0888889366
Đỗ Thị Hà Vi
Điểm thưởng: 1743
Tìm kiếm công ty Luật/ Doanh nghiệp
Người theo dõi
2 người
Xem tất cả
Đang theo dõi
0 người
Xem tất cả
Đỗ Thị Hà Vi
170 ngày trước
timeline_post_file62a2ee4ede44e-xam-pham-trai-phep-noi-o_1406112417.jpg.webp
Bản án về tội xâm phạm chỗ ở của công dân
Tóm tắt bản án số 62/2017/HSST về tội xâm phạm chỗ ở của công dânNội dung vụ ánBà Nguyễn Thị D vay tiền của Phạm Ngọc S dưới hình thức chơi họ. Trong quá trình đóng tiền họ cho S, bà D đã không thực hiện đúng hạn.Ngày 06/3/2017, S mang hộp sơn xịt đến phun vào tường, cửa nhà bà Đ với nội dung “trả tiền đi”, “trả tiền cho tao”.S đã rủ T và Đ cùng đến ở luôn tại nhà bà D mặc dù không được sự đồng ý của bà D cũng như người thân trong gia đình bà.Trong thời gian ở nhà bà D, S bảo T, Đ mở nhạc đám ma, hát, nói gây ồn ào, náo loạn nhằm mục đích buộc bà D phải trả tiền cho S.Khoảng 15 giờ ngày 10/3/2017 bà D đã uống thuốc diệt cỏ, tử vong. Sau khi bà D tử vong, T và Đ bỏ trốn khỏi địa phương. Sau đó, S, T và Đ đã đến Công an đầu thú.Nhận định của Toà ánHội đồng xét xử nhận thấy hành vi vào nhà bà D ăn, ở, sinh hoạt, gây mất trật tự tại nhà bà D mà không được sự đồng ý của bà D hay người thân trong gia đình bà D, hậu quả làm bà D đã uống thuốc trừ sâu tự tử, dẫn đến tử vong của các bị cáo S, T và Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 124 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.Luận cứ vụ ánCăn cứ điểm c khoản 2 Điều 124 Bộ luật hình sự, hành vi của các bị cáo Phạm Ngọc S, Phạm Minh T, Vũ Việt Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Xâm phạm chỗ ở của công dân”.Trên đây là thông tin của chúng tôi về bản án 62/2017/HSST, nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết về bản án và để được hướng dẫn thực hiện vui lòng liên hệ:LEGALZONE COMPANYHotline tư vấn: 088.888.9366Email: Support@legalzone.vn
Đỗ Thị Hà Vi
172 ngày trước
timeline_post_file62a06aa7b3b81-20201223095123-0cf1.jpg.webp
Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ chung cư
Nội dung vụ ánNgày 27/5/2015, ông Nguyễn Ngọc H và Công ty V đã ký Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư tại Dự án Goldmark City. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông H đã thanh toán cho Công ty V số tiền  3.085.178.851 đồng. Ngày 22/5/2017, Công ty V đã thông báo cho ông H về việc bàn giao căn hộ. Ông H đã đến kiểm tra căn hộ và từ chối nhận bàn giao vì lý do cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện, chất lượng công trình không đúng, chưa được cung cấp bản vẽ thiết kế mặt bằng, … Ngày 07/8/2017, ông H đã khởi kiện ra Tòa án quận Bắc Từ Liêm, yêu cầu giải quyết buộc Công ty V phải thanh toán trả khoản tiền phạt và bồi thường hợp đồng là 118.618.398 đồng.Nhận định của Toà ánHội đồng xét xử xét thấy tại thời điểm kiểm tra công trình còn một số khiếm khuyết liên quan đến công tác trát tường, trần thạch cao, nứt tại vị trí giao giữa vách bêtông và tường xây chưa được khắc phục triệt để nhưng công trình đã đủ điều kiện để đưa vào sử dụng. Công ty V đã thực hiện đầy đủ và đảm bảo đúng các điều khoản tại Hợp đồng mua bán căn hộ giữa ông H và Công ty V. Việc ông H đưa ra các lý do cơ sở hạ tầng chưa hoàn thiện, chất lượng công trình không đảm bảo để đơn phương chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ là không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.Luận cứ vụ án Căn cứ Điều 13 và Điều 16 Luật Kinh doanh Bất động sản xác định Công ty V đã hoàn thành xong việc xây dựng theo tiến độ đã được phê duyệt và đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của toàn bộ cư dân trong dự án Goldmark City. Trên đây là thông tin của chúng tôi về bản án 06/2019/DSST, nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết về bản án và để được hướng dẫn thực hiện vui lòng liên hệ:LEGALZONE COMPANYHotline tư vấn: 088.888.9366Email: Support@legalzone.vn
Đỗ Thị Hà Vi
172 ngày trước
timeline_post_file629f2aa831e11-3047_hd.jpg.webp
Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
Nội dung vụ ánNgày 31/3/2020, Công ty A và Công ty B ký hợp đồng mua bán 500.000 kg ngô hạt Nam Mỹ, tổng giá trị hợp đồng là 2.775.000.000 đồng.Hợp đồng quy định rõ trong thời gian giao hàng nếu B muốn trì hoãn nhận hàng thì phải thông báo cho A trước 5 ngày và được A đồng ý.Ngày 03/4/2020, Công ty B chuyển khoản cho Công ty A 145.000.000 đồng tiền đặt cọc theo hợp đồng.Đến thời hạn giao hàng, Công ty B không nhận hàng với lý do hàng của B tồn nhiều không bán được nên Công ty A đã bán hàng cho bên thứ ba để giảm thiểu thiệt hại và khởi kiện Công ty B đòi bồi thường thiệt hại.Nhận định của Toà án Hội đồng xét xử nhận định Công ty B đã vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng khi không thực hiện nhận hàng đúng thời gian, tiến độ theo thỏa thuận. Do đó, Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty A, huỷ bỏ toàn bộ hợp đồng mua bán giữa hai bên. Đồng thời buộc Công ty B trả cho Công ty A 584.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại và tiền phạt vi phạm; buộc Công ty A trả cho Công ty B số tiền đặt cọc 145.000.000 đồng.Luận cứ vụ ánCăn cứ tại khoản 2.4 Điều 2 của Hợp đồng và quy định tại khoản 4 Điều 312 của Luật thương mại việc vi phạm nghĩa vụ nhận hàng của Công ty B đã vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng và là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng.Trên đây là thông tin của chúng tôi về bản án 01/2022/KDTM-PT, nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết về bản án và để được hướng dẫn thực hiện vui lòng liên hệ:LEGALZONE COMPANYHotline tư vấn: 088.888.9366Email: Support@legalzone.vn
Đỗ Thị Hà Vi
173 ngày trước
timeline_post_file629dd7d696bb2-bo-truyen-tranh-than-dong-dat-viet-lay-boi-canh-thoi-ky-lich-su-nao-cua-nuoc-ta.jpg.webp
Bản án về tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ
Nội dung vụ ánNăm 2001, ông Lê Phong L bắt đầu làm việc tại Công ty PT với vị trí họa sĩ vẽ minh họa. Sau khi được Giám đốc Công ty PT là bà Phan Thị Mỹ H1 đề nghị vẽ bộ truyện dân gian, ông L xây dựng khoảng 30 nhân vật và chọn ra 4 hình tượng nhân vật là O, P, Q, R để sáng tác bộ truyện tranh E.Ông L thực hiện các công việc từ hình thành ý tưởng sáng tạo đến vẽ hình tượng nhân vật. Bà H1 không tham gia vào khâu sáng tạo nào trong quá trình sáng tác mà chỉ có vai trò điều phối chung và góp ý với tư cách là nhà quản lý. Khi phát hành, trên tất cả các trang bìa tập truyện đều ghi nhận ông L là tác giả.Năm 2002, Công ty PT được Cục bản quyền cấp Giấy chứng nhận ghi nhận là chủ sở hữu bản quyền của 4 hình tượng nhân vật trên.Ông L tham gia sáng tác bộ truyện tranh E đến hết tập 78 thì nghỉ việc. Công ty PT thuê các họa sĩ khác tiếp tục sử dụng 4 hình tượng nhân vật trên để thực hiện các tập truyện tiếp theo từ tập 79 trở đi và các ấn phẩm khác mà không xin phép ông L.Quyết định của bản án sơ thẩmChấp nhận yêu cầu của ông L về việc công nhận ông L là tác giải duy nhất của hình thức thể hiện các nhân vật trong bộ truyện E từ tập 01 đến tập 78. Buộc Công ty PT chấm dứt việc tự tạo và sử dụng các biến thể của hình thức thể hiện của các nhân vật O, Q, P, R trên các tập từ tập 79 của truyện tranh E cũng như trên các ấn bản khác và xin lỗi ông L trên Báo Thanh niên và Báo Tuổi trẻ trong 03 số liên tiếp.Nhận định của Toà ánToà án nhận thấy Công ty PT là chủ sở hữu tác phẩm là hình thức thể hiện của 4 nhân vật, được quyền sử dụng hình tượng 4 nhân vật này vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình nhưng phải tôn trọng quyền nhân thân của tác giả Lê L là sự toàn vẹn của tác phẩm. Việc làm sai lệch so với hình thức thể hiện gốc khi không được sự đồng ý của tác giả, đồng thời Công ty PT không ghi chú rõ việc sử dụng hình thức thể hiện của 4 nhân vật O, P, Q, R là tác phẩm của tác giả Lê Phong L.Luận cứ vụ ánCăn cứ tại Điều 19, khoản 5 Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 xác định Công ty PT đã có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của tác giả Lê L.Trên đây là thông tin của chúng tôi về bản án số 774/2019/DSPT, để biết thêm thông tin chi tiết và được hướng dẫn thực hiện vui lòng liên hệ: Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Tòa nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà NộiEmail: Support@legalzone.comHotline: 0888889366. 
Đỗ Thị Hà Vi
177 ngày trước
timeline_post_file6299d70394225-chong-nguoi-thi-hanh-cong-vu-phat-bao-nhieu-so-2.jpg.webp
Bản án về Tội chống người thi hành công vụ
Nội dung vụ ánNgày 07/4/2020, Nguyễn Văn Q đã 03 lần đi qua qua chốt kiểm soát phòng, chống dịch bệnh Covid – 19 số 02 tại khu vực sân bóng thôn Th, xã T, huyện Y, tỉnh B mà không có có lý do chính đáng, không đeo khẩu trang mặc dù Q có mang theo khẩu trang trong người. Khi bị lực lượng chức năng đang làm nhiệm vụ tại chốt kiểm soát dịch bệnh nhắc nhở Q đã có thái độ không chấp hành, có những lời nói và hành vi xúc phạm lực lượng đang làm nhiện vụ.Khi đồng chí Đ là Phó trưởng công an xã Thụy Hòa, tổ phó tổ kiểm soát dùng điện thoại di động quay lại hành vi vi phạm của bị cáo thì bị cáo tiếp tục chửi đồng chí Đ và giật chiếc điện thoại của đồng chí Đ ném xuống đường là hư hỏng chiếc điện thoại.Nhận định của Toà ánToà án xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp tới trật tự quản lý hành chính của Nhà nước về lĩnh vực Y tế. Vi phạm Chỉ thị số 16/CT- TTG ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid - 19. Toà tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Chống người thi hành công vụ” và xử phạt bị cáo 12 tháng tù giam.Luận cứ vụ ánCăn cứ khoản 1 Điều 330 của Bộ luật hình sự 2015 xác định hành vi của bị cáo Q đã đủ điều kiện cấu thành Tôi chống người thi hành công vụ.  Trên đây là thông tin của chúng tôi về bản án số 23/2020/HS-ST, để biết thêm thông tin chi tiết và được hướng dẫn thực hiện vui lòng liên hệ:Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Tòa nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà NộiEmail: Support@legalzone.comHotline: 0888889366
Đỗ Thị Hà Vi
177 ngày trước
timeline_post_file6298ce5ca1888-10-tinh-huong-tai-nan-xe-may-pho-bien-va-cach-phong-tranh.jpg.webp
Bản án về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
Bản án số 10/2018/HS-ST về Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Nội dung vụ ánKhoảng 23 giờ ngày 12/8/2017, Phan Văn T điều khiển xe máy đi ở giữa đường, với tốc độ khoảng 50km/h.Khi đi đến đoạn đường thuộc địa phận thôn Thượng Thôn, xã Đông Tiến, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh thì Tiền thấy phía phần đường ngược chiều có ánh đèn xe đi tới.T điều khiển xe đánh lái sang bên trái, đi lấn sang phần đường ngược chiều và va chạm vào xe máy do anh Nguyễn Huy H điều khiển đi ngược chiều (anh H đi đúng phần đường).Hậu quả: anh H bị thương nặng phải đưa đi cấp cứu và đến hồi 12 giờ 15 phút ngày 13/8/2017 thì chết tại Bệnh viện Việt Đức – Hà Nội.Nhận định của Toà ánToà án xét thấy Phan Văn T điều khiển xe có giấy phép lái xe hợp lệ nhưng không chú ý quan sát, đi lấn sang làn đường ngược chiều gây tai nạn làm anh H chết. Hành vi của T đã vi phạm vào khoản 1 điều 202 của Bộ luật hình sự.Luận cứ vụ ánCăn cứ khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự xác định hành vi của T không những xâm phạm đến tính mạng và tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng. Do đó, xử phạt T 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.Trên đây là thông tin của chúng tôi về bản án số 10/2018/HS-ST, để biết thêm thông tin chi tiết và được hướng dẫn thực hiện vui lòng liên hệĐịa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Tòa nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà NộiEmail: Support@legalzone.comHotline: 0888889366
Đỗ Thị Hà Vi
178 ngày trước
timeline_post_file629774b364fe1-Mau-quyet-dinh-xu-ly-ky-luat-nguoi-lao-dong-theo-hinh-thuc-sa-thai.jpg.webp
Bản án về tranh chấp xử lý kỷ luật lao động
Nội dung vụ ánNgày 20-5-2017, công ty A ban hành quyết định xử lý kỷ luật lao động sa thải ông Lê Ngọc S với nội dung ông S đã có hành vi tắc trách trong công việc gây ra hậu quả nghiêm trọng và ảnh hưởng đến quyền lợi công ty A. Công ty A không mở phiên họp xử lý kỷ luật lao động, ông S không được mời dự bất kỳ phiên họp nào.Chủ công ty A chỉ gọi ông S lên phòng làm việc và đưa cho ông S xem một số bức ảnh về hàng bị lỗi, cũng không nói rõ lô hàng này xuất đi từ thời gian nào, lỗi tại công đoạn nào. Đến ngày 20-5-2017, ông S vẫn đi làm bình thường thì công ty A giao quyết định và nói ông S nghỉ việc luôn ngày 20-5-2017.Nhận định của Toà ánToà án xét thấy công ty A chưa chứng minh được ông S có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản của công ty A. Bên cạnh đó, ông S bị sa thải không thông qua bất kỳ trình tự, thủ tục nào. Do đó, công ty A áp dụng hình thức kỷ luật sa thải đối với ông S là trái quy định của pháp luật. Vì vậy, Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S đối với công ty A.Luận cứ vụ ánCăn cứ Điều 123, Điều 126 của Bộ luật Lao động 2012 và Điều 38 của Nội quy lao động mà công ty A đã đăng ký đủ cơ sở xác định việc công ty A sa thải ông S là trái quy định của pháp luật.Trên đây là thông tin của chúng tôi về bản án số 01/2018/LĐ-ST, để biết thêm thông tin chi tiết và được hướng dẫn thự chiện vui lòng liên hệĐịa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà NộiEmail: Support@legalzone.comHotline: 0888889366 
Đỗ Thị Hà Vi
181 ngày trước
timeline_post_file629429bb83411-Tranh-chap-thua-ke-Thoi-hieu-tham-quyen-cach-thuc-giai-quyet.jpg.webp
Bản án về tranh chấp thừa kế tài sản
Tóm tắt nội dung vụ ánCụ D và cụ C có 04 người con gồm: ông H là con nuôi được cụ D và cụ C nuôi từ nhỏ; bà X (chết năm 2016) có 08 người con; ông L (chết năm 1968) có vợ là bà T và 02 người con và ông X (chết năm 1999), có vợ là bà B (chết năm 2012) và 03 người con. Ngoài ra, bà B còn có 02 con riêng là Võ Thị L và Võ Thị L1.Quá trình chung sống, cụ D và cụ C tạo lập được một ngôi nhà tranh trên diện tích đất 1115,5m2 tọa lạc tại thôn P,  Phường V, thành phố N.Cụ Nguyễn D chết năm 1958, không để lại di chúc. Sau khi cụ D chết, cụ C vẫn sinh sống tại ngôi nhà tranh.Năm 1968 toàn bộ nhà tranh bị cháy. Cụ C cùng các con đóng góp công sức để xây dựng nhà cho cụ C ở.Năm 1979, cụ C chết, không để lại di chúc. Do phát sinh tranh chấp nên ông H đã khởi kiện đến Tòa án yêu cầu chia thừa kế.Quyết định của bản án sơ thẩmChấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H và bà X (đã chết) về “Tranh chấp chia di sản thừa kế” đối với bà B (đã chết).Nhận định của Tòa án phúc thẩm– Cụ Nguyễn D và cụ Nguyễn Thị C có 03 người con ruột là bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn L, ông Nguyễn X và 01 người con nuôi là ông Nguyễn H. Do đó, di sản của cụ D và cụ C để lại được chia đều cho ông Nguyễn H, bà Nguyễn Thị X, ông Nguyễn L và ông Nguyễn X (04 phần).– Ngoài ra, con của các ông bà đã mất được hưởng phần di sản mà bố mẹ họ được hưởng.Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của các bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1 và Nguyễn Thị H2. Sửa bản án sơ thẩm.Luận cứ vụ ánCăn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cần xác định kháng cáo của các bà Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1 và Nguyễn Thị H2  là đủ căn cứ pháp luậtTrên đây là một số thông tin Legalzone muốn chia sẻ tới bạn đọc về Bản án số 51/2018/DS-PT. Nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết và để được hướng dẫn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được kịp thời tư vấn. Xin cảm ơn!Chi tiết xin vui lòng liên hệ tư vấnLEGALZONE COMPANYHotline tư vấn:  088.888.9366
Đỗ Thị Hà Vi
183 ngày trước
timeline_post_file6290a0b1ad226-5E7e69e815a9fcf7a5b8-350x250.jpg.webp
Bản án về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt nội dung vụ ánNgày 09/6/2015, ông H có thỏa thuận với ông Q chuyển nhượng phần đất thửa số 3157, diện tích 700 m2. Ông H đã giao đủ số tiền cho ông Q và hai bên đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Phòng Công chứng Tây Bắc. Sau đó ông H làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì số liệu, diện tích không khớp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Q, nên chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B đo kiểm tra lại, sau khi đo kiểm tra thì diện tích thực tế khớp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Q, nhưng số thửa không trùng khớp. Cơ quan có thẩm quyền yêu cầu phải làm phụ lục hợp đồng công chứng số thửa thì ông Q không đồng ý nhưng cũng không trả lại tiền hay làm thủ tục sang tên cho ông H.Quyết định của bản án sơ thẩmChấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H với ông Q ký kết vào ngày 09/6/2015, ông Q phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ông H.Nhận định của Toà án- Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H với ông Trương Tấn Q.- Căn cứ vào khoản 3 Điều 308; Điều 310 BLTTDS năm 2015, Toà án chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân, hủy bản án sơ thẩm; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.Luận cứ vụ ánCăn cứ vào khoản 3 Điều 308; Điều 310 BLTTDS năm 2015 cần xác định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang là đủ căn cứ pháp luật, hủy bản án sơ thẩm; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.Trên đây là một số thông tin Legalzone muốn chia sẻ tới bạn đọc về Bản án số 277/2018/DS-PT. Nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết và để được hướng dẫn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được kịp thời tư vấn. Xin cảm ơn!Chi tiết xin vui lòng liên hệ tư vấnLEGALZONE COMPANYHotline tư vấn:  088.888.9366
Xem thêm