0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
timeline_post_file64ba4454900a6-ĐẶC-ĐIỂM-CỦA-THỦ-TỤC-PHÁP-LUẬT-VỀ-ĐẦU-TƯ-ĐỐI-VỚI-DOANH-NGHIỆP-TƯ-NHÂN-.jpg.webp

ĐẶC ĐIỂM CỦA THỦ TỤC PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

2.1. Đặc điểm của thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân

Là một loại TTHC nên thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân có những điểm chung của TTHC và TTĐT như sau:
-   Thủ tục đầu tư do nhiều công chức, viên chức, cơ quan hành chính nhà nước thực hiện. Họ là những chủ thể có thẩm quyền thực hiện TTĐT.
-  Thủ tục đầu tư được điều chỉnh bằng các quy phạm TTHC trong các văn bản pháp luật.
-  Thủ tục đầu tư bao gồm nhiều thủ tục đáp ứng sự đa dạng, phong phú của hoạt động đầu tư.
-  Thủ tục đầu tư gắn với các loại công văn, giấy tờ [85, tr.119-121].
Ngoài ra, do là một bộ phận của pháp luật, nên thủ tục pháp luật đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân cũng có các thuộc tính khác như: tính khách quan (tồn tại khách quan cùng với pháp luật bên cạnh nhà nước và trong thể chế kinh tế thị trường); tính phổ biến (những điểm chung trong TTĐT của các quốc gia và đòi hỏi đáp ứng các yêu cầu của hội nhập và tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn).
Ngoài những đặc điểm chung nói trên, TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân phản ánh những đặc điểm nổi trội gắn với tính chất của hoạt động đầu tư và loại hình doanh nghiệp tư nhân như sau.
- Thứ nhất, tính chất luật công của TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân
Thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân phản ánh rõ nét tính chất luật công.
Pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân điều chỉnh quan hệ pháp luật đầu tư theo chiều dọc, đó là quan hệ giữa chủ đầu tư với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ này phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư, chẳng hạn quyết định chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư v.v… Cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ này là các văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Theo đó, TTĐT sử dụng phương pháp điều chỉnh của luật công - phương pháp hành chính chứ không thể điều chỉnh bằng phương pháp dân sự. Không thể có sự thỏa thuận giữa chủ đầu tư với cơ quan nhà nước về việc cấp giấy chứng nhận đầu tư, điều kiện đầu tư hay việc xử lý vi phạm pháp luật trong đầu tư… Trên phương diện này, pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân cũng giống với pháp luật dành cho các thành phần kinh tế khác như doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quan hệ pháp luật giữa các chủ thể không có sự bình đẳng, không được tự do thỏa thuận những nội dung đã được quy định trong các văn bản pháp luật.
- Thứ hai, Thủ tục đầu tư vẫn mang tính chất cho phép và tính bắt buộc
Xét về tính chất và mối quan hệ công tác có thể nhận diện được TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân là dạng TTHC liên hệ, cụ thể là thủ tục cho phép [85, tr.119-123]. Ở đó, chủ đầu tư có quyền bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh trong những ngành, nghề pháp luật không cấm thông qua các hình thức đầu tư pháp luật quy định. Việc hợp pháp hóa và công khai thực hiện quyền này được tiến hành theo những trình tự, thủ tục nhất định, ràng buộc không chỉ đối với nhà đầu tư mà đối với cả cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thủ tục giải quyết các yêu cầu, kiến nghị của nhà đầu tư làm phát sinh mối quan hệ pháp lý, các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa nhà đầu tư và cơ quan nhà nước có liên quan.
Về nguyên tắc, dự án đầu tư của doanh nghiệp tư nhân thuộc trường hợp không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (khoản 2 điều 36 Luật Đầu tư). Tuy nhiên, do TTĐT do pháp luật quy định nên các chủ đầu tư cũng như các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư có trách nhiệm thi hành và tuân thủ những quy định này. Để đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động đầu tư, doanh nghiệp tư nhân không chỉ quan tâm đến nội dung đầu tư, mà cần tuân thủ cả quy trình và TTĐT. Thủ tục đầu tư có thể được phân thành TTHC bắt buộc và các TTHC không bắt buộc. Các TTHC không bắt buộc là các thủ tục do cơ quan nhà nước tiến hành dựa trên quyền yêu cầu của nhà đầu tư, ví dụ như các thủ tục cung cấp thông tin, giải thích pháp luật chính sách về đầu tư. Thủ tục hành chính bắt buộc là thủ tục mà các tổ chức, cá nhân bắt buộc phải thực hiện khi tiến hành hoạt động đầu tư ở trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam. Do là một dạng TTHC nên TTĐT luôn chịu tác động của các hoạt động quản lý nhà nước thông qua luật hành chính, luật đầu tư và các luật có liên quan.
- Thứ ba, tính liên ngành của thủ tục đầu tư
Pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân không chỉ dựa trên cơ sở pháp luật về đầu tư mà còn căn cứ vào pháp luật liên ngành bởi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn liên quan tới nhiều khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội. Pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong thực hiện các thủ tục trong hoạt động đầu tư của doanh nghiệp tư nhân. Trong đó, tùy theo từng hệ thống pháp luật mà các quốc gia sử dụng văn bản pháp luật, hoặc tập quán, án lệ, học thuyết pháp lý, hoặc kết hợp các hình thức này để điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể có liên quan tới TTĐT của doanh nghiệp tư nhân [16]. Thông thường, TTĐT thường được quy định trong các văn bản pháp luật. Đó là Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành; các đạo luật khác có liên quan tới TTĐT (như luật đất đai, luật doanh nghiệp, luật tài nguyên, luật xây dựng…); tập quán quốc tế về đầu tư; các điều ước, cam kết quốc tế song phương hoặc đa phương về đầu tư mà quốc gia đó là thành viên.
i)  Pháp luật đầu tư: pháp luật đầu tư theo nghĩa rộng quy định các thủ tục cần thực hiện trong quan hệ đầu tư như thủ tục quyết định chủ trương đầu tư; thủ tục cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; TTĐT trong những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; thủ tục thực hiện các hình thức đầu tư; thủ tục triển khai thực hiện dự án đầu tư; thủ tục chuyển nhượng dự án đầu tư; thủ tục tạm ngừng, ngừng, giãn tiến độ dự án, chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư… Ngoài ra, hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước đối với dự án đầu tư của doanh nghiệp tư nhân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong thực hiện TTĐT cũng cần được thực hiện theo những thủ tục do pháp luật quy định.
ii)  Luật Doanh nghiệp: quy định những vấn đề liên quan trực tiếp tới TTĐT như thủ tục về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân, thủ tục đăng ký vốn đầu tư, thủ tục cho thuê, mua bán, giải thể doanh nghiệp, thanh lý tài sản doanh nghiệp, thủ tục hình thành tài sản để tiến hành các hoạt động đầu tư và đăng ký quyền sở hữu tài sản, thủ tục hưởng quyền được bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách, thủ tục cho thuê, điều chỉnh vốn, chuyển nhượng vốn hoặc chuyển nhượng dự án đầu tư.
iii)  Luật Đất đai: quy định về thủ tục giao đất hoặc thuê đất và chuẩn bị mặt bằng xây dựng…;
iv)   Luật Hải quan và Luật Thuế: quy định các thủ tục về kê khai, quản lý hàng hóa của doanh nghiệp, đăng ký hải quan, và các thủ tục về thu, nộp thuế đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu để đầu tư, cũng như nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp tư nhân đối với Nhà nước trong quá trình đầu tư.
v)  Luật Bảo vệ môi trường: quy định về thủ tục đánh giá tác động môi trường trong lập dự án đầu tư;
vi)  Luật Khoa học và Công nghệ: quy định các thủ tục doanh nghiệp tư nhân cần tiến hành trong quá trình chuyển giao công nghệ;
vii)  Luật Xây dựng: quy định về thủ tục xây dựng đối với các dự án đầu tư của doanh nghiệp tư nhân có xây dựng công trình.
- Thứ tư, Thủ tục đầu tư không được quy định thống nhất giữa các quốc gia Các quốc gia không có sự thống nhất trong quy định về thủ tục đầu tư đối với
doanh nghiệp tư nhân. Trong cơ chế thị trường, một yêu cầu có tính nguyên tắc căn bản là Nhà nước phải đảm bảo quyền tự do kinh doanh và sự bình đẳng trong hoạt động đầu tư kinh doanh giữa tất cả các thành phần kinh tế. Mặc dù vậy, với những đặc trưng riêng của từng quốc gia cũng như trọng tâm chiến lược phát triển kinh tế ở từng nước mà pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân và pháp luật về TTĐT đối với các loại hình doanh nghiệp khác cũng có những điểm tương đồng và khác biệt. Chính điều này góp phần làm tạo ra sự khác biệt về mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh giữa các nước. Hiện nay, trong quy định về TTĐT các nước đều có xu hướng ngày càng đơn giản hóa TTĐT. Tùy theo từng tiêu chí lãnh thổ, loại hình dự án và quy mô vốn khác nhau, mà những quy định và yêu cầu về TTĐT lại khác nhau. Cụ thể, xét theo tiêu chí lãnh thổ, ở từng quốc gia lại có những quy định riêng về TTĐT. Ví dụ, Trung Quốc, Thái Lan và Philippines quy định nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục đăng ký xin Giấy phép đầu tư hoặc các hình thức chấp thuận đầu tư khác; trong khi đó, các quốc gia như Canada, Singapore không áp dụng TTĐT riêng đối với nhà đầu tư nước ngoài. Nếu nhà đầu tư đáp ứng được các điều kiện nhất định thì có thể tiến hành đăng ký thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần để thực hiện kế hoạch kinh doanh của mình.
- Thứ năm, Thủ tục đầu tư phản ánh mục tiêu, chiến lược kinh tế của một quốc gia.
Các quốc gia muốn tăng cường thu hút đầu tư thường nới lỏng các quy định và đơn giản hóa TTĐT; ngược lại các quy định sẽ bị thắt chặt nếu quốc gia muốn hạn chế đầu tư.
- Thứ sáu, tính cải cách của thủ tục đầu tư
Thủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân cũng được nhìn nhận như một yếu tố cấu thành của môi trường kinh doanh và đầu tư của quốc gia và của doanh nghiệp. Vì vậy, để thu hút đầu tư của khu vực tư nhân, Nhà nước phải thường xuyên cải cách TTĐT theo hướng không làm cản trở và tạo thuận lợi cho nhà đầu tư. Chẳng hạn ở Thái Lan, sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1997, với chiến lược vực dậy nền kinh tế và khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài, quốc gia này đã có những điều chỉnh cơ bản trong chính sách đầu tư để cải thiện môi trường đầu tư. Bên cạnh việc đơn giản hóa thủ tục, Chính phủ Thái Lan còn thực thi một chính sách đầu tư tự do, không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Do đó, các TTĐT đối với nhà đầu tư nước ngoài cũng được giản tiện hơn.

Theo: Trương Công Đắc 
Link luận án: Tại đây

 

avatar
Đặng Quỳnh
962 ngày trước
ĐẶC ĐIỂM CỦA THỦ TỤC PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
2.1. Đặc điểm của thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhânLà một loại TTHC nên thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân có những điểm chung của TTHC và TTĐT như sau:-   Thủ tục đầu tư do nhiều công chức, viên chức, cơ quan hành chính nhà nước thực hiện. Họ là những chủ thể có thẩm quyền thực hiện TTĐT.-  Thủ tục đầu tư được điều chỉnh bằng các quy phạm TTHC trong các văn bản pháp luật.-  Thủ tục đầu tư bao gồm nhiều thủ tục đáp ứng sự đa dạng, phong phú của hoạt động đầu tư.-  Thủ tục đầu tư gắn với các loại công văn, giấy tờ [85, tr.119-121].Ngoài ra, do là một bộ phận của pháp luật, nên thủ tục pháp luật đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân cũng có các thuộc tính khác như: tính khách quan (tồn tại khách quan cùng với pháp luật bên cạnh nhà nước và trong thể chế kinh tế thị trường); tính phổ biến (những điểm chung trong TTĐT của các quốc gia và đòi hỏi đáp ứng các yêu cầu của hội nhập và tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn).Ngoài những đặc điểm chung nói trên, TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân phản ánh những đặc điểm nổi trội gắn với tính chất của hoạt động đầu tư và loại hình doanh nghiệp tư nhân như sau.- Thứ nhất, tính chất luật công của TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhânThủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân phản ánh rõ nét tính chất luật công.Pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân điều chỉnh quan hệ pháp luật đầu tư theo chiều dọc, đó là quan hệ giữa chủ đầu tư với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ này phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư, chẳng hạn quyết định chủ trương đầu tư, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư v.v… Cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ này là các văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Theo đó, TTĐT sử dụng phương pháp điều chỉnh của luật công - phương pháp hành chính chứ không thể điều chỉnh bằng phương pháp dân sự. Không thể có sự thỏa thuận giữa chủ đầu tư với cơ quan nhà nước về việc cấp giấy chứng nhận đầu tư, điều kiện đầu tư hay việc xử lý vi phạm pháp luật trong đầu tư… Trên phương diện này, pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân cũng giống với pháp luật dành cho các thành phần kinh tế khác như doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quan hệ pháp luật giữa các chủ thể không có sự bình đẳng, không được tự do thỏa thuận những nội dung đã được quy định trong các văn bản pháp luật.- Thứ hai, Thủ tục đầu tư vẫn mang tính chất cho phép và tính bắt buộcXét về tính chất và mối quan hệ công tác có thể nhận diện được TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân là dạng TTHC liên hệ, cụ thể là thủ tục cho phép [85, tr.119-123]. Ở đó, chủ đầu tư có quyền bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh trong những ngành, nghề pháp luật không cấm thông qua các hình thức đầu tư pháp luật quy định. Việc hợp pháp hóa và công khai thực hiện quyền này được tiến hành theo những trình tự, thủ tục nhất định, ràng buộc không chỉ đối với nhà đầu tư mà đối với cả cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thủ tục giải quyết các yêu cầu, kiến nghị của nhà đầu tư làm phát sinh mối quan hệ pháp lý, các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa nhà đầu tư và cơ quan nhà nước có liên quan.Về nguyên tắc, dự án đầu tư của doanh nghiệp tư nhân thuộc trường hợp không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (khoản 2 điều 36 Luật Đầu tư). Tuy nhiên, do TTĐT do pháp luật quy định nên các chủ đầu tư cũng như các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư có trách nhiệm thi hành và tuân thủ những quy định này. Để đảm bảo tính hợp pháp của hoạt động đầu tư, doanh nghiệp tư nhân không chỉ quan tâm đến nội dung đầu tư, mà cần tuân thủ cả quy trình và TTĐT. Thủ tục đầu tư có thể được phân thành TTHC bắt buộc và các TTHC không bắt buộc. Các TTHC không bắt buộc là các thủ tục do cơ quan nhà nước tiến hành dựa trên quyền yêu cầu của nhà đầu tư, ví dụ như các thủ tục cung cấp thông tin, giải thích pháp luật chính sách về đầu tư. Thủ tục hành chính bắt buộc là thủ tục mà các tổ chức, cá nhân bắt buộc phải thực hiện khi tiến hành hoạt động đầu tư ở trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam. Do là một dạng TTHC nên TTĐT luôn chịu tác động của các hoạt động quản lý nhà nước thông qua luật hành chính, luật đầu tư và các luật có liên quan.- Thứ ba, tính liên ngành của thủ tục đầu tưPháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân không chỉ dựa trên cơ sở pháp luật về đầu tư mà còn căn cứ vào pháp luật liên ngành bởi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn liên quan tới nhiều khía cạnh của đời sống kinh tế - xã hội. Pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong thực hiện các thủ tục trong hoạt động đầu tư của doanh nghiệp tư nhân. Trong đó, tùy theo từng hệ thống pháp luật mà các quốc gia sử dụng văn bản pháp luật, hoặc tập quán, án lệ, học thuyết pháp lý, hoặc kết hợp các hình thức này để điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể có liên quan tới TTĐT của doanh nghiệp tư nhân [16]. Thông thường, TTĐT thường được quy định trong các văn bản pháp luật. Đó là Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành; các đạo luật khác có liên quan tới TTĐT (như luật đất đai, luật doanh nghiệp, luật tài nguyên, luật xây dựng…); tập quán quốc tế về đầu tư; các điều ước, cam kết quốc tế song phương hoặc đa phương về đầu tư mà quốc gia đó là thành viên.i)  Pháp luật đầu tư: pháp luật đầu tư theo nghĩa rộng quy định các thủ tục cần thực hiện trong quan hệ đầu tư như thủ tục quyết định chủ trương đầu tư; thủ tục cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; TTĐT trong những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; thủ tục thực hiện các hình thức đầu tư; thủ tục triển khai thực hiện dự án đầu tư; thủ tục chuyển nhượng dự án đầu tư; thủ tục tạm ngừng, ngừng, giãn tiến độ dự án, chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư… Ngoài ra, hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước đối với dự án đầu tư của doanh nghiệp tư nhân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp trong thực hiện TTĐT cũng cần được thực hiện theo những thủ tục do pháp luật quy định.ii)  Luật Doanh nghiệp: quy định những vấn đề liên quan trực tiếp tới TTĐT như thủ tục về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của doanh nghiệp tư nhân, thủ tục đăng ký vốn đầu tư, thủ tục cho thuê, mua bán, giải thể doanh nghiệp, thanh lý tài sản doanh nghiệp, thủ tục hình thành tài sản để tiến hành các hoạt động đầu tư và đăng ký quyền sở hữu tài sản, thủ tục hưởng quyền được bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách, thủ tục cho thuê, điều chỉnh vốn, chuyển nhượng vốn hoặc chuyển nhượng dự án đầu tư.iii)  Luật Đất đai: quy định về thủ tục giao đất hoặc thuê đất và chuẩn bị mặt bằng xây dựng…;iv)   Luật Hải quan và Luật Thuế: quy định các thủ tục về kê khai, quản lý hàng hóa của doanh nghiệp, đăng ký hải quan, và các thủ tục về thu, nộp thuế đối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu để đầu tư, cũng như nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp tư nhân đối với Nhà nước trong quá trình đầu tư.v)  Luật Bảo vệ môi trường: quy định về thủ tục đánh giá tác động môi trường trong lập dự án đầu tư;vi)  Luật Khoa học và Công nghệ: quy định các thủ tục doanh nghiệp tư nhân cần tiến hành trong quá trình chuyển giao công nghệ;vii)  Luật Xây dựng: quy định về thủ tục xây dựng đối với các dự án đầu tư của doanh nghiệp tư nhân có xây dựng công trình.- Thứ tư, Thủ tục đầu tư không được quy định thống nhất giữa các quốc gia Các quốc gia không có sự thống nhất trong quy định về thủ tục đầu tư đối vớidoanh nghiệp tư nhân. Trong cơ chế thị trường, một yêu cầu có tính nguyên tắc căn bản là Nhà nước phải đảm bảo quyền tự do kinh doanh và sự bình đẳng trong hoạt động đầu tư kinh doanh giữa tất cả các thành phần kinh tế. Mặc dù vậy, với những đặc trưng riêng của từng quốc gia cũng như trọng tâm chiến lược phát triển kinh tế ở từng nước mà pháp luật về TTĐT đối với doanh nghiệp tư nhân và pháp luật về TTĐT đối với các loại hình doanh nghiệp khác cũng có những điểm tương đồng và khác biệt. Chính điều này góp phần làm tạo ra sự khác biệt về mức độ thuận lợi của môi trường kinh doanh giữa các nước. Hiện nay, trong quy định về TTĐT các nước đều có xu hướng ngày càng đơn giản hóa TTĐT. Tùy theo từng tiêu chí lãnh thổ, loại hình dự án và quy mô vốn khác nhau, mà những quy định và yêu cầu về TTĐT lại khác nhau. Cụ thể, xét theo tiêu chí lãnh thổ, ở từng quốc gia lại có những quy định riêng về TTĐT. Ví dụ, Trung Quốc, Thái Lan và Philippines quy định nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục đăng ký xin Giấy phép đầu tư hoặc các hình thức chấp thuận đầu tư khác; trong khi đó, các quốc gia như Canada, Singapore không áp dụng TTĐT riêng đối với nhà đầu tư nước ngoài. Nếu nhà đầu tư đáp ứng được các điều kiện nhất định thì có thể tiến hành đăng ký thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần để thực hiện kế hoạch kinh doanh của mình.- Thứ năm, Thủ tục đầu tư phản ánh mục tiêu, chiến lược kinh tế của một quốc gia.Các quốc gia muốn tăng cường thu hút đầu tư thường nới lỏng các quy định và đơn giản hóa TTĐT; ngược lại các quy định sẽ bị thắt chặt nếu quốc gia muốn hạn chế đầu tư.- Thứ sáu, tính cải cách của thủ tục đầu tưThủ tục đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân cũng được nhìn nhận như một yếu tố cấu thành của môi trường kinh doanh và đầu tư của quốc gia và của doanh nghiệp. Vì vậy, để thu hút đầu tư của khu vực tư nhân, Nhà nước phải thường xuyên cải cách TTĐT theo hướng không làm cản trở và tạo thuận lợi cho nhà đầu tư. Chẳng hạn ở Thái Lan, sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm 1997, với chiến lược vực dậy nền kinh tế và khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài, quốc gia này đã có những điều chỉnh cơ bản trong chính sách đầu tư để cải thiện môi trường đầu tư. Bên cạnh việc đơn giản hóa thủ tục, Chính phủ Thái Lan còn thực thi một chính sách đầu tư tự do, không phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Do đó, các TTĐT đối với nhà đầu tư nước ngoài cũng được giản tiện hơn.Theo: Trương Công Đắc Link luận án: Tại đây