0888889366
timeline_post_file6315720f88fc3-ww.jpg.webp

TÓM TẮT BẢN ÁN SỐ: 220/2022/DS-PT NGÀY: 28/6/2022 V/V TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THUÊ MẶT BẰNG XÉT XỬ PHÚC THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trong ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 103/2022/TLPT-DS ngày 23/3/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 80/2021/DS-ST ngày 16/12/2021 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm bị kháng cáo.

* Nội dung vụ án:

Công ty TG (sau đây gọi tắt là Công ty) và gia đình bị đơn có ký kết hợp đồng thuê quyền sử dụng đất số 2209-2020/ĐMX/TANXUAN ngày 22/9/2020 về việc thuê một phần quyền sử dụng nhà đất và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ số 133 Tân Xuân, Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ngày 23/9/2020, hai bên tiếp tục ký văn bản thỏa thuận số 2309/2020/VBTT/ĐMX- TANXUAN. Trong đó, bị đơn cam kết sau khi nguyên đơn khai trương, đang kinh doanh mà bị chính quyền thông báo cửa hàng phải dừng kinh doanh ngay lập tức và cưỡng chế tháo dỡ di dời toàn bộ công trình mà bị đơn không xử lý được gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty thì bị đơn có trách nhiệm bồi thường cho Công ty. Về thực trạng mặt bằng thuê, Công ty biết đây là đất nông nghiệp nhưng không biết các công trình trên đất vi phạm về xây dựng và buộc phải tháo dỡ. Theo đó, bị đơn cam kết sau khi Công ty khai trương, đang kinh doanh mà bị chính quyền thông báo cửa hàng phải dừng kinh doanh ngay lập tức và cưỡng chế tháo dỡ di dời toàn bộ công trình mà bị đơn không xử lý được gây ảnh hưởng hoạt động kinh doanh của Công ty thì bị đơn có trách nhiệm bồi thường. Sau khi nhận mặt bằng, Công ty đã tiến hành tu sửa lại mặt tiền. Tuy nhiên, đến ngày 02/11/2020 Công ty nhận được công văn số 388/UBND-ĐC của UBND phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội thông báo công trình xây dựng trên đất tại mặt bằng thuê là công trình vi phạm đất đai, buộc phải tháo dỡ. Sau khi xảy ra sự việc, Công ty đã nhiều lần gửi công văn đến gia đình bị đơn yêu cầu giải quyết sự việc để đảm bảo kinh doanh nhưng không có kết quả, ngược lại phía bị đơn còn liên tiếp gây khó khăn cho Công ty, cụ thể liên tiếp đến mặt bằng gây rối, lấy bạt che phủ toàn bộ bảng hiệu, ngăn cản hoạt động kinh doanh của Công ty như cắt điện tại cửa hàng…, sự viêc này Công ty đã yêu cầu thừa phát lại Hai Bà Trưng ghi nhận theo vi bằng số 2384/2020 ngày 16/12/2020. 

Công ty chưa thanh toán tiền thuê mặt bằng cho bị đơn do bị đơn vi phạm các điều 3 khoản trong hợp đồng hai bên đã ký kết. 

Về tiền điện, Công ty bị gia đình bị đơn cắt điện chứ không phải bị cắt điện do không thanh toán tiền điện cho điện lực Bắc Từ Liêm. 

Tháng 12/2020 phía bị đơn có gửi cho Công ty văn bản về việc chấm dứt hợp đồng, theo như hợp đồng đây được coi là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng nên phía bị đơn phải chịu phạt 10% theo đúng điều khoản của Hợp đồng đã ký. 

Công ty TG khởi kiện đề nghị: Buộc bị đơn thanh toán toàn bộ chi phí xây dựng mặt bằng là: 1.439.172.496 đồng; Tiền bồi thường tạm tính theo doanh thu từ tháng 12/2020 đến khi kết thúc hợp đồng là 12/2030: 307.304.510 đồng x 120 tháng = 36.876.541.272 đồng. Tổng cộng số tiền là: 38.315.713.768 đồng. 

Ngày 24/9/2021 nguyên đơn có đơn sửa đổi, bổ sung và rút một phần yêu cầu khởi kiện. Theo đó, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện và sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện cụ thể: Buộc bị đơn bồi thường chi phí đầu tư, xây dựng tại mặt bằng thuê là 1.002.075.339 đồng (đã bao gồm 10% giá trị gia tăng); Bồi thường số tiền tính theo doanh thu tháng 11/2020: 307.304.510 đồng x 120 tháng = 36.876.541.272 đồng. Tổng cộng số tiền là: 37.878.616.611 đồng. 

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn bồi thường cho nguyên đơn chi phí đầu tư, xây dựng tại mặt bằng thuê là 1.002.075.339 đồng (đã bao gồm 10% giá trị gia tăng); Bồi thường số tiền tính theo doanh thu trung bình của 3 tháng (Tháng 11/2021, 12/2021 và tháng 01/2021): 100.776.455 đồng x 117 tháng = 11.790.845.254 đồng. Tổng cộng số tiền là: 12.792.920.593 đồng.

* Nhận định của tòa án:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: 

Ngày 22/9/2020 hộ gia đình bà Trần T D, ông Dương D L; bà Dương T L, bà Dương T S, bà Dương T Lt, ông Dương V L, ông Dương H N, ông Dương X H và Công ty TG cùng ký kết hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số 133, đường Tân Xuân, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội với mục đích thuê một phần quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại tầng 1: Dùng làm văn phòng và hoạt động kinh doanh; thời hạn thuê là 10 năm 15 ngày; Kể từ ngày 16/11/2020 đến hết ngày 30/11/2030; Ngày bàn giao 01/10/2020; Giá thuê: 03 năm 15 ngày đầu (tính từ ngày 16/11/2020- hết ngày 30/11/2023) là 75.000.000 đồng/tháng, Giá thuê 3 năm tiếp theo (tính từ ngày 01/12/2023- hết ngày 30/11/2026) là 82.500.000 đồng/tháng, Giá thuê 04 năm cuối (tính từ ngày 01/12/2026- hết ngày 30/11/2030) là 90.700.000 đồng/tháng. Ngày 23/9/2021 Công ty TG và Gia đình ông Dương X H ký tiếp Văn bản thoả thuận số: 2309-2020. Nội dung văn bản là các bên thoả thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp nguyên đơn đang sửa chữa, cải tạo mặt bằng, khai trương hoặc đang kinh doanh mà bị đình chỉ xây dựng thì hộ gia đình bên cho thuê (Hộ gia đình ông Dương X H) phải bồi thường cho nguyên đơn tiền. 

Nguyên đơn yêu cầu Toà án xem xét giải quyết buộc bị đơn bồi thường cho nguyên đơn chi phí đầu tư, xây dựng tại mặt bằng thuê là 1.002.075.339 đồng (đã bao gồm 10% giá trị gia tăng); Bồi thường số tiền tính theo doanh thu trung bình của 3 tháng (Tháng 11/2021, 12/2021 và tháng 01/2021): 100.776.455 đồng x 117 tháng = 11.790.845.254 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị nguyên đơn thanh toán tiền điện và tiền thuê mặt bằng. 

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án, cụ thể: 

- Công ty TG và hộ gia đình bà Trần T D chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng 6 đất số 2209-2020/ĐMX/TANXUAN ngày 22/9/2020 và văn bản thỏa thuận số 2309/2020/VBTT/ĐMX- TANXUAN ngày 23/9/2020. Hộ gia đình bà Trần T D do anh Dương X H là đại diện theo ủy quyền thanh toán cho Công ty TG số tiền 150.000.000 đồng chi phí đầu tư, xây dựng mặt bằng thuê. Số tiền trên anh Dương X H là đại diện theo ủy quyền của hộ gia đình bà Trần T D đã thanh toán đầy đủ cho Công ty Cổ phần thế giới đi động tại phiên tòa. 

- Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn mỗi bên phải chịu ½ án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 150.000.000 đồng mà bị đơn thanh toán cho nguyên đơn. 

Xét thấy, tại phiên tòa, các đương sự thỏa thuận được với nhau toàn bộ nội dung vụ án. Việc thỏa thuận của các bên đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận và sửa bản án sơ thẩm số 80/2021/DS-ST ngày 16/12/2021 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự. 

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận. 

Về án phí: Các đương sự cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 150.000.000 đồng đã thỏa thuận được tại phiên tòa phúc thẩm theo quy định tại khoản 5, điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Công ty TG phải chịu 3.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và hộ gia đình bà Trần T D cùng phải chịu 3.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. 

Do sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo là Công ty Cổ phần thế giới đi động không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. 

* Pháp lý liên quan:

- Điều 148, Điều 300, Khoản 2 Điều 308, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Trên đây là bài viết của Công ty luật Legalzone về bản án số: 220/2022/DS-PT Ngày: 28/6/2022 V/v tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng 

Hotline tư vấn: 088.888.9366 

Email: Support@legalzone.vn 

Website: https://legalzone.vn/  

Hệ thống: Thủ tục pháp luật 

Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội.

 

 

PHAN THỊ GIANG UYÊN
541 ngày trước
TÓM TẮT BẢN ÁN SỐ: 220/2022/DS-PT NGÀY: 28/6/2022 V/V TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THUÊ MẶT BẰNG XÉT XỬ PHÚC THẨM CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 103/2022/TLPT-DS ngày 23/3/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 80/2021/DS-ST ngày 16/12/2021 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm bị kháng cáo.* Nội dung vụ án:Công ty TG (sau đây gọi tắt là Công ty) và gia đình bị đơn có ký kết hợp đồng thuê quyền sử dụng đất số 2209-2020/ĐMX/TANXUAN ngày 22/9/2020 về việc thuê một phần quyền sử dụng nhà đất và tài sản khác gắn liền với đất tại địa chỉ số 133 Tân Xuân, Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ngày 23/9/2020, hai bên tiếp tục ký văn bản thỏa thuận số 2309/2020/VBTT/ĐMX- TANXUAN. Trong đó, bị đơn cam kết sau khi nguyên đơn khai trương, đang kinh doanh mà bị chính quyền thông báo cửa hàng phải dừng kinh doanh ngay lập tức và cưỡng chế tháo dỡ di dời toàn bộ công trình mà bị đơn không xử lý được gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty thì bị đơn có trách nhiệm bồi thường cho Công ty. Về thực trạng mặt bằng thuê, Công ty biết đây là đất nông nghiệp nhưng không biết các công trình trên đất vi phạm về xây dựng và buộc phải tháo dỡ. Theo đó, bị đơn cam kết sau khi Công ty khai trương, đang kinh doanh mà bị chính quyền thông báo cửa hàng phải dừng kinh doanh ngay lập tức và cưỡng chế tháo dỡ di dời toàn bộ công trình mà bị đơn không xử lý được gây ảnh hưởng hoạt động kinh doanh của Công ty thì bị đơn có trách nhiệm bồi thường. Sau khi nhận mặt bằng, Công ty đã tiến hành tu sửa lại mặt tiền. Tuy nhiên, đến ngày 02/11/2020 Công ty nhận được công văn số 388/UBND-ĐC của UBND phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội thông báo công trình xây dựng trên đất tại mặt bằng thuê là công trình vi phạm đất đai, buộc phải tháo dỡ. Sau khi xảy ra sự việc, Công ty đã nhiều lần gửi công văn đến gia đình bị đơn yêu cầu giải quyết sự việc để đảm bảo kinh doanh nhưng không có kết quả, ngược lại phía bị đơn còn liên tiếp gây khó khăn cho Công ty, cụ thể liên tiếp đến mặt bằng gây rối, lấy bạt che phủ toàn bộ bảng hiệu, ngăn cản hoạt động kinh doanh của Công ty như cắt điện tại cửa hàng…, sự viêc này Công ty đã yêu cầu thừa phát lại Hai Bà Trưng ghi nhận theo vi bằng số 2384/2020 ngày 16/12/2020. Công ty chưa thanh toán tiền thuê mặt bằng cho bị đơn do bị đơn vi phạm các điều 3 khoản trong hợp đồng hai bên đã ký kết. Về tiền điện, Công ty bị gia đình bị đơn cắt điện chứ không phải bị cắt điện do không thanh toán tiền điện cho điện lực Bắc Từ Liêm. Tháng 12/2020 phía bị đơn có gửi cho Công ty văn bản về việc chấm dứt hợp đồng, theo như hợp đồng đây được coi là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng nên phía bị đơn phải chịu phạt 10% theo đúng điều khoản của Hợp đồng đã ký. Công ty TG khởi kiện đề nghị: Buộc bị đơn thanh toán toàn bộ chi phí xây dựng mặt bằng là: 1.439.172.496 đồng; Tiền bồi thường tạm tính theo doanh thu từ tháng 12/2020 đến khi kết thúc hợp đồng là 12/2030: 307.304.510 đồng x 120 tháng = 36.876.541.272 đồng. Tổng cộng số tiền là: 38.315.713.768 đồng. Ngày 24/9/2021 nguyên đơn có đơn sửa đổi, bổ sung và rút một phần yêu cầu khởi kiện. Theo đó, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện và sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện cụ thể: Buộc bị đơn bồi thường chi phí đầu tư, xây dựng tại mặt bằng thuê là 1.002.075.339 đồng (đã bao gồm 10% giá trị gia tăng); Bồi thường số tiền tính theo doanh thu tháng 11/2020: 307.304.510 đồng x 120 tháng = 36.876.541.272 đồng. Tổng cộng số tiền là: 37.878.616.611 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn bồi thường cho nguyên đơn chi phí đầu tư, xây dựng tại mặt bằng thuê là 1.002.075.339 đồng (đã bao gồm 10% giá trị gia tăng); Bồi thường số tiền tính theo doanh thu trung bình của 3 tháng (Tháng 11/2021, 12/2021 và tháng 01/2021): 100.776.455 đồng x 117 tháng = 11.790.845.254 đồng. Tổng cộng số tiền là: 12.792.920.593 đồng.* Nhận định của tòa án:Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Ngày 22/9/2020 hộ gia đình bà Trần T D, ông Dương D L; bà Dương T L, bà Dương T S, bà Dương T Lt, ông Dương V L, ông Dương H N, ông Dương X H và Công ty TG cùng ký kết hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ số 133, đường Tân Xuân, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội với mục đích thuê một phần quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại tầng 1: Dùng làm văn phòng và hoạt động kinh doanh; thời hạn thuê là 10 năm 15 ngày; Kể từ ngày 16/11/2020 đến hết ngày 30/11/2030; Ngày bàn giao 01/10/2020; Giá thuê: 03 năm 15 ngày đầu (tính từ ngày 16/11/2020- hết ngày 30/11/2023) là 75.000.000 đồng/tháng, Giá thuê 3 năm tiếp theo (tính từ ngày 01/12/2023- hết ngày 30/11/2026) là 82.500.000 đồng/tháng, Giá thuê 04 năm cuối (tính từ ngày 01/12/2026- hết ngày 30/11/2030) là 90.700.000 đồng/tháng. Ngày 23/9/2021 Công ty TG và Gia đình ông Dương X H ký tiếp Văn bản thoả thuận số: 2309-2020. Nội dung văn bản là các bên thoả thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp nguyên đơn đang sửa chữa, cải tạo mặt bằng, khai trương hoặc đang kinh doanh mà bị đình chỉ xây dựng thì hộ gia đình bên cho thuê (Hộ gia đình ông Dương X H) phải bồi thường cho nguyên đơn tiền. Nguyên đơn yêu cầu Toà án xem xét giải quyết buộc bị đơn bồi thường cho nguyên đơn chi phí đầu tư, xây dựng tại mặt bằng thuê là 1.002.075.339 đồng (đã bao gồm 10% giá trị gia tăng); Bồi thường số tiền tính theo doanh thu trung bình của 3 tháng (Tháng 11/2021, 12/2021 và tháng 01/2021): 100.776.455 đồng x 117 tháng = 11.790.845.254 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị nguyên đơn thanh toán tiền điện và tiền thuê mặt bằng. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thỏa thuận được với nhau việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án, cụ thể: - Công ty TG và hộ gia đình bà Trần T D chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng 6 đất số 2209-2020/ĐMX/TANXUAN ngày 22/9/2020 và văn bản thỏa thuận số 2309/2020/VBTT/ĐMX- TANXUAN ngày 23/9/2020. Hộ gia đình bà Trần T D do anh Dương X H là đại diện theo ủy quyền thanh toán cho Công ty TG số tiền 150.000.000 đồng chi phí đầu tư, xây dựng mặt bằng thuê. Số tiền trên anh Dương X H là đại diện theo ủy quyền của hộ gia đình bà Trần T D đã thanh toán đầy đủ cho Công ty Cổ phần thế giới đi động tại phiên tòa. - Về án phí: Nguyên đơn, bị đơn mỗi bên phải chịu ½ án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 150.000.000 đồng mà bị đơn thanh toán cho nguyên đơn. Xét thấy, tại phiên tòa, các đương sự thỏa thuận được với nhau toàn bộ nội dung vụ án. Việc thỏa thuận của các bên đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận và sửa bản án sơ thẩm số 80/2021/DS-ST ngày 16/12/2021 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận. Về án phí: Các đương sự cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 150.000.000 đồng đã thỏa thuận được tại phiên tòa phúc thẩm theo quy định tại khoản 5, điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Công ty TG phải chịu 3.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và hộ gia đình bà Trần T D cùng phải chịu 3.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Do sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo là Công ty Cổ phần thế giới đi động không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. * Pháp lý liên quan:- Điều 148, Điều 300, Khoản 2 Điều 308, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa ánTrên đây là bài viết của Công ty luật Legalzone về bản án số: 220/2022/DS-PT Ngày: 28/6/2022 V/v tranh chấp hợp đồng thuê mặt bằng Hotline tư vấn: 088.888.9366 Email: Support@legalzone.vn Website: https://legalzone.vn/  Hệ thống: Thủ tục pháp luật Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội.