0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64b945f080a43-THỰC-TRẠNG-MỐI-QUAN-HỆ-GIỮA-QUYỀN-TƯ-PHÁP-VÀ-QUYỀN-HÀNH-PHÁP-TRONG-THỰC-HIỆN-QUYỀN-LỰC-NHÀ-NƯỚC-Ở-VIỆT-NAM-.jpg.webp

THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN TƯ PHÁP VÀ QUYỀN HÀNH PHÁP TRONG THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

3.1. Thực trạng quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam

3.1.1.   Lịch sử phát triển mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam qua các bản Hiến pháp

Trong phần này, luận án tập trung đánh giá khái quát mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)
3.1.1.1.  Hiến pháp năm 1946
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Quốc hội ban hành Hiến pháp năm 1946 quy định về tổ chức bộ máy nhà nước phù hợp với chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa. Hiến pháp quy định, cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bao gồm: Toà án tối cao, các Toà án phúc thẩm và các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp. Hệ thống Tòa án được tổ chức theo cấp xét xử không phụ thuộc vào thiết kế tổ chức của đơn vị hành chính - lãnh thổ. Ngoài ra, Nghị viện có thể thành lập Tòa án đặc biệt để xét xử, truy tố Chủ tịch, Phó chủ tịch hay một nhân viên Nội các về tội phản quốc. Đặc biệt, hệ thống tòa án nước ta thời kỳ này do Bộ Tư pháp quản lý (những nơi chưa thành lập được tòa án, các việc tư pháp do Uỷ ban hành chính đảm nhiệm); thẩm phán các cấp do những người đứng đầu các cơ quan hành pháp ở trung ương và địa phương bổ nhiệm. Theo Hiến pháp và Sắc lệnh số 13 (ngày 24/01/1946), hệ thống Tòa án tổ chức theo các nguyên tắc: tòa án biệt lập đối với hành chính, chỉ có Tòa án mới thực hiện chức năng xét xử; các thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm; khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được phép can thiệp.
Chính phủ được quy định là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc. Trong các quyền năng của mình liên quan đến việc thực hiện quyền tư pháp, Chính phủ được Hiến pháp quy định quyền đặc xá, quyền lập dự án ngân sách hàng năm, quyền bổ nhiệm các thẩm phán. Để đảm bảo cho tòa án độc lập, Hiến pháp đã quy định khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp [1, Điều 69]. Quy định như vậy cho thấy, giới hạn của Hiến pháp đối với Chính phủ trong việc tham gia thực hiện những quyền tư pháp theo một nguyên tắc đảm bảo cho hoạt động xét xử được độc lập. Tuy nhiên, Hiến pháp vẫn tạo cho Chính phủ thực hiện quyền của chủ thể quản lý với đối tượng quản lý là TAND. Tòa án thời kỳ này vừa thực hiện quyền công tố, chỉ đạo điều tra, vừa thực hiện quyền xét xử và tổ chức thi hành án. Tại Tòa án có biện lý (đứng dầu là Chưởng lý) làm nhiệm vụ truy tố người phạm tội trước tòa án.
Có thể thấy, Hiến pháp năm 1946 đã bảo đảm tính độc lập của các quyền hành pháp và quyền tư pháp; khẳng định tính nguyên tắc là các cơ quan Chính phủ và Tòa án đều là những cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước, mỗi cơ quan nắm giữ một bộ phận quyền lực nhà nước. Hiến pháp năm 1946 cũng tạo cơ chế cân bằng quyền lực, trong đó có việc kiểm soát giữa các cơ tư pháp đối với cơ quan hành pháp và ngược lại.
3.1.1.2.  Hiến pháp năm 1959
Tính đến năm 1959, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ra đời và phát triển được 14 năm. Đó là một khoảng thời gian có nhiều sự kiện chính trị quan trọng, làm thay đổi tình hình chính trị, xã hội và kinh tế của đất nước. Ngay sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1946, thực dân Pháp lại gây ra chiến tranh để xâm lược nước ta một lần nữa. Nhân dân ta lại bước vào cuộc kháng chiến trường kì và gian khổ. Với chiến thắng Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơnevơ thắng lợi, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng nhưng đất nước còn tạm thời bị chia làm hai miền. Nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới này là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Hiến pháp năm 1946 đã hoàn thành sứ mệnh của nó nhưng so với tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới nó cần được bổ sung và thay đổi. Vì vậy, trong Kỳ họp lần thứ 6, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa Khoá I đã quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1946 và thành lập Ban dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Sau khi làm xong Bản dự thảo đầu tiên, tháng 7 năm 1958, Bản dự thảo được đưa ra thảo luận trong các cán bộ trung cấp và cao cấp thuộc các cơ quan Quân, Dân, Chính, Đảng. Sau đợt thảo luận này Bản dự thảo đã được chỉnh lý lại và ngày 01/4/1959, dự thảo được công bố để toàn dân thảo luận và đóng góp ý kiến xây dựng. Ngày 31/12/1959, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp sửa đổi và ngày 01/01/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp.
Hiến pháp năm 1959 quy định Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, và là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hội đồng Chính phủ có 15 nhiệm vụ, quyền hạn, đồng thời Hiến pháp còn quy định: Ngoài những quyền hạn trên, Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể trao cho Hội đồng Chính phủ những quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Chính phủ ra đời năm 1960, quy định trong thành phần Chính phủ không có Bộ Tư pháp. Các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp về quản lý tổ chức và hoạt động của các cơ quan điều tra (tư pháp công an), truy tố (viện công tố), xét xử (toà án), thi hành án được chuyển giao cho Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao và một phần cho chính quyền địa phương.
Đối với Tòa án, Hiến pháp 1959 quy định : “Toà án nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Trong trường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt”. Căn cứ vào Hiến pháp, hệ thống toà án được thành lập ở các đơn vị hành chính. Để cụ thể hoá Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 đã quy định chế độ bầu thẩm phán thay thế cho chế độ bổ nhiệm thẩm phán trước đó. Theo đó, Chánh án TAND tối cao do Quốc hội bầu và bãi miễn. Phó Chánh án, Thẩm phán TAND tối cao do Ủy ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và bãi miễn. Chánh án, Thẩm phán TAND địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn.
Về tổ chức của TAND tối cao và các TAND địa phương được quy định như sau: “Tổ chức cụ thể của bộ máy làm việc và biên chế của Toà án nhân dân tối cao do Chánh án Toà án nhân dân tối cao định và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn” [19, Điều 8] và “Tổ chức cụ thể của bộ máy làm việc và biên chế cụ thể của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Chánh án Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện theo những quy định chung về bộ máy làm việc và biên chế của các cơ quan Nhà nước. Tổng số biên chế của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Chánh án Toà án nhân dân tối cao định và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn” . Với quy trình nêu trên, có thể nhận thấy ở thời kỳ này TAND tối cao chủ yếu quản lý về công tác sắp xếp bộ máy làm việc, số lượng biên chế, trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn tổng biên chế của các TAND địa phương, quản lý về công tác xét xử. Còn Uỷ ban hành chính địa phương quản lý và cấp kinh phí hoạt động cũng như sắp xếp nhân sự.
Nhìn chung, sự phân công quyền lực giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp đã “mờ nhạt” hơn so với Hiến pháp năm 1946. Những học thuyết về phân định quyền lực được thể chế trong Hiến pháp năm 1946 đã “không được kế thừa và phát huy” trong Hiến pháp năm 1959. Có thể nói, từ Hiến pháp năm 1959 đã bắt đầu hình thành xu hướng tập trung quyền lực nhà nước vào Quốc hội, còn quyền lực của các cơ quan khác chỉ được coi là quyền lực phái sinh từ Quốc hội .

Theo: Nguyễn Thị Huyền 
Link luận án: Tại đây
 

 

 

 

avatar
Đặng Quỳnh
878 ngày trước
THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA QUYỀN TƯ PHÁP VÀ QUYỀN HÀNH PHÁP TRONG THỰC HIỆN QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
3.1. Thực trạng quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam3.1.1.   Lịch sử phát triển mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam qua các bản Hiến phápTrong phần này, luận án tập trung đánh giá khái quát mối quan hệ giữa quyền tư pháp và quyền hành pháp trong thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)3.1.1.1.  Hiến pháp năm 1946Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Quốc hội ban hành Hiến pháp năm 1946 quy định về tổ chức bộ máy nhà nước phù hợp với chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa. Hiến pháp quy định, cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bao gồm: Toà án tối cao, các Toà án phúc thẩm và các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp. Hệ thống Tòa án được tổ chức theo cấp xét xử không phụ thuộc vào thiết kế tổ chức của đơn vị hành chính - lãnh thổ. Ngoài ra, Nghị viện có thể thành lập Tòa án đặc biệt để xét xử, truy tố Chủ tịch, Phó chủ tịch hay một nhân viên Nội các về tội phản quốc. Đặc biệt, hệ thống tòa án nước ta thời kỳ này do Bộ Tư pháp quản lý (những nơi chưa thành lập được tòa án, các việc tư pháp do Uỷ ban hành chính đảm nhiệm); thẩm phán các cấp do những người đứng đầu các cơ quan hành pháp ở trung ương và địa phương bổ nhiệm. Theo Hiến pháp và Sắc lệnh số 13 (ngày 24/01/1946), hệ thống Tòa án tổ chức theo các nguyên tắc: tòa án biệt lập đối với hành chính, chỉ có Tòa án mới thực hiện chức năng xét xử; các thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm; khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được phép can thiệp.Chính phủ được quy định là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc. Trong các quyền năng của mình liên quan đến việc thực hiện quyền tư pháp, Chính phủ được Hiến pháp quy định quyền đặc xá, quyền lập dự án ngân sách hàng năm, quyền bổ nhiệm các thẩm phán. Để đảm bảo cho tòa án độc lập, Hiến pháp đã quy định khi xét xử, các viên thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp [1, Điều 69]. Quy định như vậy cho thấy, giới hạn của Hiến pháp đối với Chính phủ trong việc tham gia thực hiện những quyền tư pháp theo một nguyên tắc đảm bảo cho hoạt động xét xử được độc lập. Tuy nhiên, Hiến pháp vẫn tạo cho Chính phủ thực hiện quyền của chủ thể quản lý với đối tượng quản lý là TAND. Tòa án thời kỳ này vừa thực hiện quyền công tố, chỉ đạo điều tra, vừa thực hiện quyền xét xử và tổ chức thi hành án. Tại Tòa án có biện lý (đứng dầu là Chưởng lý) làm nhiệm vụ truy tố người phạm tội trước tòa án.Có thể thấy, Hiến pháp năm 1946 đã bảo đảm tính độc lập của các quyền hành pháp và quyền tư pháp; khẳng định tính nguyên tắc là các cơ quan Chính phủ và Tòa án đều là những cơ quan cao nhất của quyền lực nhà nước, mỗi cơ quan nắm giữ một bộ phận quyền lực nhà nước. Hiến pháp năm 1946 cũng tạo cơ chế cân bằng quyền lực, trong đó có việc kiểm soát giữa các cơ tư pháp đối với cơ quan hành pháp và ngược lại.3.1.1.2.  Hiến pháp năm 1959Tính đến năm 1959, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã ra đời và phát triển được 14 năm. Đó là một khoảng thời gian có nhiều sự kiện chính trị quan trọng, làm thay đổi tình hình chính trị, xã hội và kinh tế của đất nước. Ngay sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 1946, thực dân Pháp lại gây ra chiến tranh để xâm lược nước ta một lần nữa. Nhân dân ta lại bước vào cuộc kháng chiến trường kì và gian khổ. Với chiến thắng Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơnevơ thắng lợi, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng nhưng đất nước còn tạm thời bị chia làm hai miền. Nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới này là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà. Hiến pháp năm 1946 đã hoàn thành sứ mệnh của nó nhưng so với tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới nó cần được bổ sung và thay đổi. Vì vậy, trong Kỳ họp lần thứ 6, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa Khoá I đã quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1946 và thành lập Ban dự thảo Hiến pháp sửa đổi. Sau khi làm xong Bản dự thảo đầu tiên, tháng 7 năm 1958, Bản dự thảo được đưa ra thảo luận trong các cán bộ trung cấp và cao cấp thuộc các cơ quan Quân, Dân, Chính, Đảng. Sau đợt thảo luận này Bản dự thảo đã được chỉnh lý lại và ngày 01/4/1959, dự thảo được công bố để toàn dân thảo luận và đóng góp ý kiến xây dựng. Ngày 31/12/1959, Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp sửa đổi và ngày 01/01/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp.Hiến pháp năm 1959 quy định Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, và là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hội đồng Chính phủ có 15 nhiệm vụ, quyền hạn, đồng thời Hiến pháp còn quy định: Ngoài những quyền hạn trên, Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể trao cho Hội đồng Chính phủ những quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Chính phủ ra đời năm 1960, quy định trong thành phần Chính phủ không có Bộ Tư pháp. Các nhiệm vụ của Bộ Tư pháp về quản lý tổ chức và hoạt động của các cơ quan điều tra (tư pháp công an), truy tố (viện công tố), xét xử (toà án), thi hành án được chuyển giao cho Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao và một phần cho chính quyền địa phương.Đối với Tòa án, Hiến pháp 1959 quy định : “Toà án nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Trong trường hợp cần xét xử những vụ án đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt”. Căn cứ vào Hiến pháp, hệ thống toà án được thành lập ở các đơn vị hành chính. Để cụ thể hoá Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 đã quy định chế độ bầu thẩm phán thay thế cho chế độ bổ nhiệm thẩm phán trước đó. Theo đó, Chánh án TAND tối cao do Quốc hội bầu và bãi miễn. Phó Chánh án, Thẩm phán TAND tối cao do Ủy ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm và bãi miễn. Chánh án, Thẩm phán TAND địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn.Về tổ chức của TAND tối cao và các TAND địa phương được quy định như sau: “Tổ chức cụ thể của bộ máy làm việc và biên chế của Toà án nhân dân tối cao do Chánh án Toà án nhân dân tối cao định và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn” [19, Điều 8] và “Tổ chức cụ thể của bộ máy làm việc và biên chế cụ thể của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Chánh án Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện theo những quy định chung về bộ máy làm việc và biên chế của các cơ quan Nhà nước. Tổng số biên chế của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Chánh án Toà án nhân dân tối cao định và trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn” . Với quy trình nêu trên, có thể nhận thấy ở thời kỳ này TAND tối cao chủ yếu quản lý về công tác sắp xếp bộ máy làm việc, số lượng biên chế, trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn tổng biên chế của các TAND địa phương, quản lý về công tác xét xử. Còn Uỷ ban hành chính địa phương quản lý và cấp kinh phí hoạt động cũng như sắp xếp nhân sự.Nhìn chung, sự phân công quyền lực giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp đã “mờ nhạt” hơn so với Hiến pháp năm 1946. Những học thuyết về phân định quyền lực được thể chế trong Hiến pháp năm 1946 đã “không được kế thừa và phát huy” trong Hiến pháp năm 1959. Có thể nói, từ Hiến pháp năm 1959 đã bắt đầu hình thành xu hướng tập trung quyền lực nhà nước vào Quốc hội, còn quyền lực của các cơ quan khác chỉ được coi là quyền lực phái sinh từ Quốc hội .Theo: Nguyễn Thị Huyền Link luận án: Tại đây