NỘI DUNG THỦ TỤC PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN
2.1. Nội dung thủ tục pháp luật đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân
Thủ tục hành chính trải qua các giai đoạn: khởi xướng vụ việc; xem xét và ra quyết định giải quyết vụ việc; thi hành quyết định; khiếu nại, giải quyết khiếu nại, xem xét quyết định đã thi hành . Nội dung thủ tục pháp luật đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân được khái quát dưới đây theo các giai đoạn của TTHC.
Thủ tục theo các bước hoặc giai đoạn đầu tư:
Trong khoa học, cũng như trong điều chỉnh pháp luật và thực tiễn đầu tư người ta thường phân biệt ba giai đoạn đầu tư là chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng, trừ trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ (Xem Điều 50 khoản 1 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13). Ở mỗi giai đoạn đó, doanh nghiệp tư nhân cần thực hiện các thủ tục nhất định Thủ tục pháp luật về đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân thường bao gồm các nhóm thủ tục sau đây:
Nhóm thủ tục trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề và ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của hai giai đoạn sau; do đó, ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, kết quả tính toán và dự báo là rất quan trọng. Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư lại có sự phân biệt giữa chuẩn bị đầu tư và chuẩn bị dự án. Có thể có người hiểu chuẩn bị đầu tư đồng nghĩa với chuẩn bị dự án. Tuy nhiên, cần thấy rằng chuẩn bị đầu tư gồm nhiều hoạt động, trong đó có chuẩn bị dự án.
Đề xuất dự án đầu tư bao gồm các thủ tục: nhà đầu tư thực hiện dự án, mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, vốn đầu tư và phương án huy động vốn, địa điểm, thời hạn, tiến độ đầu tư, nhu cầu về lao động, đề xuất hưởng ưu đãi đầu tư, đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án.
Chuẩn bị đầu tư bao gồm tổng thể các hoạt động chủ yếu như: xác định nhu cầu, sự cần thiết phải đầu tư, mức độ khả thi và hiệu quả của việc đầu tư; xác định mục tiêu đầu tư và tính toán các giải pháp để thực hiện các mục tiêu; xác định quy mô đầu tư, vốn đầu tư và phương án huy động vốn; tính toán thị trường đầu vào, đầu ra và khả năng cạnh tranh của sản phẩm; lựa chọn hình thức đầu tư; tìm, khảo sát và lựa chọn địa điểm xây dựng; xác định thời hạn và tiến độ đầu tư; lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư; xác định nhu cầu về lao động; đề xuất hưởng ưu đãi đầu tư trước và trong quá trình đầu tư; đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án v.v...Như vậy chuẩn bị dự án đầu tư chỉ là một trong những hoạt động của chuẩn bị đầu tư.
Nhóm thủ tục trong giai đoạn thực hiện dự án (dự án đầu tư xây dựng): nhóm này thường gồm các thủ tục trong thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có); chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có); khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng; cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng); tổ chức lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng công trình; giám sát thi công xây dựng; tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành; nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành; bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; vận hành, chạy thử và thực hiện các công việc cần thiết khác [So sánh Điều 6 khoản 1b Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng].
Nhóm thủ tục trong giai đoạn kết thúc dự án đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng gồm các công việc: Ở đây có các thủ tục trong quyết toán hợp đồng xây dựng, bảo hành công trình xây dựng [So sánh Điều 6 khoản 1c Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng].
Tùy thuộc điều kiện cụ thể và yêu cầu kỹ thuật của dự án, người quyết định đầu tư quyết định trình tự thực hiện tuần tự hoặc kết hợp đồng thời đối với các hạng mục công việc nói trên.
Thủ tục theo quy trình đầu tư:
Quy trình đầu tư thường gồm hai khâu quan trọng nhất là đăng ký đầu tư, thẩm tra đầu tư và triển khai hoạt động đầu tư. Cần chú ý là theo quy định riêng của từng nước mà quy trình và nội dung của TTĐT có thể có những điều chỉnh khác nhau, vì thế phần dưới đây chỉ là những khái quát một cách chung nhất.
i) Thủ tục đăng ký đầu tư: Nếu nằm trong diện phải đăng ký đầu tư thì nhà đầu tư phải tiến hành các thủ tục đăng ký đầu tư theo quy định tại cơ quan quản lý Nhà nước trước khi thực hiện dự án đầu tư. Nội dung đăng ký bao gồm: tư cách pháp lý của nhà đầu tư, mục tiêu, quy mô và địa điểm thực hiện dự án đầu tư, vốn đầu tư, tiến độ thực hiện dự án, nhu cầu sử dụng đất và các cam kết về bảo vệ môi trường, kiến nghị ưu đãi đầu tư.
ii) Thủ tục thẩm tra đầu tư: Đối với các dự án phải tiến hành thủ tục thẩm tra đầu tư thì chủ đầu tư phải lập hồ sơ thẩm tra dự án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền thẩm tra. Nội dung thẩm tra thường là xem xét sự phù hợp của dự án đối với quy hoạch kết cấu hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và sử dụng các loại tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản; đồng thời thẩm tra nhu cầu sử dụng đất, tiến độ dự án và các giải pháp bảo vệ môi trường...
iii) Thủ tục triển khai dự án đầu tư bao gồm một số các thủ tục như xin giao đất hoặc thuê đất thực hiện dự án, xin giấy phép xây dựng, xin giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên, khoáng sản, thủ tục xin giấy phép kinh doanh, thủ tục thuế, mã số hải quan...
Thẩm quyền giải quyết các thủ tục đầu tư:
Thẩm quyền giải quyết các TTĐT (phê duyệt và thẩm tra TTĐT) được trao cho Chính phủ, các cơ quan quản lý chuyên ngành của trung ương và địa phương về đầu tư, các bộ liên quan, hay chính quyền địa phương. Tùy theo từng lĩnh vực đầu tư và quy mô vốn đầu tư của dự án, mà thẩm quyền giải quyết TTĐT được quy định ở từng cấp khác nhau.
Ở Việt Nam, thẩm quyền giải quyết TTĐT được chia thành ba cấp: Chính phủ; Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các bộ liên quan như Bộ Công Thương, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước; và ở cấp địa phương là Sở Kế hoạch và Đầu tư ở các tỉnh, Ban Quản lý các Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và khu kinh tế (KCN, KCX, KCNC, KKT) trực thuộc địa phương. Trong đó, Chính phủ có thẩm quyền cao nhất, giải quyết các TTĐT (cấp giấy chứng nhận đầu tư) đối với các dự án trọng điểm trong những lĩnh vực thế mạnh và chủ chốt của quốc gia như hàng không, cảng biển, dầu khí, khoáng sản, phát thanh truyền hinh, casino, thuốc lá, đào tạo đại học…; những dự án có số vốn trên 1.500 tỷ đồng trong ngành điện, chế biến khoáng sản, luyện kim, đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa và rượu bia; và một số dự án có vốn đầu tư nước ngoài trong ngành vận tải biển, báo chí, xuất bản, bưu chính viễn thông, internet, nghiên cứu khoa học độc lập. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án BOT, BTO, BT. Bộ Công Thương cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án thuộc lĩnh vực dầu khí; Ngân hàng Nhà nước cấp cho các tổ chức tín dụng và Bộ Tài chính cấp cho các dự án thuộc lĩnh vực bảo hiểm. Ở cấp địa phương, Sở Kế hoạch và Đầu tư và Ban Quản lý các KCN, KCX, KCNC, KKT có thẩm quyền đối với các dự án trong và ngoài KCN, KCX, KCNC, KKT không thuộc thẩm quyền của các cơ quan nói trên.
Theo: Trương Công Đắc
Link luận án: Tại đây