NHÓM GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI NÔNG DÂN KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
3.1.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về hỗ trợ và giải quyết việc làm cho người nông dân khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
3.1.1.1. Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ nói chung
“Thiệt thòi, tổn thương, bị gạt bên lề của sự phát triển, cuộc sống tiềm ẩn những bất ổn,…”; đó là những cụm từ được nhắc đến nhiều nhất khi nói đến số phận của người nông dân, nông thôn Việt Nam hiện nay. Theo GS. Trịnh Duy Luân, Viện Xã hội học (Viện Khoa học xã hội Việt Nam):
Vị thế của người nông dân trong cấu trúc xã hội đã thay đổi, cần có cách ứng xử mới, không nên lạm dụng, vắt kiệt mà đền bù không tương xứng. Người nông dân đã biết sản xuất, biết tính toán, nên chúng ta không chỉ cứ lấy đi của họ 1 sào đất rồi đền bù là xong, mà cần phải thực hiện chính sách an dân và hỗ trợ nhiều hơn, coi nông dân như một nhóm lợi ích xã hội.
Người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp thì hậu quả để lại đối với họ khá nặng nề, bởi đó là việc mất đi một tư liệu sản xuất chính không gì thay thế, của một nghề nghiệp được gọi là duy nhất đối với người nông dân và lớn hơn là sự xáo trộn đối với một cuộc sống đang yên bình. Chính vì vậy, bên cạnh những quy định về bồi thường thì hỗ trợ là giải pháp hết sức quan trọng và cần thiết để bù đắp những thiệt hại mà người nông dân phải gánh chịu. Để hoàn thiện các quy định về hỗ trợ, cần lưu ý một số vấn đề sau:
Thứ nhất, theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 23/8/2009: “Hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 đến 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi”. Quy định này cho thấy rằng, khoảng biến thiên cho việc thực hiện quy định quá rộng, mức tối đa lớn hơn gấp ba lần mức tối thiểu. Chính phủ cho phép UBND cấp tỉnh quyết định cụ thể hình thức hỗ trợ và mức hỗ trợ nêu trên, nên thực tế hướng dẫn ở các địa phương là khác nhau. Điều này dẫn đến một thực trạng là mức hỗ trợ giữa các dự án giáp ranh ở các tỉnh, thành cũng khác nhau gây nên sự so bì, khiếu nại. Hơn nữa, giá hỗ trợ dù có cao mà không hướng tới việc tổ chức đào tạo nghề mới cho người nông dân thì khoản tiền hỗ trợ đó dường như lại có tác dụng ngược lại; bởi người dân bị mất đất khi nhận tiền hỗ trợ không đầu tư cho sản xuất mà thường chi dùng vào các mục đích sinh hoạt hàng ngày hay mua sắm những vật dụng sinh hoạt đắt tiền,…Số tiền này sẽ nhanh chóng bị tiêu hết, mà không được sử dụng cho mục đích sản xuất - kinh doanh, để tạo thu nhập đảm bảo ổn định cuộc sống của người bị thu hồi đất nông nghiệp. Thực tế là tiền hết, tư liệu sản xuất không còn, người nông dân trở nên tay trắng. Vấn đề này cần phải xử lý như thế nào, thiết nghĩ, chúng ta cần phải có những biện pháp dự liệu, đó là xác định trách nhiệm của Nhà nước và bản thân người có đất bị thu hồi. Cụ thể, về phía người bị thu hồi đất, cần xác định rõ trách nhiệm của họ đối với bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội, bằng cách quy định việc đào tạo nghề là bắt buộc trong văn bản pháp luật. Nếu họ không học nghề tại các cơ sở dạy nghề mà cơ quan có thẩm quyền xác định và tự lo được việc làm thì phải chứng minh được việc làm, để có thể ổn định thu nhập thì mới được nhận khoản tiền hỗ trợ, tránh việc trả tiền trực tiếp như hiện nay. Làm như vậy, sẽ giúp người bị thu hồi đất tìm được việc làm có thu nhập và có cuộc sống ổn định; đồng thời, góp phần đảm bảo sự ổn định về chính trị và trật tự an toàn xã hội của địa phương; Còn đối với Nhà nước, khi bồi thường hay hỗ trợ, cần có sự tư vấn phương pháp sử dụng vốn cho người dân, điều này sẽ có tác dụng định hướng tiêu dùng. Bởi lẽ, trên thực tế, người có đất bị thu hồi khi nhận tiền bồi thường, có tâm lý ỷ vào số tiền được Nhà nước chi trả và không có kế hoạch chi tiêu hợp lý. Họ dường như không chú ý đến việc sử dụng số tiền bồi thường vào việc học nghề để kiếm một việc làm mới. Chính vì vậy, rất cần có sự định hướng, chỉ dẫn đúng đắn từ phía Nhà nước: hướng dẫn họ sử dụng tiền tiết kiệm, đầu tư vào học nghề, tạo lập nghề mới, kinh doanh phi nông nghiệp thay vì sử dụng cho các mục đích tiêu dùng.
Thứ hai, cần phân biệt rõ hai nhóm đối tượng khi thu hồi đất nông nghiệp để thực hiện chính sách hỗ trợ cho phù hợp, đó là:
1) Nhóm nông dân trong độ tuổi lao động,
2) Nhóm nông dân ngoài độ tuổi lao động. Đối với nhóm thứ nhất, sẽ được Nhà nước hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm mới. Còn đối với nhóm thứ hai, họ đã không còn hoặc còn rất ít khả năng lao động, thì cần có sự hỗ trợ để họ có thể dưỡng lão, an tâm với cuộc sống mới. Độ tuổi lao động được quy định đối với nam là dưới 60 tuổi, với nữ là dưới 55 tuổi. Mặc dù vậy, trên thực tế, ở nông thôn Việt Nam, những người ngoài độ tuổi này vẫn tham gia các hoạt động nông nghiệp. Theo số liệu thống kê cho thấy, có tới 77% số người này vẫn phải làm việc tăng thu nhập và 42% là lao động chính để nuôi sống gia đình , việc làm chủ yếu của họ vẫn là trên đồng ruộng. Khi bị thu hồi đất nông nghiệp, nhóm đối tượng ngoài độ tuổi lao động hầu như không có cơ hội và khả năng để chuyển đổi nghề nghiệp hay là có việc làm mới phù hợp; trong khi đó, nếu không bị mất đất nông nghiệp thì cho dù đến 60 tuổi, họ vẫn có khả năng lao động nông nghiệp. Vì vậy, trong thời gian tới, cần phải có sự quan tâm hơn tới đối tượng này khi thu hồi đất nông nghiệp. Nhà nước có thể có các chính sách để hỗ trợ cho người nông dân ngoài độ tuổi lao động như: cấp 100% kinh phí bảo hiểm y tế hay hỗ trợ một khoản tiền dưỡng lão đủ để họ duy trì cuộc sống khi về già,…Việc quan tâm đến người nông dân cao tuổi bị thu hồi đất nông nghiệp đã được Trung Quốc rất chú trọng, đó cũng là kế sách an dân và là bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam.
Thứ ba, đối với việc hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệp bằng một suất đất sản xuất - kinh doanh phi nông nghiệp. Đây là phương thức bồi thường linh hoạt, một cơ chế mở phù hợp với tính năng động của nền kinh tế thị trường. Song, chúng chỉ có thể áp dụng hiệu quả khi có một cơ chế quản lý và kiểm soát chặt chẽ, có sự cam kết và ràng buộc cụ thể giữa người có đất được bồi thường với Nhà nước về việc sử dụng đúng mục đích, khai thác có hiệu quả và thực hiện sự chuyển dịch đúng pháp luật. Hiện nay, chúng ta đang thiếu những quy định mang tính chế tài để đảm bảo thực thi có hiệu quả phương thức bồi thường này. Nên chăng, Nhà nước cần bổ sung quy định trong trường hợp người bị thu hồi đất được hỗ trợ một suất đất ở hoặc một suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp phải sử dụng đất ít nhất là 10 năm kể từ ngày được giao đất, mới được chuyển nhượng đất cho người khác, nếu vi phạm sẽ bị thu hồi đất. Có như vậy mới tránh được tình trạng người sử dụng đất chuyển nhượng ngay sau khi nhận suất đất hỗ trợ và không còn tư liệu để sản xuất; trong khi giới đầu cơ lại làm giàu, trục lợi từ chính mảnh đất được giao cho người nông dân với mục đích hỗ trợ để đảm bảo cuộc sống. Đây là một tình trạng phổ biến, mà nếu không có sự ngăn chặn kịp thời sẽ làm biến dạng mục đích của bồi thường và mất đi tính nhân văn cao cả của chính sách hỗ trợ.
3.1.1.2. Về vấn đề giải quyết việc làm cho người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp
Tình trạng nông dân không có đất là một vấn đề vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính chính trị - xã hội. Có một nhận thức phổ biến ở tầm vĩ mô cho rằng sự tồn tại của một bộ phận nông dân không có đất là yếu tố tất yếu của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, nếu tiếp cận vấn đề không có đất của nông dân ở tầm vi mô và phân tích sâu khía cạnh xã hội thì sẽ thấy cần phải có kế hoạch hành động mạnh mẽ hơn để giải quyết vấn đề việc làm cho người nông dân không có đất. Thực tiễn đã cho thấy, nhiều người dân không có đất, thiếu việc làm và cũng có những cơ sở chắc chắn cho chúng ta tiên đoán về một tương lai, số người nông dân không có đất nông nghiệp để canh tác sẽ gia tăng trong những năm tiếp theo, khi Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa và đô thị hóa.
Việc giải quyết vấn đề nông dân không có đất nên hướng tới việc đào tạo và tìm việc làm cho họ chứ không phải là giải quyết theo hướng “người cày có ruộng”, vì đã đến lúc chúng ta cần thay đổi quan niệm “người cày có ruộng” bằng quan niệm “người cày có việc làm” [49, tr. 45]. Tất nhiên, để người nông dân có thể tìm một việc làm mới ổn định hay chuyển sang làm một nghề khác không phải là vấn đề dễ dàng và khó có thể thực hiện thành công trong một thời gian ngắn. Lúc này, rất cần đến bàn tay đủ lực của Nhà nước để làm chỗ dựa cho người nông dân. Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất được xem là vấn đề trọng tâm trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Bởi trong khi lao động nông nghiệp còn chiếm tỉ lệ rất lớn, lại bị mất nguồn tư liệu sản xuất quan trọng nhất là đất đai, thì vấn đề bảo đảm điều kiện sống và việc làm cho nông dân ở những vùng bị thu hồi đất là rất cần thiết. Để thực hiện có hiệu quả công tác này, có thể thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, nhất là cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp.
Có thể dẫn chứng một số địa phương đã làm tốt công tác này, như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, đây là những tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng kinh tế trọng điểm của đất nước và là nơi có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nhiều .
Có thể thấy, việc dạy nghề để đưa lại một nghề mới cho người nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp là một giải pháp rất quan trọng giúp người bị thu hồi đất nhanh chóng ổn định và duy trì cuộc sống, góp phần bình ổn xã hội. Đây là công việc cần thiết trước mắt mà dường như địa phương nào cũng nhìn thấy, nhưng chưa hẳn địa phương nào cũng làm tốt. Vấn đề là ở chỗ việc tổ chức và triển khai thực hiện như thế nào để mang lại hiệu quả thiết thực. Giải pháp cho vấn đề này, cần tập trung vào mấy điểm, đó là: gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm, trước khi dạy nghề, lao động cần được tư vấn các nghề mà khu công nghiệp hay làng nghề có nhu cầu; Các cơ sở dạy nghề cần phải được củng cố, nâng cấp về cơ sở vật chất kỹ thuật, về quy mô, đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo và chú trọng chất lượng cũng như số lượng đội ngũ giáo viên; Bên cạnh đó, phải nhanh chóng nắm bắt thông tin thị trường sức lao động để điều chỉnh ngành nghề, mục tiêu đào tạo cho phù hợp, phải đào tạo nghề mà thị trường cần để có thể tận dụng tối đa nguồn lao động.
Thứ hai, thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả chủ trương yêu cầu các doanh nghiệp có dự án đầu tư phải bố trí lao động địa phương vào làm việc trong các doanh nghiệp.
Yêu cầu các doanh nghiệp có dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh phải bố trí lao động địa phương vào làm việc tại doanh nghiệp là chủ trương được nhiều tỉnh đưa ra như Hà Tây (cũ), Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Đà Nẵng, Hải Phòng... Tuy nhiên, nhìn chung rất ít địa phương thực hiện tốt chủ trương này. Qua tổng kết trên phạm vi cả nước, Vĩnh Phúc là địa phương thực hiện tốt nhất chủ trương này. Có những doanh nghiệp đã sử dụng đến gần 90% lao động là người địa phương. Đạt được kết quả trên là do địa phương đã làm tốt công tác thuyết phục các doanh nghiệp, có những cam kết ràng buộc giữa địa phương và doanh nghiệp, đồng thời đẩy mạnh công tác dạy nghề cho lao động nông thôn, cho lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Theo: Phạm Thu Thủy
Link Luận án: Tại đây