KHÁI NIỆM TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
2.1.1. Khái niệm tranh chấp thương mại
Tranh chấp thương mại là một loại tranh chấp pháp lý trong lĩnh vực thương mại. Nói đơn giản đây là tranh chấp liên quan tới quyền và nghĩa vụ được điều tiết bởi luật thương mại. Nói cách khác tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh từ hành vi thương mại. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 có xác định hai dấu hiệu nhận biết tranh chấp kinh doanh, thương mại bao gồm: thứ nhất, chủ thể là thương nhân và thứ hai, mục tiêu lợi nhuận tại Điều 29, khoản 1. Có thể hiểu đây là các tranh chấp phát sinh từ hành vi thương mại do bản chất. Việc xác định các dấu hiệu này là một gợi ý quan trọng cho việc nghiên cứu lý luận về sự phân biệt giữa luật dân sự và luật thương mại, hay giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại. Hiểu rằng: nghiên cứu sự phân biệt như vậy có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vi tác động của nguyên tắc áp dụng tập quán thương mại và nguyên tắc áp dụng thói quen thương mại được tuyên bố tại Điều 12 và Điều 13 của Luật Thương mại năm 2005, chứ không chỉ đơn thuần có ý nghĩa cho việc phân biệt tranh chấp dân sự và tranh chấp thương mại.
- Trong khoa học pháp lý, nhất là ở truyền thống Civil Law, người ta thường có sự phân biệt giữa luật dân sự và luật thương mại, do đó buộc phải phân loại các hành vi pháp lý thành hành vi dân sự và hành vi thương mại. Sự phân biệt này vấp phải nhiều rắc rối mà đôi khi gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật. Tuy nhiên các luật gia thuộc truyền thống Civil Law đã cố gắng đưa ra một số cách phân biệt hành vi dân sự và hành vi thương mại. Trong pháp điển hóa luật thương mại các cách thức phân biệt này được sử dụng phần nào đó. Về mặt học thuật, để phân biệt hành vi dân sự và hành vi thương mại, người ta thường đi từ việc phân tích lịch sử phát sinh ra các qui tắc của luật thương mại, rồi sau đó đề cập tới các cách thức phân biệt hành vi dân sự và hành vi thương mại.
Nguồn gốc lịch sử của luật thương mại
Roger Houin và Michel Pédamon cho rằng: luật thương mại không thể tự nhiên xuất hiện mà chúng chỉ có thể được hình thành khi có vài điều kiện lịch sử nhất định, và các yếu tố hợp nhất lại để hình thành điều kiện lịch sử cho việc ra đời của luật thương mại là khi có một khối lượng nhất định về sản xuất và trao đổi, khi quan hệ quốc tế trở nên sôi động và khi có một sự tự do vừa đủ cho các thương gia.
-Vào thế kỷ thứ XII và XIII các quy tắc thương mại được hình thành ở Miền Bắc Italy khi thương mại và hàng hải phát triển. Cùng thời, ở Châu u đã hình thành một trung tâm thương mại thứ hai trong các thành phố của Flandre như Bruges, Anwers, Amsterdam với sự phát triển nghề sản xuất len và vải. Các chế định của luật thương mại xuất hiện ở khắp nơi trong các hội chợ lớn để phục vụ cho việc phân phối hàng hóa khác ở Châu Âu.
- Khi công nghiệp và thương mại có sức lớn nhất định nhiều Đạo dụ được các nhà vua ban hành để điều tiết quan hệ thương mại. Chẳng hạn: Ở Pháp có Chỉ dụ năm 1563; Đạo dụ năm 1673 (còn được gọi là Bộ luật Savary); Đạo dụ năm 1681 về luật hàng hải. Các Đạo dụ này đánh dấu sự ra đời của luật thương mại với tư cách là một ngành luật. Đặc biệt năm 1801, một ủy ban gồm 7 thành viên bao gồm các thẩm phán và thương gia soạn thảo Bộ luật Thương mại Pháp và Bộ luật này được ban hành vào năm 1807 [9, tr. 44-46]. Đây là bộ pháp điển hóa đầu tiên của thế giới về luật thương mại. Ở nước Đức vào cuối thế kỷ thứ 19 đã xây dựng hai bộ luật là: Bộ luật Dân sự năm 1900 và Bộ luật Thương mại năm 1897. Luật thương mại đã được nhiều luật gia quan niệm có một con đường hình thành riêng. Nhưng cũng có luật gia cho rằng nó được hình thành trên nền tảng của luật dân sự.
- Các luật gia trên thế giới đều thừa nhận rằng các qui tắc của luật thương mại có con đường phát triển riêng biệt với các qui tắc của luật dân sự. Hầu hết các qui tắc của luật thương mại là các qui tắc tập quán của các thương nhân. Do đó luật thương mại còn được gọi là luật thương nhân (merchant law). Chủ thể thông thường của luật thương mại là các thương nhân lấy hành vi thương mại làm nghề nghiệp của mình.
- Ở nước Anh - quê hương của truyền thống Common Law, đã gắn luật thương nhân thành một phần của thông luật (common law). Và chính
bản thân thông luật cũng được phát triển từ các tập quán từ thời Trung cổ của các bộ lạc người Giéc-manh sinh sống tại nước Anh, và thực tiễn xét xử. Các quy tắc thương mại của Common Law thực chất là các quy tắc tập quán của các thương nhân người Italy du nhập vào nước Anh.
Ở Việt Nam vào năm 1864, thực dân Pháp đem Bộ luật Thương mại Pháp áp dụng tại Nam Kỳ và năm 1888 áp dụng tại Bắc Kỳ. Vào năm 1942, Triều đình Huế ban hành Bộ luật Thương mại áp dụng tại Trung Kỳ. Vào thời kỳ đổi mới, Việt Nam cũng xây dựng các đạo luật thương mại (Luật Thương mại năm 1997 và Luật Thương mại năm 2005) trên căn bản học tập kinh nghiệm từ truyền thống Civil Law và Common Law.
Như vậy có thể nói luật thương mại có tính đồng nhất cao hơn và tính quốc tế rộng lớn hơn so với luật dân sự. Và hầu hết các qui tắc của luật thương mại dù được pháp điển hóa trong các bộ luật thì đều là các qui tắc có nguồn gốc từ tập quán thương mại xuất hiện từ thời kỳ trung cổ.
Phân biệt hành vi thương mại và hành vi dân sự
Đạo luật Mẫu về Thương mại Điện tử do Ủy ban Liên hiệp Quốc về Luật Thương mại soạn thảo có đưa ra định nghĩa:
Thuật ngữ "thương mại"/commerce/cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề nảy sinh ra từ mọi mối quan hệ mang tính chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các mối quan hệ mang tính thương mại /commercial/ bao gồm, nhưng không phải chỉ bảo gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc
tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ [70].
Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam xây dựng một định nghĩa tổng quát về hoạt động thương mại như sau: "Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác" (Điều 3, khoản 1).
Tuy nhiên việc phân biệt hành vi dân sự và hành vi thương mại, cũng như định nghĩa hành vi thương mại không đơn giản. Các nền tài phán ít khi đưa ra định nghĩa về hành vi thương mại, nhưng có những cách thức không khác nhau nhiều về việc xác định hành vi thương mại bằng cách phân loại. Điển hình là Pháp - nước pháp điển hóa luật thương mại theo kiểu hiện đại đầu tiên trên thế giới, xác định hành vi thương mại bao gồm ba loại:
(1) Hành vi thương mại do bản chất, bao gồm: Thứ nhất, các hành vi được coi là hành vi thương mại ngay cả khi chúng được thực hiện một cách riêng rẽ; thứ hai, các hành vi chỉ được coi là hành vi thương mại trong trường hợp do thương nhân thực hiện.
(2) Hành vi thương mại do hình thức, bao gồm: Các hành vi được coi là hành vi thương mại ngay cả khi chúng được những người không phải là thương nhân thực hiện như hành vi lập hối phiếu, hành vi của các công ty thương mại...
(3) Hành vi thương mại do phụ thuộc, bao gồm: Các hành vi mà bản chất là hành vi dân sự nhưng phụ thuộc vào hoạt động thương mại hoặc các thương nhân [21, tr. 20-24].
Theo pháp luật của Pháp, các hành vi thương mại riêng rẽ bao gồm:
- Việc mua động sản để bán lại không kể tới việc có gia công, sửa chữa, hoàn thiện hoặc làm tăng thêm giá trị hay không;
- Việc mua bán bất động sản để bán lại hoặc mua để xây dựng lại rồi bán toàn bộ hay từng phần;
- Hoạt động làm trung gian để mua hoặc bán các bất động sản, cơ sở kinh doanh, cổ phần của công ty kinh doanh bất động sản;
- Hoạt động môi giới thương mại;
- Hoạt động ngân hàng hay hối đoái.
Hệ thống pháp luật này xác định các hành vi thông qua doanh nghiệp bao gồm:
- Các doanh nghiệp cho thuê động sản;
- Các doanh nghiệp hoạt động chế tạo hay các nhà công nghiệp;
- Các doanh nghiệp hoạt động cung ứng hàng hóa, nguyên, nhiên, vật liệu...;
- Các doanh nghiệp hoạt động biểu diễn công cộng như tổ chức biểu diễn ca nhạc, xiếc kịch... và các nhà xuất bản;
- Các doanh nghiệp hoạt động ủy thác;
- Các cửa hàng bán đấu giá;
- Các hãng đại lý và các văn phòng kinh doanh;
- Các hãng bảo hiểm, các hãng điện ảnh, các hãng quảng cáo, thông tin.
Ngoài ra, hoạt động khai thác mỏ luôn luôn được coi là hành vi thương mại.
Theo: Nguyễn Mạnh Thắng
Link luận án: Tại đây