YẾU TỐ LỢI ÍCH CỘNG ĐỒNG TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT KHI THU HỒI ĐẤT X Y DỰNG KẾT CẤU HẠ TẦNG
3.1. Yếu tố lợi ích của cộng đồng
3.1.1. Lợi ích cộng đồng từ thực tiễn áp dụng pháp luật khi thu hồi đất xây dựng kết cấu hạ tầng
Ở Việt Nam, từ thời điểm thực hiện thí điểm những dự án đầu tiên trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng có sự tham gia của khu vực tư nhân cho đến khi Luật PPP được ban hành, nhà nước có kinh nghiệm hạn chế trong thi hành pháp luật PPP. Thực tiễn triển khai các dự án PPP cho thấy có sự lúng túng và thiếu nhất quán trong trong xây dựng và triển khai thực hiện. Ở góc độ khu vực tư nhân, những “cơn ác mộng” rất nhiều nhà đầu tư gặp phải về sự chậm trễ kéo dài, gia tăng chi phí đầu tư, không thu hồi được vốn hoặc hủy bỏ dự án vì những trở ngại và rủi ro liên quan đến vấn đề thực thi pháp luật; mức độ tuân thủ cam kết trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của đối tác nhà nước. Ở góc độ nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý và vừa là một bên đối tác trong mối quan hệ hợp đồng PPP, cũng vấp phải không ít vấn đề bấp cập xuất phát từ năng lực thực thi pháp luật và thực hiện các cam kết trong hợp đồng. Bên cạnh đó, những vấn đề ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cộng đồng, xã hội và người sử dụng công trình dịch vụ kết cấu hạ tầng cũng chưa được giải quyết thấu đáo. Các yếu tố này ảnh hưởng đến quyết định gia nhập thị trường của nhà đầu tư tư nhân và hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đầu tư. Mặc dù còn có quan điểm cho rằng một số nội dung của pháp luật PPP Việt Nam còn nhiều hạn chế và là nguyên nhân gây trở ngại đến hiệu quả thu hút đầu tư. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả luận án, các vấn đề trở ngại thu hút hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng ở Việt Nam không hoàn toàn do sự thiếu hụt các quy định pháp luật về PPP mà còn có nguyên nhân hạn chế từ thực tiễn thi hành pháp luật và sự thiếu đồng bộ từ thực tiễn áp dụng pháp luật. Do vậy, để thu hút hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng, cần có giải pháp giải quyết các vấn đề từ thực tiễn đặt ra, nhằm hướng đến mục tiêu cân bằng lợi ích của các bên liên quan khi thu hút đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, khó có điều kiện để phân tích hết những hạn chế trong thực tiễn thực hiện pháp luật về đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng. Do vậy, luận án chỉ lựa chọn và tiếp cận phân tích một số vấn đề chính yếu từ thực tiễn ảnh hưởng đến hiệu quả thu hút đầu tư vào kết cấu hạ tầng theo hình thức PPP ở Việt Nam trong thời gian qua. Cụ thể:
3.1.1.1. Việc thực hiện các quy định về bồi thường giải phóng mặt bằng chưa đồng bộ
Giải phóng mặt bằng, đền bù, di dời, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất là vấn đề của nhiều dự án kết cấu hạ tầng có cấu phần xây dựng trong thời gian qua, gây kéo dài thời gian xây dựng, tăng chi phí và có thể ảnh hưởng đến chất lượng công trình. Bất cập trong vấn đề giao đất trở nên phổ biến với nhiều dự án kết cấu hạ tầng giao thông, đặc biệt là các dự án đầu tư có cấu phần xây dựng như BOT, BT trước đây. Các dự án này được thực hiện trên những vùng đất mà chính quyền các cấp giao các chủ đầu tư dự án. Tuy nhiên, trên thực tế, giữa các dự án BOT và dự án đổi đất lấy hạ tầng (BT) có sự nhầm lẫn, sự pha tạp dẫn tới không ít vi phạm pháp luật đất đai. Tuy nhiên, những bất cập liên quan đến đất đai trong các dự án đầu tư chưa được phân tích kỹ do vấn đề thu phí nổi lên quá bức xúc và rộng khắp. Đối với vấn đề giao đất, cả nhà nước và nhà đầu tư tư nhân cùng chịu rủi ro, vì vậy, việc cam kết bàn giao mặt bằng trước khi dự án bắt đầu trong mỗi hợp đồng PPP là cần thiết và cũng là thuận lợi để cho dự án được thành công, tuy nhiên, nhiều dự án PPP giao thông triển khai trong thời gian qua gặp khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng. Ví dụ:
+ Dự án mở rộng và nâng cấp QL 1A (đoạn từ TP Đông Hà đến TX Quảng Trị): Thời gian thi công: theo kế hoạch : tháng 10/2008- tháng 7/2014 (thời gian được duyệt là đến 31/12/2010). Ngày 18/10/2008: dự án khởi công. Ngày 14/3/2009, Công ty CP Tập đoàn Trường Thịnh bàn giao cọc và GPMB. Nhà đầu tư cam kết sau 24 tháng thi công đường sẽ hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng đến ngày 1/7/2014, đoạn đường này mới chính thức đi vào hoạt động. Về bàn giao mặt bằng: năm 2010 bàn giao được 10,534km/13,242km; năm 2011 không bàn giao; đến tháng 3/2012 bàn giao thêm khoảng 0,482km dẫn đến dự án phải gia hạn tiến độ lần 1 đến ngày 31/12/2011, lần 2 đến 30/3/2013. Thực tế dự án khởi công từ tháng 10/2008 đến tháng 5/2013 là hơn 4 năm, chậm 2 tháng do phải điều chỉnh cọc GPMB, năm 2010 chậm 4 tháng do thiếu vốn, năm 2011 không bố trí vốn, chậm 12 tháng.
Theo: Châu Phục Chi
Link luận án: Tại đây