0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64b960141f74c-NHẬN-DIỆN-CÁC-GIẢI-PHÁP-PHÁP-LÝ-THU-HÚT-HIỆU-QUẢ-ĐẦU-TƯ-TRONG-LĨNH-VỰC-KẾT-CẤU-HẠ-TẦNG.jpg.webp

NHẬN DIỆN CÁC GIẢI PHÁP PHÁP LÝ THU HÚT HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC KẾT CẤU HẠ TẦNG

4.1.3. Nhận diện các giải pháp pháp lý thu hút hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng tại Việt Nam

Ở Việt Nam, từ thời điểm thực hiện thí điểm những dự án đầu tiên trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng có sự tham gia của khu vực tư nhân cho đến khi Luật PPP được ban hành, nhà nước có kinh nghiệm hạn chế trong thu hút đầu tư tư nhân vào hàng hóa công cộng một cách hiệu quả. Mặc dù Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Luật PPP) và các văn bản hướng dẫn thi hành được thiết kế, xây dựng với mục tiêu ổn định, lâu dài với các quy định cụ thể nhằm tạo điều kiện thu hút hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng, tuy nhiên, thực tiễn tại Việt Nam như đã phân tích ở chương 3, cho thấy có sự lúng túng và thiếu nhất quán trong trong xây dựng và triển khai thực hiện. Cụ thể, việc kiểm soát rủi ro khi thu hút đầu tư tư nhân vào hàng hóa công cộng và vấn đề cân bằng lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và cộng đồng vẫn chưa được thể chế hóa một cách đầy đủ trong Luật PPP và các lĩnh vực pháp luật có liên quan. Trong khi các vấn đề này luôn được lưu ý bởi các khuyến nghị lập pháp từ các tổ chức Quốc tế. Chẳng hạn như Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) khi đưa ra các khuyến nghị lập pháp để xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư kết cấu hạ tầng từ nguồn vốn tư nhân đã thiết kế những điều khoản về rủi ro dự án và sự hỗ trợ của nhà nước, quy định về lựa chọn người nhượng quyền (nhà đầu tư). Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD), trong các khuyến nghị lập pháp liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đã thiết kế các điều, khoản quy định về nguyên tắc kiểm soát rủi ro trong đầu tư công; nguyên tắc về vai trò của tư nhân trong mối quan quan hệ với đầu tư công; các nguyên tắc cần tuân thủ khi tìm kiếm sự tham gia của khu vực tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng nhằm định hướng cho nhà nước khi xem xét sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân như là một trong số nhiều các lựa chọn để cải thiện việc cung cấp các dịch vụ hạ tầng công cộng. Các nguyên tắc pháp lý này thống nhất với quan điểm mời gọi nhà đầu tư tư nhân tham gia không đồng nghĩa ủng hộ việc tư nhân hóa hoặc chuyển thành quản lý tư nhân đối với hệ thống hạ tầng thuộc sở hữu công cộng. Sự lựa chọn giữa khu vực công hay khu vực tư xây dựng và cung cấp các dịch vụ hạ tầng công cộng cần được xem xét dựa trên các tiêu chí cụ thể. Bao gồm mức độ cung cấp dịch vụ hiện tại và tình trạng tài sản, khả năng chi trả các loại phí của các hộ gia đình và doanh nghiệp, phạm vi bao phủ của mạng lưới, hiệu quả hoạt động, duy trì lâu dài sự vận hành của công trình cũng như tính bền vững về xã hội và môi trường, thời gian hoàn thành công trình theo yêu cầu và nguồn tài chính của các bên tham gia đầu tư. Hệ thống tiêu chí này được quy định và điều chỉnh bằng pháp luật. Trong bối cảnh như vậy, có thể nhận thấy giải pháp pháp lý đặc biệt hữu ích ở các quốc gia trong giai đoạn đầu của việc thiết lập hoặc phát triển năng lực quản lý quốc gia đối với các dự án PPP223, như Việt Nam chẳng hạn. Những giải pháp như vậy đại diện cho một đảm bảo hữu ích rằng nhà nước giải quyết các vấn đề trở ngại đến hiệu quả thu hút đầu tư theo hình thức pháp lý của chúng, các cơ quan quản lý không có quyền quyết định vô hạn trong việc thực hiện các chức năng của mình, mà vẫn chịu sự ràng buộc bởi các quy định pháp luật hiện hành, trong khi chờ đợi một hệ thống chính sách pháp luật hoàn thiện hơn.

Theo: Châu Phục Chi

Link luận án: Tại đây


 

avatar
Đặng Quỳnh
965 ngày trước
NHẬN DIỆN CÁC GIẢI PHÁP PHÁP LÝ THU HÚT HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC KẾT CẤU HẠ TẦNG
4.1.3. Nhận diện các giải pháp pháp lý thu hút hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng tại Việt NamỞ Việt Nam, từ thời điểm thực hiện thí điểm những dự án đầu tiên trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng có sự tham gia của khu vực tư nhân cho đến khi Luật PPP được ban hành, nhà nước có kinh nghiệm hạn chế trong thu hút đầu tư tư nhân vào hàng hóa công cộng một cách hiệu quả. Mặc dù Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (Luật PPP) và các văn bản hướng dẫn thi hành được thiết kế, xây dựng với mục tiêu ổn định, lâu dài với các quy định cụ thể nhằm tạo điều kiện thu hút hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng, tuy nhiên, thực tiễn tại Việt Nam như đã phân tích ở chương 3, cho thấy có sự lúng túng và thiếu nhất quán trong trong xây dựng và triển khai thực hiện. Cụ thể, việc kiểm soát rủi ro khi thu hút đầu tư tư nhân vào hàng hóa công cộng và vấn đề cân bằng lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và cộng đồng vẫn chưa được thể chế hóa một cách đầy đủ trong Luật PPP và các lĩnh vực pháp luật có liên quan. Trong khi các vấn đề này luôn được lưu ý bởi các khuyến nghị lập pháp từ các tổ chức Quốc tế. Chẳng hạn như Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) khi đưa ra các khuyến nghị lập pháp để xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư kết cấu hạ tầng từ nguồn vốn tư nhân đã thiết kế những điều khoản về rủi ro dự án và sự hỗ trợ của nhà nước, quy định về lựa chọn người nhượng quyền (nhà đầu tư). Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD), trong các khuyến nghị lập pháp liên quan đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đã thiết kế các điều, khoản quy định về nguyên tắc kiểm soát rủi ro trong đầu tư công; nguyên tắc về vai trò của tư nhân trong mối quan quan hệ với đầu tư công; các nguyên tắc cần tuân thủ khi tìm kiếm sự tham gia của khu vực tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng nhằm định hướng cho nhà nước khi xem xét sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân như là một trong số nhiều các lựa chọn để cải thiện việc cung cấp các dịch vụ hạ tầng công cộng. Các nguyên tắc pháp lý này thống nhất với quan điểm mời gọi nhà đầu tư tư nhân tham gia không đồng nghĩa ủng hộ việc tư nhân hóa hoặc chuyển thành quản lý tư nhân đối với hệ thống hạ tầng thuộc sở hữu công cộng. Sự lựa chọn giữa khu vực công hay khu vực tư xây dựng và cung cấp các dịch vụ hạ tầng công cộng cần được xem xét dựa trên các tiêu chí cụ thể. Bao gồm mức độ cung cấp dịch vụ hiện tại và tình trạng tài sản, khả năng chi trả các loại phí của các hộ gia đình và doanh nghiệp, phạm vi bao phủ của mạng lưới, hiệu quả hoạt động, duy trì lâu dài sự vận hành của công trình cũng như tính bền vững về xã hội và môi trường, thời gian hoàn thành công trình theo yêu cầu và nguồn tài chính của các bên tham gia đầu tư. Hệ thống tiêu chí này được quy định và điều chỉnh bằng pháp luật. Trong bối cảnh như vậy, có thể nhận thấy giải pháp pháp lý đặc biệt hữu ích ở các quốc gia trong giai đoạn đầu của việc thiết lập hoặc phát triển năng lực quản lý quốc gia đối với các dự án PPP223, như Việt Nam chẳng hạn. Những giải pháp như vậy đại diện cho một đảm bảo hữu ích rằng nhà nước giải quyết các vấn đề trở ngại đến hiệu quả thu hút đầu tư theo hình thức pháp lý của chúng, các cơ quan quản lý không có quyền quyết định vô hạn trong việc thực hiện các chức năng của mình, mà vẫn chịu sự ràng buộc bởi các quy định pháp luật hiện hành, trong khi chờ đợi một hệ thống chính sách pháp luật hoàn thiện hơn.Theo: Châu Phục ChiLink luận án: Tại đây