TÌNH HÌNH THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CAO TUỔI Ở VIỆT NAM
3.1.1. Tình hình thực hiện pháp luật về người lao động cao tuổi ở Việt Nam
3.1.1.1. Tình hình thực hiện pháp luật trong việc kéo dài thời gian làm việc cho người lao động cao tuổi
Thực hiện chế độ kéo dài thời gian công tác đối với viên chức khoa học và giảng dạy có trình độ chuyên môn cao khi đủ tuổi nghỉ hưu theo Nghị định số 141/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học và Nghị định số 40/2014/NĐ-CP quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ, Trong thời gian thực hiện chế độ kéo dài thời gian công tác đối với viên chức có trình độ chuyên môn cao theo Nghị định số 40/2014/NĐ-CP và Nghị định số 141/2013/NĐ-CP, đa số các đơn vị thực hiện đúng quy trình, thủ tục quy định. Hầu hết, công chức, viên chức khi được thực hiện chế độ kéo dài đều có tâm huyết, đóng góp nhiều công sức, trí tuệ cho hoạt động nghiên cứu khoa học, tham gia công tác đào tạo, giảng dạy sau đại học và bồi dưỡng thế hệ trẻ, góp phần xây dựng, củng cố khối đoàn kết tại đơn vị; nhưng cũng có một số viên chức chưa có những đóng góp thiết thực đối với các hoạt động trên. Nhìn chung, các đơn vị đều cho rằng chính sách kéo dài thời gian công tác đối với viên chức có trình độ chuyên môn cao hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ đủ tuổi nghỉ hưu của Nhà nước là đúng đắn và cần thiết trong điều kiện hiện nay, không chỉ thể hiện sự tôn trọng, trọng dụng các nhà khoa học, các giảng viên có trình độ chuyên môn cao, mà còn tạo điều kiện để họ có thể đóng góp trí tuệ vào hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của nước nhà.
Về cơ bản, số viên chức được kéo dài thời gian công tác có ý thức trách nhiệm trong việc chấp hành quy định kỷ luật lao động của cơ quan, giữ vững khối đoàn kết trong đơn vị. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc kéo một số viên chức trong diện xem xét kéo dài xuất hiện tư tưởng mình đương nhiên được kéo dài vì có trình độ cao, có nhiều đóng góp trước đây... nên không chỉ tỏ thái độ không hợp tác trong quá trình chấp hành sự phân công của lãnh đạo đơn vị, không chấp hành kỷ luật, kỷ cương, mà còn đòi hỏi các chế độ và điều kiện làm việc quá mức trong bối cảnh các đơn vị hiện có nhiều khó khăn về cơ sở vật chất... Mặt khác, một số lãnh đạo đơn vị còn có tâm lý nể nang, ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”, vì vậy, dẫn đến tình trạng viên chức đến tuổi nghỉ hưu được kéo dài thời gian công tác theo quy định ở một số đơn vị còn mang tính hình thức. Một trong những bất cập của việc thực hiện hiện chính sách nói trên đó là có thể làm ảnh hưởng tới việc tuyển dụng, xây dựng đội ngũ viên chức nghiên cứu và giảng dạy kế cận. Bởi vì khi kéo dài thời gian làm việc đồng nghĩa với số viên chức nghỉ hưu sẽ giảm, tất yếu dẫn đến tình trạng trong khoảng 5 năm tiếp theo sẽ thiếu đội ngũ viên chức nghiên cứu, giảng dạy được tuyển dụng mới vì không có chỉ tiêu biên chế bổ sung…
Để khắc phục bớt những hạn chế trong việc thực hiện chế độ kéo dài đối với viên chức của 2 văn bản trên, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 50/2022/NĐ-CP quy định về độ tuổi nghỉ hưu ở độ tuổi cao hơn đối với viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, thì giảng viên có chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư, có trình độ tiến sĩ chỉ được kéo dài thời gian làm việc không quá 05 năm so với tuổi nghỉ hưu ở điều kiện bình thường. Việc ban hành Nghị định này nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong việc thực hiện quy định của pháp luật về kéo dài thời gian công tác, cũng như bảo đảm sự tương quan trong việc thực hiện quy định nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với viên chức.
Tuy nhiên, Nghị định này mới được ban hành và có hiệu lực từ tháng 8/2022 đến nay nên tác giả luận án chưa thu thập được đầy đủ các dữ liệu thông tin về việc thực hiện kéo dài thời gian làm việc cho NLĐCT thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định. Nhưng theo quan điểm của tác giả thì việc thực hiện các quy định này sẽ làm giảm bớt số lượng NLĐCT được kéo dài thời gian làm việc. Đồng thời cũng làm giảm bớt số tiền lương của đơn vị sử dụng lao động chi trả cho NLĐ thuộc diện được kéo dài.
3.1.1.2. Tình hình thực hiện pháp luật về việc làm cho người lao động cao tuổi
Để giúp cho NLĐCT có việc làm, có thêm thu nhập, giảm bớt gánh nặng cho gia đình và hệ thống ASXH. Nhà nước đã có chính sách cho vay vốn thông qua chương trình vay vốn ưu đãi từ nguồn vốn cho vay Quỹ quốc gia về việc làm. Theo Nghị định số 61/2015/NĐ-CP ngày 09/7/2015 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ tạo việc làm và Quỹ quốc gia về việc làm thì đối tượng NCT là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên trực tiếp sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, giảm nghèo có nhu cầu vay vốn được xem xét vay vốn chương trình hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm tại Ngân hàng chính sách xã hội. Đối với vay vốn ưu đãi từ nguồn ngân sách địa phương ủy thác qua Ngân hàng chính sách xã hội để cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác thì đối tượng NCT là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên trực tiếp sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập, giảm nghèo được xem xét cho vay ưu đãi từ nguồn vốn ngân sách địa phương theo quy định tại Thông tư số 11/2017/TT-BTC ngày 08/2/2017 của Bộ Tài chính quy định về quản lý và sử dụng nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua Ngân hàng chính sách xã hội để cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Về mức cho vay, thời hạn vay, lãi suất vay, quy trình thủ tục vay vốn, bảo đảm tiền vay (nếu có) thực hiện theo quy chế của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về quản lý và sử dụng nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua Ngân hàng chính sách xã hội. Nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn của hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn huyện, Ngân hàng chính sách xã hội huyện phối hợp với chính quyền địa phương, Hội đoàn thể nhận ủy thác, tổ tiết kiệm và vay vốn tổ chức triển khai cho vay kịp thời, đúng đối tượng, không để tồn đọng vốn.
Tính đến ngày 30/6/2021, ở các địa phương, Ngân hàng chính sách xã hội huyện đã thực hiện cho vay vốn đối tượng là NCT thông qua tổ tiết kiệm và vay vốn với dư nợ là 30.270 triệu đồng/1.198 hộ vay, trong đó cho vay chương trình hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm là 1.049 triệu đồng/25 hộ vay và các chương trình cho vay khác là 15.369 triệu đồng/ 507 hộ vay. Như vậy, với việc thực hiện cho vay vốn đối với NCT còn sức lao động, trực tiếp sản xuất kinh doanh, tăng thêm thu nhập, chủ động cuộc sống không những giúp NCT, không phụ thuộc vào con cháu trong gia đình, xóa bỏ tư tưởng là đối tượng sống phụ thuộc của người già mà còn tạo động lực cho NCT tích cực sáng tạo trong lao động sản xuất. Bên cạnh đó, việc trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm, của cải cho xã hội mà còn giúp họ tự nâng cao chất lượng cuộc sống, rèn luyện sức khỏe, suy nghĩ tích cực, sống vui, sống khỏe, sống có ích góp phần giải quyết việc làm và đảm bảo ASXH tại địa phương.
3.1.1.3. Tình hình thực hiện pháp luật trong việc ký kết hợp đồng lao động với người lao động cao tuổi
Trên thực tế, khi độ tuổi người lao động càng cao thì việc kí kết hợp đồng lao động càng thấp, giữa NLĐCT và NSDLĐ chủ yếu thỏa thuận miệng hoặc là không có hợp đồng.
Theo: Trần Đức Thắng
Link luận án: Tại đây