ĐÁNH GIÁ PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG CAO TUỔI
3.1. Đánh giá pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật về người lao động cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
3.3.1 Đánh giá pháp luật hiện hành về người lao động cao tuổi ở Việt Nam
3.3.1.1. Những kết quả đã đạt được
a) Về quy định tuổi nghỉ hưu: Độ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Bộ Luật Lao động 2019 là phù hợp với xu thế chung của thế giới, phù hợp với tình trạng già hóa dân số của Việt Nam, cụ thể:
Thứ nhất, khắc phục tình trạng thiếu hụt lao động trong thời gian tới. Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình già hóa dân số, tỷ lệ người trong độ tuổi có khả năng lao động đang giảm và tỷ lệ số người phụ thuộc đang tăng lên. Lực lượng lao động tham gia thị trường lao động của Việt Nam trong những năm gần đây đang tăng chậm cả về số lượng và tỷ lệ và sẽ đối mặt với nguy cơ thiếu hụt trong tương lai. Do đó, việc tăng tuổi nghỉ hưu cho người lao động là cần thiết và tránh tình trạng thiếu hụt lao động trong khoảng 20 năm tới do quá trình già hóa dân số.
Thứ hai, giảm gây áp lực cho quỹ BHXH. Việc tăng tuổi nghỉ hưu cho người lao động có thể điều chỉnh được chế độ hưu trí và vừa đảm bảo cân đối quỹ BHXH. Tăng tuổi nghỉ hưu có “tác động kép” tới quỹ hưu trí, do người lao động tiếp tục làm việc sẽ tăng đóng vào quỹ, vừa giảm số năm chi trả lương hưu giúp giảm chi từ quỹ hưu trí. Đồng thời, người lao động tiếp tục làm việc sẽ tăng thu nhập cho cá nhân và đóng thuế cho ngân sách nhà nước. Theo tính toán của BHXH Việt Nam, nếu không tăng tuổi nghỉ hưu thì năm 2020, mức thu Quỹ BHXH sẽ bằng mức chi và đến 2037, cán cân thu chi cân bằng, do đó phải lấy ngân sách bù vào.
Thứ ba, nhằm tăng cơ hội hội nhập quốc tế. Theo thống kê, tuổi nghỉ hưu của các nước trên thế giới phổ biến là trên 60 đối với nữ, trên 62 đối với nam. Theo đó, việc tăng tuổi nghỉ hưu cho người lao động cũng nhằm lý do hội nhập với thế giới khi tuổi nghỉ hưu được thiết lập ở độ tuổi phổ biến là 60-62 và không phân biệt giới hạn riêng cho nam hay nữ.
Thứ tư, lộ trình tăng tuổi hưu phù hợp đỡ gây xáo trộn cho NLĐCT, NSDLĐ và xã hội. Việc tăng tuổi nghỉ hưu của nam lên 62 tuổi, của nữ lên 60 tuổi là cần thiết, tránh việc phải điều chỉnh đột ngột lên mức quá cao trong tương lai và hầu hết các quốc gia khi điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu đều có một lộ trình để thu hẹp dần khoảng cách về tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ.
Ngoài ra, với lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu như hiện nay sẽ cải thiện thu nhập, tăng cơ hội thăng tiến cho NLĐ kể cả lao động lớn tuổi.
Thực tế cũng cho thấy, trong thời gian qua, rất nhiều lao động có trình độ tại nhiều đơn vị trên cả nước dù đã đến tuổi về hưu nhưng vẫn được các đơn vị tiếp tục ký hợp đồng để tiếp tục lao động, cống hiến. Trong đó, tập trung nhiều ở đội ngũ như giáo viên, bác sỹ, kỹ sư và những người làm công tác nghiên cứu… Đơn cử như tại các cơ sở y tế với công việc khá đặc thù (như chữa bệnh tâm thần) được xếp vào công việc “có thể được nghỉ hưu trước tuổi” nhưng cho đến thời điểm này, số người lao động xin về hưu trước tuổi là rất ít. Ngược lại, việc kéo dài độ tuổi về hưu lại là điều kiện để họ được nâng cao tay nghề và có thêm thời gian để cống hiến cho công việc.
b) Về quy định thời gian làm việc: Các luật đã chú trọng đến thời gian làm việc dành cho NLĐCT để phù hợp với đăc điểm về sức khỏe và thể chất của người lao động. BLLĐ năm 2012 đã quy định rõ NLĐCT được rút ngắn thời giờ làm việc hằng ngày (ít nhất 1 giờ) hoặc được áp dụng chế độ làm việc không trọn thời gian mà vẫn hưởng nguyên lương. Trong khi đó, BLLĐ năm 2019 quy định cần có sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động với NLĐCT về việc rút ngắn thời giờ làm việc vẫn hưởng nguyên lương. Việc thay đổi quy định liên quan đến thời gian làm việc của NLĐCT mặc dù ban đầu có thể cho rằng gây bất lợi cho NLĐCT, tuy nhiên nếu nghiên cứu kỹ quy định này có thể thấy cách quy định mới đã đảm bảo sự bình đẳng thực chất trong quyền lao động việc làm của NCT, tránh sự phân biệt đối xử giữa NCT với những người trong độ tuổi lao động.
c) Về quy định việc làm của NLĐCT: Luật quy định không được sử dụng NLĐCT làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ NLĐCT, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ. Quy định này thể hiện sự bảo vệ sức khỏe đặc biệt đối với người lao động cao tuổi so với các lao động bình thường khác, thể hiện tính nhân văn của pháp luật. NSDLĐ chỉ được bố trí NLĐCT làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm...trong trường hợp đặc biệt theo quy định. Điều đó, thể hiện sự hạn chế tối đa việc sử dụng người lao động cao tuổi làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm... Việc sử dụng người lao động cao tuổi làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Ngoài việc không được sử dụng lao động là NCT làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ thì BLLĐ còn xác định: “NSDLĐ có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ của người lao động cao tuổi tại nơi làm việc”. Quy định này một lần nữa thể hiện chính sách quan tâm của nhà nước tới người lao động cao tuổi, vừa khuyến khích tạo cơ hội cho NCT tham gia thị trường lao động, cũng vừa đảm bảo sức khỏe thể chất cho đối tượng này.
Theo các quy định nêu trên, khi người lao động đến tuổi nghỉ hưu, nếu có nhu cầu thì NSDLĐ có thể cùng với NLĐCT thỏa thuận kéo dài thời gian hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới theo đúng các quy định về hợp đồng lao động. Trường hợp NLĐ tiếp tục lao động sau khi nghỉ hưu (người lao động cao tuổi), khi chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật thì NSDLĐ có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động (đối với thời gian làm việc sau khi nghỉ hưu).
d) Về quy định hợp đồng lao động: Theo quy định tại BLLĐ năm 2019, NLĐCT được ký hợp đồng xác định thời hạn nhiều lần với người NSDLĐ. Thông thường, NCT thường là những người có nhiều năm làm việc với nhiều kinh nghiệm, đặc biệt là những công việc yêu cầu trình độ cao. Do đó, để phát huy giá trị của NCT, Điều 149 BLLĐ năm 2019 cho phép người sử dụng lao động thỏa thuận giao kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định thời hạn với NCT thay vì kéo dài thời hạn hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới như trước đây. Đây là một quy định phù hợp và tạo điều kiện cho người lao động cao tuổi, họ có thể linh hoạt ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn với NSDLĐ nhiều lần hoặc thôi không ký kết hợp đồng khi thấy sức khỏe không đảm bảo để làm việc.
Quy định hiện hành cho phép NSDLĐ với NLĐ cao tuổi có thể ký kết hợp đồng lao động điện tử mà cũng có giá trị pháp lý như hợp đồng giao kết bằng văn bản truyền thống. Quy định này phù hợp với Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các chủ thể (kể cả NSDLĐ hay người lao động cao tuổi- ngày nay họ đã có nhiều kiến thức, kỹ năng thành thạo về công nghệ thông tin) ký kết hợp đồng lao động linh hoạt hơn trong bối cảnh có sự tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và dịch chuyển lao động toàn cầu. Tóm lại, trong “thế giới phẳng” ngày nay, hình thức hợp đồng lao động bằng “văn bản truyền thống” không chỉ được hiểu ở dạng “giấy tờ” mà còn tồn tại dưới các hình thức như thư điện tử, các giao dịch điện tử và đi kèm với nó là chữ ký số.
Theo: Trần Đức Thắng
Link luận án: Tại đây