0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64b95f888b905-NHỮNG-HẠN-CHẾ-CỦA-PHÁP-LUẬT-TRONG-KIỂM-SOÁT-CÁC-YẾU-TỐ-TÁC-ĐỘNG-ĐẾN-HIỆU-QUẢ-THU-HÚT-ĐẦU-TƯ-KẾT-CẤU-HẠ-TẦNG-.jpg.webp

NHỮNG HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT TRONG KIỂM SOÁT CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ THU HÚT ĐẦU TƯ KẾT CẤU HẠ TẦNG

4.1.1. Những hạn chế của pháp luật trong kiểm soát các yếu tố tác động đến hiệu quả thu hút đầu tư kết cấu hạ tầng tại Việt Nam

Thu hút tư nhân đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng theo hình thức PPP là một trong các giải pháp được các nước đang phát triển và Việt Nam sử dụng nhằm giải quyết sự mất cân xứng giữa vai trò và khả năng của nhà nước trong đầu tư và cung ứng các công trình, dịch vụ kết cấu hạ tầng. Dù vậy, khi sử dụng hình thức này, thực tế có những dự án thành công và có những dự án thất bại. Trong số các biện pháp thu hút đầu tư, pháp luật đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho sự hợp tác giữa nhà nước và nhà đầu tư vào những công trình, dịch vụ có tác động đến xã hội.
Từ những nội dung được phân tích ở các phần trước, tác giả luận án rút ra những đánh giá về hiệu quả của pháp luật thu hút đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng và sự cần thiết phải có các giải pháp pháp lý kiểm soát các yếu tố tác động đến hiệu quả thu hút đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng ở Việt Nam như sau:
- Thứ nhất, pháp luật về thu hút đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng đã điều chỉnh được một số yếu tố tác động đến hiệu quả thu hút đầu tư nhưng chưa đủ để kiểm soát các rủi ro phát sinh từ thực tiễn
Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Luật PPP) và các văn bản hướng dẫn thi hành đã được thiết kế, xây dựng với mục tiêu ổn định, lâu dài với các quy định cụ thể. Trên cơ sở kế thừa các nội dung về ưu đãi và bảo đảm đầu tư tại Nghị định 63/2018/NĐ-CP và các quy định pháp luật có liện quan, Luật đã có sự điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện nhiều biện pháp thu hút đầu tư của khu vực tư nhân trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng. Trong đó, cơ chế chia sẻ rủi ro về doanh thu và cơ chế bảo đảm ngoại tệ của nhà nước được kỳ vọng là một trong những giải pháp có thể kiểm soát tốt hơn các rủi ro ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà đầu tư.
- Tác giả luận án ghi nhận rằng trong phạm vi các vấn đề được nhận diện và đề cập ở chương 3 của luận án, một số vấn đề đã được các cơ quan quản lý nhà nước phát hiện và kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật pháp luật có liên quan, đã giải quyết tương đối hiệu quả. Ví dụ như các vấn đề liên quan đến rủi ro cản trở sự tham gia của nhà đầu tư tư nhân từ sự thiếu hụt các quy định pháp luật về phương thức lựa chọn nhà đầu tư, cơ chế chia sẻ phần tăng, giảm doanh thu giữa nhà nước và nhà đầu tư, trình tư, thủ tục đầu tư, kiếm soát chi phí đầu tư, trước đây ở cấp nghị định chưa giải quyết được, đã cơ bản được giải quyết bởi Luật PPP.
Dù vậy, còn nhiều quan điểm cho rằng mặc dù đã có những nỗ lực trong việc ban hành các quy định mới về PPP nhưng nội dung của pháp luật về PPP ở Việt Nam vẫn chưa có sự hỗ trợ cụ thể cho các nhà đầu tư.215 Các qui định về ưu đãi, bảo đảm đầu tư theo phương thức PPP gần như là những sao chép của Luật đầu tư, không phản ánh được đặc thù của dự án PPP. Chưa cụ thể để đẩm bảo sự tin cậy của nhà đầu tư. Rất nhiều các khuyến nghị của các tổ chức quốc tế như WB, EU, UNCITRAL, OECD
v.v ..rất hữu ích việc đảm bảo PPP mang lại lợi ích cho các bên và cho xã hội chưa thể hiện được trong Luật216. Về vấn đề này, tác giả luận án đồng quan điểm là các nhà lập pháp cần tiếp tục ghi nhận và có sự điều chỉnh kịp thời đối với những vấn đề phát sinh từ thực tiễn thu hút đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng, gắn với đặc thù về thể chế chính trị và điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.
- Thứ hai, pháp luật Việt Nam chưa có các thiết chế đủ mạnh để kiểm soát các rủi ro từ vi phạm, tranh chấp hợp đồng
Hợp đồng dự án là tài liệu rất quan trọng và là khung pháp lý trong thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, việc sử dụng thiết chế hợp đồng là hết sức quan trọng. Cách tốt nhất để bảo vệ các bên liên quan khỏi các rủi ro chính là dựa vào các điều khoản quy định trong hợp đồng. Tuy nhiên thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp các bên chưa chú trọng đúng mức những vấn đề này trong quá trình xây dựng hợp đồng. Vì vậy, có những dự án đã triển khai cho thấy một số vấn đề bất cập mà lẽ ra có thể xử lý bằng cơ chế hợp đồng, nhưng trên thực tế đã không xử lý được và nhiều dự án đã mang lai rủi ro cho nhà đầu tư cũng như các hệ lụy xã hội không mong muốn. Nguyên nhân được chỉ ra là do việc quản lý hợp đồng yếu, cả nhà đầu tư và cơ quan nhà nước chưa thấy được vai trò quan trọng của hợp đồng. Còn có nhà đầu tư chưa lường hết được các rủi ro trong quá trình thực hiện dự án nên chưa đưa vào hợp đồng các điều khoản cam kết, phân bổ rủi ro, phân chia trách nhiệm,...nên chưa kiểm soát được rủi ro phát sinh trên thực tế, chưa giảm thiểu được rủi ro trong quá trình thực hiện dự án. Trên thực tế, có những hợp đồng dài hàng trăm trang, và phải mất bao nhiêu năm để đàm phán, nhưng một trong các bên vẫn vi phạm, không tuân thủ quy định hợp đồng đã ký. Tác giả luận án đồng quan điểm với những đánh giá trên. Ngoài ra, như đã phân tích ở phần trên, tác giả luận án cho rằng, bên cạnh nguyên nhân chủ quan từ các bên tham gia hợp đồng, còn có nguyên nhân khách quan từ nền tảng chính trị - pháp lý của Việt Nam, chưa đủ các công cụ đủ mạnh để các bên tự bảo vệ khi có tranh chấp hoặc vi phạm hợp đồng, mà trong nhiều trường hợp, xuất phát từ bản chất của quan hệ hợp tác công tư, nhà đầu tư thường là bên yếu thế hơn. Giả thiết các bên liên quan dự báo được rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện dự án, xong trong nhiều trường hợp, nhà đầu tư vẫn đối diện với rủi ro tiềm ẩn từ sự thay đổi chính sách, pháp luật, từ trách nhiệm bồi thường của nhà nước và từ cơ chế giải quyết tranh chấp.

Theo: Châu Phục Chi

Link luận án: Tại đây

 

avatar
Đặng Quỳnh
967 ngày trước
NHỮNG HẠN CHẾ CỦA PHÁP LUẬT TRONG KIỂM SOÁT CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ THU HÚT ĐẦU TƯ KẾT CẤU HẠ TẦNG
4.1.1. Những hạn chế của pháp luật trong kiểm soát các yếu tố tác động đến hiệu quả thu hút đầu tư kết cấu hạ tầng tại Việt NamThu hút tư nhân đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng theo hình thức PPP là một trong các giải pháp được các nước đang phát triển và Việt Nam sử dụng nhằm giải quyết sự mất cân xứng giữa vai trò và khả năng của nhà nước trong đầu tư và cung ứng các công trình, dịch vụ kết cấu hạ tầng. Dù vậy, khi sử dụng hình thức này, thực tế có những dự án thành công và có những dự án thất bại. Trong số các biện pháp thu hút đầu tư, pháp luật đóng vai trò thiết yếu trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho sự hợp tác giữa nhà nước và nhà đầu tư vào những công trình, dịch vụ có tác động đến xã hội.Từ những nội dung được phân tích ở các phần trước, tác giả luận án rút ra những đánh giá về hiệu quả của pháp luật thu hút đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng và sự cần thiết phải có các giải pháp pháp lý kiểm soát các yếu tố tác động đến hiệu quả thu hút đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng ở Việt Nam như sau:- Thứ nhất, pháp luật về thu hút đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng đã điều chỉnh được một số yếu tố tác động đến hiệu quả thu hút đầu tư nhưng chưa đủ để kiểm soát các rủi ro phát sinh từ thực tiễnLuật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Luật PPP) và các văn bản hướng dẫn thi hành đã được thiết kế, xây dựng với mục tiêu ổn định, lâu dài với các quy định cụ thể. Trên cơ sở kế thừa các nội dung về ưu đãi và bảo đảm đầu tư tại Nghị định 63/2018/NĐ-CP và các quy định pháp luật có liện quan, Luật đã có sự điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện nhiều biện pháp thu hút đầu tư của khu vực tư nhân trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng. Trong đó, cơ chế chia sẻ rủi ro về doanh thu và cơ chế bảo đảm ngoại tệ của nhà nước được kỳ vọng là một trong những giải pháp có thể kiểm soát tốt hơn các rủi ro ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà đầu tư.- Tác giả luận án ghi nhận rằng trong phạm vi các vấn đề được nhận diện và đề cập ở chương 3 của luận án, một số vấn đề đã được các cơ quan quản lý nhà nước phát hiện và kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật pháp luật có liên quan, đã giải quyết tương đối hiệu quả. Ví dụ như các vấn đề liên quan đến rủi ro cản trở sự tham gia của nhà đầu tư tư nhân từ sự thiếu hụt các quy định pháp luật về phương thức lựa chọn nhà đầu tư, cơ chế chia sẻ phần tăng, giảm doanh thu giữa nhà nước và nhà đầu tư, trình tư, thủ tục đầu tư, kiếm soát chi phí đầu tư, trước đây ở cấp nghị định chưa giải quyết được, đã cơ bản được giải quyết bởi Luật PPP.Dù vậy, còn nhiều quan điểm cho rằng mặc dù đã có những nỗ lực trong việc ban hành các quy định mới về PPP nhưng nội dung của pháp luật về PPP ở Việt Nam vẫn chưa có sự hỗ trợ cụ thể cho các nhà đầu tư.215 Các qui định về ưu đãi, bảo đảm đầu tư theo phương thức PPP gần như là những sao chép của Luật đầu tư, không phản ánh được đặc thù của dự án PPP. Chưa cụ thể để đẩm bảo sự tin cậy của nhà đầu tư. Rất nhiều các khuyến nghị của các tổ chức quốc tế như WB, EU, UNCITRAL, OECDv.v ..rất hữu ích việc đảm bảo PPP mang lại lợi ích cho các bên và cho xã hội chưa thể hiện được trong Luật216. Về vấn đề này, tác giả luận án đồng quan điểm là các nhà lập pháp cần tiếp tục ghi nhận và có sự điều chỉnh kịp thời đối với những vấn đề phát sinh từ thực tiễn thu hút đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng, gắn với đặc thù về thể chế chính trị và điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.- Thứ hai, pháp luật Việt Nam chưa có các thiết chế đủ mạnh để kiểm soát các rủi ro từ vi phạm, tranh chấp hợp đồngHợp đồng dự án là tài liệu rất quan trọng và là khung pháp lý trong thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, việc sử dụng thiết chế hợp đồng là hết sức quan trọng. Cách tốt nhất để bảo vệ các bên liên quan khỏi các rủi ro chính là dựa vào các điều khoản quy định trong hợp đồng. Tuy nhiên thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp các bên chưa chú trọng đúng mức những vấn đề này trong quá trình xây dựng hợp đồng. Vì vậy, có những dự án đã triển khai cho thấy một số vấn đề bất cập mà lẽ ra có thể xử lý bằng cơ chế hợp đồng, nhưng trên thực tế đã không xử lý được và nhiều dự án đã mang lai rủi ro cho nhà đầu tư cũng như các hệ lụy xã hội không mong muốn. Nguyên nhân được chỉ ra là do việc quản lý hợp đồng yếu, cả nhà đầu tư và cơ quan nhà nước chưa thấy được vai trò quan trọng của hợp đồng. Còn có nhà đầu tư chưa lường hết được các rủi ro trong quá trình thực hiện dự án nên chưa đưa vào hợp đồng các điều khoản cam kết, phân bổ rủi ro, phân chia trách nhiệm,...nên chưa kiểm soát được rủi ro phát sinh trên thực tế, chưa giảm thiểu được rủi ro trong quá trình thực hiện dự án. Trên thực tế, có những hợp đồng dài hàng trăm trang, và phải mất bao nhiêu năm để đàm phán, nhưng một trong các bên vẫn vi phạm, không tuân thủ quy định hợp đồng đã ký. Tác giả luận án đồng quan điểm với những đánh giá trên. Ngoài ra, như đã phân tích ở phần trên, tác giả luận án cho rằng, bên cạnh nguyên nhân chủ quan từ các bên tham gia hợp đồng, còn có nguyên nhân khách quan từ nền tảng chính trị - pháp lý của Việt Nam, chưa đủ các công cụ đủ mạnh để các bên tự bảo vệ khi có tranh chấp hoặc vi phạm hợp đồng, mà trong nhiều trường hợp, xuất phát từ bản chất của quan hệ hợp tác công tư, nhà đầu tư thường là bên yếu thế hơn. Giả thiết các bên liên quan dự báo được rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện dự án, xong trong nhiều trường hợp, nhà đầu tư vẫn đối diện với rủi ro tiềm ẩn từ sự thay đổi chính sách, pháp luật, từ trách nhiệm bồi thường của nhà nước và từ cơ chế giải quyết tranh chấp.Theo: Châu Phục ChiLink luận án: Tại đây