiện già hóa của người dân ở mỗi nước cũng có thể khác nhau.Dưới góc độ luật học, cuộc đời mỗi người chia làm 3 giai đoạn chính: Giai đoạn chưa thành niên, giai đoạn thành niên và giai đoạn cao niên. Cao niên thường là chỉ thời kỳ mà con người ở vào giai đoạn cuối cuộc đời, đã có mặt trên thế gian nhiều thập kỷ mà phần lớn các nước xác định độ tuổi đó là 60. Để mô tả con người ở giai đoạn cuối cuộc đời, người ta đã sử dụng thuật ngữ người già hoặc NCT. Ở một số nước trên thế giới còn gọi là “lớp người thứ ba”. Quá trình già hóa của cơ thể con người là do sự tác động của thời gian và quá trình sống lên cơ thể sống. Thời gian vật lý là tháng, năm trôi qua, quá trình và môi trường sống là thời gian sinh, gia đình, xã hội, tôn giáo, trình độ văn hóa xã hội, quá trình đào tạo, nghề nghiệp, hành vi và các biến cố của cuộc đời…Trạng thái già xuất hiện ở từng người với từng thời điểm khác nhau. Có người trẻ lâu, có người già sớm. Cao tuổi không phải khi nào cũng là già. Do vậy, già không đồng nghĩa với tuổi cao.Theo các chuyên gia y học, cao tuổi chưa hẳn đã già, nhưng nhiều người đã già khi tuổi chưa cao. Theo thời gian, quá trình biến đổi của cơ thể song song với sự tích lũy tuổi tác. Quá trình này bắt đầu khi con người mới sinh ra, liên tục tiến triển song song với quá trình sống của con người và kết thúc khi sự sống kết thúc. Tuổi càng nhiều thì càng có nhiều vấn đề về sức khỏe và nhiều chức năng của cơ thể bị suy giảm, trong đó có hệ thống miễn dịch suy giảm dẫn đến dễ mắc bệnh.Ở giai đoạn cao tuổi, con người có những đặc điểm tâm sinh lý khác với giai đoạn tuổi trẻ. Trải qua quá trình lão hóa nên NCT có những thay đổi về thể chất và tâm lý so với giai đoạn trước đó. Đây là diễn biến tự nhiên của cơ thể con người mà không thể đảo ngược.Trước hết là những thay đổi về thể chất. Do sự lão hóa của các cơ quan trong cơ thể và khả năng miễn dịch của cơ thể bị suy giảm, NCT thường rất dễ mắc các bệnh truyền nhiễm như cảm cúm, viêm phổi… Đồng thời, do sự suy giảm chức năng của hệ miễn dịch nên NCT thường mắc các bệnh mạn tính như: Tim mạch, tăng huyết áp, đột quỵ, đái tháo đường, ung thư, phổi tắc nghẽn mãn tính, thoái hóa khớp, loãng xương, sa sút trí tuệ. Có thể nhận thấy tuổi là yếu tố có mối liên quan chặt chẽ với tình trạng sức khỏe. Tuổi càng cao, sức khỏe càng giảm. Thực tế cho thấy tỷ lệ đau ốm tăng dần theo nhóm tuổi.Không chỉ có những thay đổi về thể chất, NCT còn có những thay đổi lớn về tâm lý theo thời gian. Ở mỗi giai đoạn phát triển của con người thì mỗi cá nhân đều có những biến đổi về tâm lý. Tuy nhiên, đối với NCT, những thay đổi này có sự đa dạng, phức tạp hơn. Có thể sự diễn biến tâm lý ở mỗi cá nhân có khác nhau. Có thể diễn biến theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Nhìn chung, NCT với sự tích lũy kinh nghiệm trong cuộc đời, sự gia tăng kiến thức và sự thành thạo các kỹ năng trải qua những biến động của thời gian sẽ có tác phong khác người trẻ tuổi. Mặt khác, quá trình lão hóa của cơ thể và những bệnh tật mà NCT mắc phải cũng ảnh hưởng tới sự tâm lý, ứng xử của họ. Tùy thuộc vào mức độ trải nghiệm những áp lực, căng thẳng, lo âu trong cuộc sống của NCT mà quyết định trạng thái tâm lý của họ theo hướng là vô tư, bình thản hoặc dễ cảm xúc đến những biểu hiện tự tin, tự chủ, lạc quan, bi quan, tự ti hoặc giận hờn, bùng nổ…Vì vậy cần có sự tham gia của nhiều cá nhân trong xã hội và gia đình để giúp NCT có trạng thái tâm lý theo chiều hướng tích cực.Như vậy, có thể thấy, NCT là người thuộc một bộ phận dân cư sống qua một độ tuổi nhất định, độ tuổi này được pháp luật của từng nước quy định. Tại các nước phát triển, luật quy định từ 65 tuổi trở lên được coi là NCT. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển và kém phát triển quy định về độ tuổi của NCT tùy theo luật của từng nước, một số nước quy định trong luật là 60 tuổi trở lên trong khi một số nước khác quy định mốc 65 tuổi trở lên. Hiện tại chưa có một tiêu chuẩn thống nhất cho các quốc gia, Liên Hợp Quốc chấp nhận từ 60 tuổi trở lên là mốc để xác định dân số già. Trong người già, người cao niên, NCT phân loại người già nhất từ 85 trở lên.Trong nghiên cứu của mình, xét trong bối cảnh của một đất nước đang phát triển như Việt Nam, mặc dù tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 73 năm nhưng chỉ có 64 năm sống khỏe [76] và với mục đích là dễ nhận diện và khoanh vùng, tác giả chọn khái niệm NCT là nhóm dân số có độ tuổi từ 60 trở lên đang có sự thay đổi về ngoại hình, sức khỏe, tâm lý và tinh thần.2.1.1.2.   Khái niệm người lao động cao tuổiCũng giống như khái niệm về NCT, khái niệm NLĐCT được quy định khác nhau ở mỗi quốc gia và tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử.Theo Liên hợp quốc, NLĐCT là những người từ 60 tuổi trở lên đang làm việc. Còn theo cơ quan Thống kê châu Âu (UROSTAT) định nghĩa NLĐCT là những người từ 55 đến 64 tuổi đang làm việc.Pháp luật của một số nước EU cho rằng: NLĐCT là người lao động đã hết tuổi lao động theo qui định của pháp luật, còn khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động.Thuật ngữ “người lao động cao tuổi” thường dùng để chỉ những người lao động từ 50 hoặc 55 tuổi trở lên. Ngưỡng này được chọn vì ở nhiều quốc gia, độ tuổi này tương ứng với sự suy giảm tỷ lệ tham gia vào thị trường lao động .Tại Mỹ, Đạo luật chống phân biệt đối xử về tuổi tác trong việc làm năm 1967 thì cho rằng: NLĐCT với tư cách là nhóm được bảo vệ, bao gồm những người từ 40 tuổi trở lên. Độ tuổi này cũng là ngưỡng mà nhân viên có thể nhận thấy rằng cơ hội đào tạo và phát triển tại nơi làm việc dường như ít dành cho họ.Nghiên cứu của Pitt-Catsouphes, M. & Smyer, M. (2005). Older workers cũng chỉ ra rằng NLĐCT khi đến tuổi nghỉ hưu là độ tuổi họ bắt đầu nhận các quyền lợi ASXH hiện tại là 65 (đối với những người đã 62 tuổi vào năm 2000). Độ tuổi này sẽ tăng dần lên 67 vào năm 2022. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải thừa nhận rằng độ tuổi 62-65 là mốc đánh dấu sự bắt đầu nghỉ hưu nhưng không phải là sự khởi đầu của một giai đoạn cuộc sống và sự nghiệp của một người lao động cao tuổi tuổi.Tùy thuộc vào quy định về độ tuổi nghỉ hưu của các quốc gia khác nhau để xác định đối tượng lao động NCT. Hay nói một cách khác, yếu tố độ tuổi là yếu tố quan trọng trong việc xác định đối tượng lao động NCT.Bên cạnh đó, do sự khác biệt về giới giữa lao động nam và lao động nữ mà việc xác định hết tuổi lao động có qui định khác nhau, thường theo hướng lao động nữ được nghỉ sớm hơn.Như vậy để thống nhất với phạm vi nghiên cứu của luận án, theo cách hiểu của NCS, NLĐCT là người tiếp tục lao động sau độ tuổi nghỉ hưu, họ còn khả năng lao động và có kí kết hợp đồng lao động.2.1.2. Đặc điểm của người lao động cao tuổiThứ nhất, NLĐCT thường hạn chế về sức khỏe do tuổi cao. Sau một thời gian lao động, cùng với qui luật sinh học tự nhiên của con người, NLĐCT xuất hiện những biểu hiện của sự suy giảm các chức năng tâm sinh lý và chức năng làm việc, các phản xạ chậm hơn và có phần kém đi, họ cần được nghỉ ngơi. Tuy vậy, trong thực tế có nhiều NLĐCT mong muốn được tiếp tục làm việc, được tiếp tục cống hiến và tham gia các hoạt động xã hội để có thêm thu nhập.Về phía NSDLĐ, dĩ nhiên phải có nhu cầu mới sử dụng họ, như cần người lao động cao tuổi cố vấn về chuyên môn, truyền đạt kinh nghiệm cho thế hệ trẻ, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật cho những người mới bước vào nghề. Chính vì lý do này, NLĐCT cần cân nhắc lựa chọn việc giao kết hợp đồng lao động với nghề nghiệp và điều kiện lao động phù hợp với tình trạng sức khỏe của mình.Thứ hai, NLĐCT còn hạn chế về trí lực, yếu tố này cho thấy khả năng ghi nhớ kém tập trung, NLĐCT khó tiếp cận những kiến thức và qui trình hiện đại so với những kinh nghiệm đã có…Tuy nhiên, họ lại có ưu điểm là nhiều kinh nghiệm, sự thận trọng và trách nhiệm trong công việc.Thứ ba, NLĐCT thích ứng với các loại công việc đòi hỏi kinh nghiệm, trình độ khoa học kỹ thuật hay trình độ quản lý, không phù hợp với các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Bởi lẽ, trải qua một quá trình học tập, tích lũy kinh nghiệm, kiến thức, giá trị sức lao động của NLĐCT ngày càng tăng cao. Ở góc độ này, NLĐCT được coi là nguồn lực quan trọng của quốc gia. Do vậy, cần có sự khai thác hợp lý giá trị sức lao động của đối tượng này. Việc quan tâm của xã hội đến những người lao động cao tuổi không chỉ bằng những khoản trợ cấp xã hội, mà quan trọng hơn là giúp họ tự lực cải thiện đời sống, tạo điều kiện cho họ thể hiện mình vẫn là người có ích cho xã hội.2.1.3. Vai trò của người lao động cao tuổiVới kinh nghiệm được tích lũy trong quá trình lao động, cống hiến, với những giá trị văn hóa truyền thống được lưu giữ, NLĐCT thực sự đóng góp lớn cho sự phát triển trên mọi mặt của đời sống xã hội. Theo đó, những vai trò quan trọng của NLĐCT được thể hiện trên những khía cạnh sau:Thứ nhất, NLĐCT là một nguồn lực quan trọng của xã hội. NLĐCT là những người có kiến thức, kinh nghiệm. Trong số NCT, rất nhiều người là những chuyên gia, người lao động trình độ cao của các ngành, lĩnh vực; có sức khỏe, có nguyện vọng tiếp tục cống hiến cho gia đình và xã hội. Họ không muốn nghỉ ngơi thụ động, phụ thuộc vào con cái mà muốn có cuộc sống chủ động, tích cực, tham gia công việc gia đình, xã hội. Bên cạnh đó, NLĐCT còn truyền thụ kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ và nghề truyền thống cho thế hệ trẻ; nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ; tư vấn chuyên môn, kỹ thuật; phát triển kinh tế, giảm nghèo, làm giàu hợp pháp. NLĐCT đã trải qua những giai đoạn thăng trầm của lịch sử, đã tích lũy được tri thức, kinh nghiệm sản xuất, đạo đức, lối sống để truyền dạy cho các thế hệ sau, những vốn quý về văn hóa, truyền thống dân tộc đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bằng vốn kiến thức đã tích lũy, những trải nghiệm cuộc sống… NCT không chỉ truyền dạy cho con cháu mà còn truyền dạy cho các thế hệ sau. Vì vậy, Nhà nước và xã hội cần thay đổi quan niệm, cách tiếp cận, cách nhìn đối với vấn đề NCT. Thực tế có rất nhiều người còn sức khỏe, nhất là từ 60 tuổi đến 70 tuổi. Họ vẫn muốn tiếp tục cống hiến, vẫn muốn được tạo điều kiện nhưng chưa được đáp ứng. NCT không chỉ là vấn đề cần giải quyết mà còn là cơ hội, nguồn lực cho sự phát triển. Nhà nước cần quan tâm tạo cơ chế, chính sách để thu hút, khai thác nguồn lực một cách hiệu quả.Thứ hai, khi NLĐCT tham gia vào thị trường lao động sẽ làm giảm áp lực về lao động, nhất là trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang đối mặt với thách thức già hóa dân số. Báo đảm lực lượng lao động ổn định là một phần quan trọng đó bảo đảm các quỹ an sinh nhằm đáp ứng với chi phí ASXH ngày một tăng cao do dân số già. Chính sách tạo việc làm cho NCT là rất cần thiết hiện nay, nó không chi bảo đảm ổn định chính trị xã hội, mà còn trực tiếp góp phần củng cố và nâng cao sức mạnh kinh tế của đất nước. Tham gia vào thị trường lao động, những NLĐCT không chỉ tạo ra một vị thế mới mà còn đảm bảo được chất lượng cuộc sống từ nguồn thu nhập do làm việc. NCT, đặc biệt là người có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, tiếp tục làm việc là nguồn nhân lực tốt. Vì vậy, Nhà nước và xã hội cần thay đổi quan niệm, cách tiếp cận, cách nhìn đối với vấn đề NCT. Thực tế có rất nhiều người còn sức khỏe, nhất là từ 60 tuổi đến 70 tuổi. Họ vẫn muốn tiếp tục cống hiến, vẫn muốn được tạo điều kiện nhưng chưa được đáp ứng. NCT không chỉ là vấn đề cần giải quyết mà còn là cơ hội, nguồn lực cho sự phát triển. Nhà nước cần quan tâm tạo cơ chế, chính sách để thu hút, khai thác nguồn lực một cách hiệu quả.Thứ ba, NLĐCT góp phần vào các hoạt động động nhằm đạt được các mục tiêu quốc gia về chính trị, kinh tế, xã hội của quốc gia. NLĐCT khi tham gia vào thị trường lao động, nắm một vị trí hết sức đặc biệt bởi họ có kinh nghiệm, có kỹ năng, có năng lực tích lũy qua thời gian làm việc lâu dài. Bên cạnh đó, ý thức kỷ luật, ý thức chấp hành và sự am hiểu về pháp luật của họ rất tốt, tiếp nữa họ làm việc chậm rãi, tỉ mì và cũng ít bị tai nạn lao động hơn. Mặt khác, việc thỏa thuận sử dụng lao động với nhóm NCT cũng dễ dàng hơn các nhóm lao động khác. Do đó, NLĐCT vẫn có khả năng làm việc và sự eo hẹp của ngân sách nhà nước, nguồn hỗ trợ của Nhà nước sẽ khó có thể đảm bảo mức hỗ trợ tốt cho NCT, đặc biệt là với những người không có lương hưu.Trong Ngày quốc tế NCT 01/10/2016, Liên Hợp Quốc kêu gọi thế giới khai thác những đóng góp của NCT, đồng thời kêu gọi chăm sóc thích hợp để đảm bảo cho NCT có cơ hội đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại. Tại Việt Nam, Luật NCT năm 2009 quy định về hoạt động phát huy vai trò NCT (Điều 23). Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để NCT phát huy trí tuệ, kinh nghiệm quý báu và phẩm chất tốt đẹp của mình cho sự phát triển chung của xã hội. Trên quan điểm đó, hàng năm Nhà nước dành kinh phí hợp lý hỗ trợ NCT trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và tạo môi trường thuận lợi để NCT tiếp tục đóng góp cho xã hội. Vì vậy, Nhà nước và xã hội cần thay đổi quan niệm, cách tiếp cận, cách nhìn đối với vấn đề NCT. Thực tế có rất nhiều người còn sức khỏe, nhất là từ 60 tuổi đến 70 tuổi. Họ vẫn muốn tiếp tục cống hiến, vẫn muốn được tạo điều kiện nhưng chưa được đáp ứng. NCT không chỉ là vấn đề cần giải quyết mà còn là cơ hội, nguồn lực cho sự phát triển. Nhà nước cần quan tâm tạo cơ chế, chính sách để thu hút, khai thác nguồn lực một cách hiệu quả.Chính sách, pháp luật của Nhà nước cũng hướng trực tiếp đến NCT; khuyến khích, tạo điều kiện, hỗ trợ cho họ rèn luyện sức khỏe; tham gia học tập; hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhà nước cần bố trí nguồn lực hằng năm để thực hiện pháp luật, chính sách chăm sóc và phát huy vai trò NCT, nhất là đối với những NCT có hoàn cảnh đặc biệt. Những nỗ lực của gia đình, xã hội và Nhà nước sẽ tạo ra môi trường xã hội thúc đẩy tính năng động của NCT, tạo điều kiện và cơ hội tốt nhất phát huy được đầy đủ khả năng của NCT và cùng xã hội đáp ứng tốt nhất nhu cầu của nhóm xã hội đặc biệt này.Theo: Trần Đức ThắngLink luận án: Tại đây