0888889366
Danh mục
LUẬT BÁO CHÍ
Văn An
155 ngày trước
Bài viết
Hướng dẫn Thủ tục Đổi Tên Cơ Quan Báo Chí Đơn Giản và Hiệu Quả
Cơ quan báo chí thay đổi tên thì có cần thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền không?Khi cơ quan báo chí quyết định thay đổi tên của mình, quy định của Khoản 2 Điều 20 Luật Báo chí 2016 đã quy định rằng cơ quan chủ quản phải thực hiện thủ tục sửa đổi tên gọi cơ quan, tên gọi cơ quan báo chí, và các yếu tố khác trong giấy phép hoạt động báo chí. Quy trình này đòi hỏi cơ quan chủ quản cần có hồ sơ đề nghị sửa đổi, bổ sung giấy phép và gửi đến Bộ Thông tin và Truyền thông để thực hiện các thay đổi này.Tuy nhiên, quy định này không đề cập cụ thể đến việc thông báo cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác về thay đổi tên của cơ quan báo chí. Trong nhiều trường hợp, việc thông báo thay đổi tên có thể phụ thuộc vào luật pháp và quy định cụ thể của từng lĩnh vực hoặc cơ quan nhà nước liên quan. Do đó, để đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định, cơ quan báo chí nên xem xét cụ thể và tư vấn với luật sư hoặc cơ quan có thẩm quyền để biết liệu họ cần phải thông báo thay đổi tên cho cơ quan nhà nước khác hay không.Hồ sơ thay đổi tên cơ quan báo chí như thế nào?Để thực hiện thay đổi tên của cơ quan báo chí, bạn cần tuân thủ quy trình và thủ tục quy định theo Khoản 1 Điều 8 Thông tư 36/2016/TT-BTTTT. Dưới đây là hướng dẫn chi tiết về cách làm hồ sơ thay đổi tên cơ quan báo chí:Văn bản đề nghị: Bạn cần lập một văn bản đề nghị thay đổi tên gọi của cơ quan chủ quản hoạt động phát thanh, truyền hình tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc Bộ, ngành. Nếu cơ quan của bạn là Đài Tiếng nói Việt Nam hoặc Đài Truyền hình Việt Nam, văn bản đề nghị cần được ký bởi người đứng đầu cơ quan.Giấy tờ hợp pháp: Đối với mỗi trường hợp thay đổi, bạn cần cung cấp giấy tờ hợp pháp liên quan, bao gồm:Đối với thay đổi tên gọi cơ quan chủ quản hoặc tên gọi cơ quan báo chí, cung cấp các văn bản, giấy tờ liên quan đến thay đổi này.Đối với thay đổi địa điểm phát sóng hoặc địa điểm trụ sở gắn với trung tâm tổng khống chế, cung cấp giấy tờ liên quan đến việc di chuyển hoặc thay đổi địa điểm này.Đối với thay đổi phương thức truyền dẫn, phát sóng, cung cấp thông tin chi tiết về việc thay đổi phương thức này và giấy tờ chứng minh.Nộp hồ sơ: Hồ sơ hoàn chỉnh sẽ được nộp trực tiếp hoặc gửi qua hệ thống bưu chính đến Bộ Thông tin và Truyền thông, cụ thể là Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử.Sau khi hồ sơ được nộp, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ tiến hành xem xét và xử lý theo quy trình, sau đó thông báo kết quả cho bạn. Đảm bảo rằng hồ sơ của bạn hoàn chỉnh và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu để đảm bảo quy trình thay đổi tên của cơ quan báo chí diễn ra một cách suôn sẻ.Thủ tục thay đổi tên cơ quan báo chíDưới đây là quy trình và thủ tục thay đổi tên cơ quan báo chí dựa trên quy định tại Thông tư 36/2016/TT-BTTTT:Nộp hồ sơ thay đổi tên: Trước hết, cơ quan, tổ chức muốn thay đổi tên cơ quan báo chí cần chuẩn bị hồ sơ đầy đủ và hợp lệ theo quy định. Hồ sơ bao gồm:Văn bản đề nghị thay đổi tên, được ký bởi người đứng đầu cơ quan chủ quản.Các giấy tờ hợp pháp liên quan đến việc thay đổi tên cơ quan, bao gồm giấy phép hoạt động phát thanh và truyền hình.Xem xét và cấp phép: Bộ Thông tin và Truyền thông có thời hạn tối đa là 30 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ để xem xét và cấp phép thay đổi tên cơ quan báo chí. Trong trường hợp từ chối cấp phép, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ cung cấp văn bản trả lời, đồng thời nêu rõ lý do từ chối.Yêu cầu bổ sung hồ sơ: Nếu hồ sơ thay đổi tên không đáp ứng đủ các điều kiện, Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử) sẽ thông báo cho cơ quan, tổ chức về việc cần bổ sung, giải trình hoặc hoàn thiện hồ sơ. Thời hạn cho việc bổ sung là 30 ngày kể từ ngày thông báo.Nộp hồ sơ bổ sung: Cơ quan, tổ chức phải nộp hồ sơ bổ sung, giải trình cho Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử) theo yêu cầu và trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ghi trên văn bản thông báo.Chấm dứt xử lý hồ sơ: Nếu cơ quan, tổ chức không nộp hồ sơ bổ sung trong thời hạn quy định tại Khoản 4, Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử) sẽ chấm dứt việc xử lý hồ sơ. Hồ sơ nếu được nộp sau khi hết hạn bổ sung sẽ được xem xét như là hồ sơ mới và tiếp tục quy trình xử lý.Trong quá trình thực hiện thủ tục này, cơ quan, tổ chức cần tuân thủ mọi quy định và đảm bảo hồ sơ đầy đủ để đảm bảo quá trình thay đổi tên cơ quan báo chí diễn ra một cách suôn sẻ và nhanh chóng.Câu hỏi liên quan1. Thủ tục thay đổi tên cơ quan báo chí làm ở đâu?Trả lời: Thủ tục thay đổi tên cơ quan báo chí được thực hiện tại Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử.2. Thủ tục thay đổi tên cơ quan báo chí có tốn phí không?Trả lời: Thường thì việc thay đổi tên cơ quan báo chí sẽ liên đới đến việc làm hồ sơ và xử lý thủ tục, có thể có mức phí liên quan đến việc này. Tuy nhiên, mức phí có thể thay đổi theo quy định của cơ quan thực hiện và phụ thuộc vào quy mô và loại hình cơ quan báo chí.3. Thủ tục thay đổi tên cơ quan báo chí làm bao lâu?Trả lời: Thời gian thực hiện thủ tục thay đổi tên cơ quan báo chí có thể biến đổi tùy thuộc vào quy định cụ thể của cơ quan thực hiện và tính phức tạp của việc thay đổi. Thông thường, quá trình này có thể mất vài tháng để hoàn tất.4. Điều kiện làm Thủ tục thay đổi tên cơ quan báo chí là gì?Trả lời: Điều kiện cụ thể để thực hiện thủ tục thay đổi tên cơ quan báo chí có thể thay đổi theo quy định của từng cơ quan thực hiện. Tuy nhiên, thông thường, cơ quan báo chí cần tuân thủ các quy định liên quan đến việc thay đổi tên gọi và đáp ứng các yêu cầu hồ sơ cần thiết.5. Thẩm quyền làm Thủ tục thay đổi tên cơ quan báo chí?Trả lời: Thẩm quyền để thực hiện thủ tục thay đổi tên cơ quan báo chí thường thuộc về Bộ Thông tin và Truyền thông hoặc Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử tại các quy định của pháp luật.6. Hồ sơ làm Thủ tục thay đổi tên cơ quan báo chí cần những giấy tờ gì?Trả lời: Hồ sơ thay đổi tên cơ quan báo chí thường bao gồm các giấy tờ và văn bản như:Văn bản đề nghị thay đổi tên.Giấy tờ liên quan đến việc thay đổi tên.Các hồ sơ và tài liệu liên quan đến hoạt động báo chí của cơ quan.Bất kỳ giấy tờ bổ sung nào được yêu cầu bởi cơ quan thực hiện thủ tục. 
Văn An
155 ngày trước
Bài viết
Hướng dẫn Thủ tục Cấp Giấy Phép Hoạt Động cho Cơ Quan Báo Chí Đơn Giản và Nhanh Chóng
Để thay đổi cơ quan chủ quản của cơ quan báo chí thì cần gửi văn bản thông báo đến cơ quan nhà nước nào?Để thay đổi cơ quan chủ quản của cơ quan báo chí, cần gửi văn bản thông báo đến cơ quan nhà nước quản lý ngành thông tin và truyền thông, tức là Bộ Thông tin và Truyền thông. Quy định này được Điều 19 của Luật Báo chí 2016 quy định về việc thay đổi cơ quan chủ quản của cơ quan báo chí.Theo quy định nêu trên, khi có sự thay đổi cơ quan chủ quản, cơ quan báo chí cần gửi một văn bản thông báo chấm dứt hoạt động báo chí tới Bộ Thông tin và Truyền thông. Sau đó, cơ quan báo chí mới cần tiến hành thủ tục đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo chí theo quy định tại Điều 18 của Luật Báo chí 2016.Điều này đảm bảo rằng thông tin về cơ quan chủ quản của cơ quan báo chí luôn được cập nhật và quản lý một cách chính xác theo quy định của pháp luật.Cơ quan tiếp nhận cơ quan báo chí cần chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động như thế nào?Cơ quan tiếp nhận cơ quan báo chí, sau khi thực hiện việc chuyển đổi cơ quan chủ quản, cần chuẩn bị một bộ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động theo quy định của Điều 5 Thông tư 36/2016/TT-BTTTT. Hồ sơ này bao gồm:Văn bản đề nghị của cơ quan chủ quản: Đây là văn bản chính của cơ quan báo chí thể hiện ý định thay đổi cơ quan chủ quản và đề nghị cấp giấy phép hoạt động mới.Tờ khai của cơ quan chủ quản đề nghị cấp giấy phép: Đây là một tài liệu quan trọng, thường là mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư 36/2016/TT-BTTTT.Đề án thành lập tổ chức hoạt động phát thanh, truyền hình: Đề án này phải được phê duyệt bởi cơ quan chủ quản mới và được xem xét trong quá trình cấp giấy phép.Danh sách nhân sự dự kiến: Bao gồm thông tin về những người sẽ tham gia hoạt động phát thanh, truyền hình trong cơ quan báo chí mới.Các giấy tờ hợp pháp của người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoạt động: Bao gồm sơ yếu lý lịch, bản sao có chứng thực bằng tốt nghiệp đại học trở lên và bản sao thẻ Nhà báo còn hiệu lực.Cơ quan tiếp nhận cơ quan báo chí sẽ xem xét hồ sơ này để đảm bảo rằng cơ quan báo chí mới đáp ứng các điều kiện và quy định pháp luật để được cấp giấy phép hoạt động. Hồ sơ này cần được nộp trực tiếp hoặc gửi qua hệ thống bưu chính tới Bộ Thông tin và Truyền thông (Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử).Thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho cơ quan báo chíThủ tục cấp giấy phép hoạt động cho cơ quan báo chí tiếp nhận được tiến hành theo các bước sau theo quy định của Điều 18 Luật Báo chí 2016:Gửi hồ sơ đề nghị cấp giấy phép: Cơ quan hoặc tổ chức đủ điều kiện, có nhu cầu thành lập cơ quan báo chí cần gửi hồ sơ đề nghị cấp giấy phép trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính đến Bộ Thông tin và Truyền thông.Xem xét và cấp giấy phép: Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ xem xét và cấp giấy phép hoạt động báo chí. Trường hợp từ chối cấp, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối.Thành lập cơ quan báo chí: Sau khi được cấp giấy phép hoạt động báo chí, cơ quan chủ quản báo chí phải ra quyết định về việc thành lập cơ quan báo chí và thông báo thông tin này trên các phương tiện thông tin đại chúng.Quản lý và duy trì hoạt động: Cơ quan báo chí phải duy trì hoạt động và sản xuất sản phẩm báo chí trong thời gian quy định.Thu hồi giấy phép hoạt động báo chí: Nếu sau 03 tháng đối với báo in và báo điện tử, 09 tháng đối với báo nói, báo hình, kể từ ngày giấy phép hoạt động báo chí có hiệu lực, cơ quan báo chí không được thành lập hoặc không có sản phẩm báo chí thì giấy phép hết hiệu lực và Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ ra quyết định thu hồi giấy phép.Cấp lại giấy phép hoạt động báo chí: Trường hợp giấy phép hoạt động báo chí đã bị thu hồi và cơ quan báo chí có nhu cầu cấp lại giấy phép, cơ quan chủ quản báo chí cần gửi văn bản đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông cấp lại giấy phép.Thay đổi nội dung giấy phép: Trong trường hợp có thay đổi nội dung so với giấy phép đã được cấp, cơ quan chủ quản báo chí cần gửi hồ sơ đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy phép mới.Câu hỏi liên quanCâu hỏi 1: Mục đích của báo chí là gì?Trả lời: Mục đích của báo chí là cung cấp thông tin, tin tức, và sự kiện đa dạng đến công chúng để họ có thể cập nhật và hiểu rõ về thế giới xung quanh, xã hội, và các vấn đề quan trọng. Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự thông tin, minh bạch, và kiến thức cho mọi người. Nó cũng thường đóng vai trò giám sát và góp phần kiểm soát quyền lực, bảo vệ quyền tự do ngôn luận và tạo điều kiện cho cuộc thảo luận công cộng.Câu hỏi 2: Thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho cơ quan báo chí có tốn phí không?Trả lời: Thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho cơ quan báo chí thường liên quan đến việc nộp hồ sơ và xem xét đánh giá, có thể đi kèm với việc nộp một khoản phí xử lý hồ sơ và xem xét đánh giá. Mức phí cụ thể có thể được quy định theo quy định của cơ quan có thẩm quyền và luật phí hiện hành.Câu hỏi 3: Thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho cơ quan báo chí làm bao lâu?Trả lời: Thời gian xử lý thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho cơ quan báo chí thường là 90 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Tuy nhiên, thời gian này có thể biến đổi tùy theo quy định của cơ quan có thẩm quyền và tình hình cụ thể của từng trường hợp.Câu hỏi 4: Điều kiện làm thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho cơ quan báo chí là gì?Trả lời: Điều kiện làm thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho cơ quan báo chí bao gồm:Cơ quan hoặc tổ chức phải đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.Có nhu cầu thành lập cơ quan báo chí.Đảm bảo nội dung hoạt động báo chí tuân theo quy định của pháp luật và không vi phạm các quy định về truyền thông và xuất bản.Câu hỏi 5: Hồ sơ làm thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho cơ quan báo chí gồm những gì?Trả lời: Hồ sơ làm thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho cơ quan báo chí thường gồm các tài liệu sau:Văn bản đề nghị của cơ quan chủ quản.Tờ khai của cơ quan chủ quản đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo chí.Đề án thành lập tổ chức hoạt động báo chí được cơ quan chủ quản phê duyệt.Danh sách nhân sự dự kiến.Các giấy tờ hợp pháp của người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoạt động báo chí như sơ yếu lý lịch, bản sao có chứng thực bằng tốt nghiệp đại học trở lên, và bản sao thẻ nhà báo còn hiệu lực.Câu hỏi 6: Thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho cơ quan báo chí thuộc về ai?Trả lời: Thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy phép hoạt động cho cơ quan báo chí thuộc về Bộ Thông tin và Truyền thông. 
Kiều Oanh
157 ngày trước
Bài viết
Hướng dẫn chi tiết Thủ tục Xin Cấp Giấy Phép Tổ Chức Họp Báo
Họp Báo: Định Nghĩa và Điều Kiện Tổ ChứcKhái Niệm và Quyền Tổ Chức Họp Báo Tổ chức họp báo là hoạt động công bố, tuyên bố, giải thích, và trả lời các thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn, hoặc lợi ích của cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân đó. Điều này được quy định tại Điều 41 của Luật Báo chí 2016.Mục đích chính của việc tổ chức họp báo là truyền thông và quảng cáo để tạo dấu ấn cho thương hiệu, tăng cường sự nhận diện từ công chúng, củng cố lòng tin với đối tác và người tiêu dùng. Ngoài ra, đây cũng là cơ hội để kêu gọi đầu tư và hợp tác từ các bên khác.Điều Kiện và Quy Trình Xin Phép Tổ Chức Họp Báo Theo quy định tại Luật Báo chí 2016 và các hướng dẫn liên quan, việc xin phép tổ chức họp báo yêu cầu tuân theo các điều kiện sau:Báo Trước và Sự Đồng Ý: Tổ chức, tổ chức cá nhân, hoặc công dân có ý định tổ chức họp báo phải thông báo bằng văn bản ít nhất 24 tiếng trước khi họp báo cho cơ quan quản lý nhà nước về báo chí.Nội Dung Phù Hợp: Nội dung của họp báo phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, và mục đích của tổ chức hoặc tổ chức cá nhân tổ chức họp báo. Họp báo chỉ được tổ chức khi có sự đồng ý bằng văn bản từ cơ quan quản lý nhà nước về báo chí, và thông báo phải được gửi ít nhất 6 tiếng trước khi họp báo diễn ra.Xin Phép Tại Địa Phương: Đối với họp báo tổ chức trong nước, tổ chức hoặc công dân ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần thông báo bằng văn bản cho Sở Thông tin và Truyền thông tại địa phương.Đại Diện Nước Ngoài: Đối với cơ quan đại diện nước ngoài có trụ sở ngoài Hà Nội và có mời công dân Việt Nam tham dự, cần thông báo bằng văn bản cho Sở Thông tin và Truyền thông cũng như cho Sở Ngoại vụ. Thời gian thông báo phải trước ít nhất 48 giờ.Tuân thủ những quy định này là quan trọng để đảm bảo việc tổ chức họp báo được thực hiện hợp pháp và có sự kiểm soát từ phía cơ quan quản lý nhà nước về báo chí. Quy Trình Xin Phép Tổ Chức Họp Báo Để xin giấy phép tổ chức họp báo, bạn cần tuân theo các bước sau:Bước 1: Chuẩn bị Hồ sơThành phần hồ sơ bao gồm:Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/Giấy chứng nhận thành lập.Văn bản xin phép họp báo ghi rõ:Ngày, giờ họp báo; Nội dung họp báo.Địa điểm tổ chức họp báo.Thành phần tham dự.Người chủ trì họp báo và chức danh của người đó.Các chi tiết khác có liên quan như trưng bày tài liệu, hiện vật, vv.Chương trình họp báo và danh sách cơ quan báo chí tham gia.Hai thư mời gửi Sở Thông tin và Truyền Thông để tham dự buổi họp báo.Thông cáo báo chí.Bước 2: Nộp Hồ Sơ tại Cơ Quan Có Thẩm QuyềnViệc nộp hồ sơ có thể được thực hiện trực tiếp hoặc qua đường bưu điện. Thẩm quyền giải quyết hồ sơ như sau:Tổ chức ở Trung ương thông báo cho Bộ Văn hóa - Thông tin (Cục báo chí).Tổ chức hoặc công dân ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thông báo cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Sở Văn hóa - Thông tin).Thời hạn giải quyết: 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.Bước 3: Nhận Kết QuảNhận kết quả giải quyết hồ sơ tại bộ phận trả kết quả của cơ quan đã nộp hồ sơ. Câu hỏi liên quanCâu hỏi: Xin giấy phép họp báo là gì?Câu trả lời: Xin giấy phép họp báo là quá trình yêu cầu sự cho phép từ cơ quan quản lý nhà nước về báo chí để tổ chức một buổi họp báo hoặc sự kiện truyền thông có liên quan.Câu hỏi: Thủ tục xin giấy phép họp báo tại Hà Nội như thế nào?Câu trả lời: Thủ tục xin giấy phép họp báo tại Hà Nội bao gồm việc chuẩn bị hồ sơ, nộp hồ sơ tại Sở Thông tin và Truyền thông, và đợi kết quả giải quyết trong thời gian quy định.Câu hỏi: Ai có quyền tổ chức họp báo?Câu trả lời: Theo Luật Báo chí 2016, cơ quan, tổ chức, và công dân Việt Nam có quyền tổ chức họp báo để công bố, tuyên bố, giải thích, hoặc trả lời các nội dung có liên quan tới nhiệm vụ, quyền hạn, hoặc lợi ích của họ.Câu hỏi: Quy định về họp báo là gì?Câu trả lời: Quy định về họp báo bao gồm các quy tắc và điều kiện về việc tổ chức họp báo, báo trước, nội dung họp báo, và sự đồng ý từ cơ quan quản lý nhà nước về báo chí. Quy định này được thể hiện trong Luật Báo chí và các văn bản hướng dẫn liên quan.
Nguyễn Diễm Quỳnh
194 ngày trước
Bài viết
Khi được phóng viên phỏng vấn, Sao Việt có được từ chối trả lời không?
Tôi muốn biết, trong các buổi họp báo có sự tham gia của nhiều ngôi sao nước ta và có các phóng viên, nhà báo đến để thực hiện các cuộc phỏng vấn. Liệu những ngôi sao này có quyền từ chối việc được phỏng vấn? Ngoài ra, câu trả lời của họ có được tự do công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hay không? Có yêu cầu sự đồng tình của họ trước khi công bố thông tin không? 1. Có được từ chối trả lời phỏng vấn trên báo chí không?Theo Điều 40 Luật Báo chí 2016 quy định về việc trả lời phỏng vấn trên báo chí như sau:"Điều 40. Trả lời phỏng vấn trên báo chí1. Người phỏng vấn phải thông báo trước cho người được phỏng vấn biết Mục đích, yêu cầu và câu hỏi phỏng vấn; trường hợp cần phỏng vấn trực tiếp, không có sự thông báo trước thì phải được người trả lời phỏng vấn đồng ý.2. Sau khi phỏng vấn, trên cơ sở thông tin, tài liệu của người trả lời cung cấp, người phỏng vấn có quyền thể hiện bằng các hình thức phù hợp. Người phỏng vấn phải thể hiện chính xác, trung thực nội dung trả lời của người được phỏng vấn.Người được phỏng vấn có quyền yêu cầu xem lại nội dung trả lời trước khi đăng, phát. Cơ quan báo chí và người phỏng vấn phải thực hiện yêu cầu đó.3. Nhà báo không được dùng những ý kiến phát biểu tại hội nghị, hội thảo, các cuộc gặp gỡ, trao đổi, nói chuyện có nhà báo tham dự để chuyển thành bài phỏng vấn nếu không được sự đồng ý của người phát biểu.4. Cơ quan báo chí, người phỏng vấn và người trả lời phỏng vấn phải chịu trách nhiệm về nội dung thông tin đăng, phát trên báo chí."Dựa vào quy định trên, có thể thấy rằng khi phóng viên hay nhà báo muốn phỏng vấn người nổi tiếng, họ cần phải thông báo trước cho người đó về nội dung sẽ được hỏi. Trong trường hợp không có thông báo trước, họ phải xin phép từ người định phỏng vấn. Điều này cũng đồng nghĩa với việc nếu không có sự thông báo trước, người đó có quyền từ chối việc được phỏng vấn.2. Nhà báo, phóng viên khi hoạt động nghề nghiệp có quyền và nghĩa vụ thế nào?Theo Điều 25 Luật Báo chí 2016 quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà báo như sau:2.1. Quyền của nhà báo+ Hoạt động báo chí trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động báo chí ở nước ngoài theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp;+ Được khai thác, cung cấp và sử dụng thông tin trong hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật;+ Được đến các cơ quan, tổ chức để hoạt động nghiệp vụ báo chí. Khi đến làm việc, nhà báo chỉ cần xuất trình thẻ nhà báo. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cung cấp cho nhà báo những tư liệu, tài liệu không thuộc phạm vi bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác theo quy định của pháp luật;+ Được hoạt động nghiệp vụ báo chí tại các phiên tòa xét xử công khai; được bố trí khu vực riêng để tác nghiệp; được liên lạc trực tiếp với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để lấy tin, phỏng vấn theo quy định của pháp luật;+ Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ báo chí;+ Khước từ việc tham gia biên soạn hoặc thể hiện tác phẩm báo chí trái với quy định của pháp luật.2.2. Nghĩa vụ của nhà báo+ Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân;+ Bảo vệ quan Điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát hiện, tuyên truyền và bảo vệ nhân tố tích cực; đấu tranh phòng, chống các tư tưởng, hành vi sai phạm;+ Không được lạm dụng danh nghĩa nhà báo để sách nhiễu và làm việc vi phạm pháp luật;+ Phải cải chính, xin lỗi trong trường hợp thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;+ Chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người đứng đầu cơ quan báo chí về nội dung tác phẩm báo chí của mình và về những hành vi vi phạm pháp luật;+ Tuân thủ quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo.3. Nhà báo, phóng viên sử dụng phát ngôn tại phỏng vấn chuyển thành bài đăng báo được không?Căn cứ khoản 2 Điều 40 Luật Báo chí 2016 quy định về việc sử dụng phát ngôn phỏng vấn như sau:“Điều 40. Trả lời phỏng vấn trên báo chí[...]2. Sau khi phỏng vấn, trên cơ sở thông tin, tài liệu của người trả lời cung cấp, người phỏng vấn có quyền thể hiện bằng các hình thức phù hợp. Người phỏng vấn phải thể hiện chính xác, trung thực nội dung trả lời của người được phỏng vấn.Người được phỏng vấn có quyền yêu cầu xem lại nội dung trả lời trước khi đăng, phát. Cơ quan báo chí và người phỏng vấn phải thực hiện yêu cầu đó.”Như vậy, khi phóng viên hay nhà báo muốn sử dụng các câu trả lời của người được phỏng vấn để viết bài trên các phương tiện thông tin đại chúng, họ phải đảm bảo thông tin được trình bày một cách chính xác và trung thực. Người được phỏng vấn cũng có quyền kiểm tra nội dung trả lời của mình trước khi nó được công bố hoặc phát sóng. 
trần thị Liễu
206 ngày trước
Bài viết
Top 10 Báo Pháp Luật Tại Việt Nam
Việt Nam có một hệ thống báo chí phong phú và đa dạng, trong đó các báo pháp luật chiếm một vị trí quan trọng, cung cấp thông tin cập nhật về các vụ án, quy định pháp luật và nhiều vấn đề khác liên quan đến lĩnh vực này. Dưới đây là danh sách top 10 báo pháp luật hàng đầu tại Việt Nam dựa trên thứ tự tìm kiếm, độ nổi tiếng, lưu lượng truy cập:Báo Pháp luật Việt Nam điện tửMô tả: Báo Pháp luật Việt Nam điện tử là một trong những nguồn thông tin hàng đầu về lĩnh vực pháp luật tại Việt Nam. Trang web cung cấp các thông tin cập nhật về pháp luật, an ninh trật tự xã hội, phóng sự điều tra, vụ án hình sự, cũng như giải đáp thắc mắc về luật cho bạn đọc.Đánh giá: Báo Pháp luật Việt Nam điện tử đã khẳng định được vị trí của mình trong lĩnh vực truyền thông pháp luật tại Việt Nam. Với nguồn thông tin đa dạng, cập nhật liên tục và chính xác, trang web này đã trở thành điểm đến tin cậy cho nhiều người quan tâm đến lĩnh vực pháp luật. Đặc biệt, phần giải đáp thắc mắc về luật giúp người đọc hiểu rõ hơn về các quy định pháp luật, giúp họ nắm bắt và áp dụng chính xác trong thực tế. Tuy nhiên, như mọi trang web thông tin, người đọc cần phải kết hợp nhiều nguồn để có cái nhìn toàn diện và chính xác nhất về một vấn đề cụ thể.Tin tức pháp luật, an ninh, hình sự nóng nhất | Báo Pháp Luật TP. Hồ Chí MinhMô tả: Báo Pháp Luật TP. Hồ Chí Minh là một trong những tờ báo uy tín và được đông đảo người dân thành phố biết đến. Trang chuyên mục Pháp luật của PLO.VN cung cấp tin tức thời sự, pháp luật mới nhất về các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế diễn ra trên khắp cả nước.Đánh giá: Báo Pháp Luật TP. Hồ Chí Minh không chỉ nổi tiếng ở TP.HCM mà còn trên toàn quốc. Với lịch sử phát triển lâu đời, báo đã xây dựng được uy tín và niềm tin trong lòng độc giả. Nội dung của báo không chỉ giới hạn ở các vụ án hình sự mà còn mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về tình hình pháp luật trong nước. Một điểm đáng chú ý là báo luôn cập nhật thông tin một cách nhanh chóng và chính xác, đồng thời có sự đầu tư trong việc phân tích và đánh giá sâu rộng về các vấn đề pháp lý, giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản chất và hậu quả của các vụ việc. Tuy nhiên, giống như mọi tờ báo khác, người đọc cần phải tiếp cận thông tin một cách kỹ lưỡng và có sự so sánh giữa các nguồn tin để đảm bảo tính chính xác và toàn diện.Pháp luật - Đọc báo pháp luật, an ninh hình sự 24h mới nhấtMô tả: Pháp luật - Đọc báo pháp luật, an ninh hình sự 24h mới nhất thuộc trang VietnamNet, một trong những trang tin tức điện tử hàng đầu tại Việt Nam. Chuyên mục này tập trung vào việc cung cấp các tin tức, bài viết phân tích và đánh giá về các vụ án, quy định pháp luật, và các sự kiện liên quan đến an ninh trật tự. Đội ngũ biên tập viên chuyên nghiệp và kỳ cựu giúp đảm bảo thông tin được cập nhật một cách chính xác và kịp thời.Đánh giá: Chuyên mục Pháp luật của VietnamNet đã khẳng định được vị thế của mình trong lĩnh vực truyền thông pháp luật tại Việt Nam. Với nguồn thông tin đa dạng và sự phân tích sâu rộng, chuyên mục này giúp người đọc có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về các vấn đề pháp lý đang diễn ra. Đặc biệt, việc kết hợp giữa tin tức và bài viết phân tích giúp người đọc không chỉ cập nhật thông tin mà còn hiểu rõ hơn về bản chất và ngữ cảnh của các vấn đề. Tuy nhiên, do lượng thông tin lớn, người đọc cần phải lựa chọn cẩn thận để tìm ra những bài viết phù hợp và chất lượng nhất.Tin tức pháp luật, an ninh 24h mới nhấtMô tả: Tin tức pháp luật, an ninh 24h mới nhất là một chuyên mục thuộc VnExpress, trang tin tức điện tử lớn và uy tín tại Việt Nam. Chuyên mục này cung cấp một lượng lớn thông tin về các vụ án, quy định pháp luật mới, và các sự kiện liên quan đến an ninh, trật tự xã hội. Với đội ngũ phóng viên rộng khắp, VnExpress luôn đảm bảo cung cấp thông tin nhanh chóng, chính xác và đáng tin cậy.Đánh giá: Chuyên mục Pháp luật của VnExpress đã trở thành một trong những nguồn thông tin pháp luật hàng đầu tại Việt Nam. Sự đa dạng trong nội dung, cùng với góc nhìn sắc bén và phân tích chuyên sâu, giúp người đọc có cái nhìn toàn diện về mọi diễn biến trong lĩnh vực pháp luật. Một điểm đặc trưng của VnExpress là việc kết hợp giữa tin tức truyền thống và multimedia, giúp bài viết trở nên sinh động và thu hút hơn. Tuy nhiên, do lượng thông tin được cập nhật liên tục, người đọc cần phải lựa chọn thông tin một cách cẩn trọng để tránh bị lạc hướng hoặc nhận biết sai lệch về một sự kiện cụ thể.Pháp luật - Tin nóng nhất về các vụ án lớn, nghiêm trọngMô tả: Pháp luật - Tin nóng nhất về các vụ án lớn, nghiêm trọng là một chuyên mục nổi bật trên trang Nhân Dân, một trong những tờ báo lâu đời và có uy tín tại Việt Nam. Chuyên mục này tập trung vào việc cung cấp thông tin chi tiết và sâu rộng về các vụ án có tính chất nghiêm trọng, gây rúng động dư luận. Bên cạnh đó, trang cũng đưa ra các bài phân tích, đánh giá về hậu quả và nguyên nhân của các vụ việc.Đánh giá: Chuyên mục Pháp luật của Nhân Dân đã khẳng định được vị thế và tầm ảnh hưởng của mình trong lĩnh vực truyền thông pháp luật tại Việt Nam. Sự chính xác, kỹ lưỡng trong việc đưa tin và phân tích sự kiện giúp trang thu hút một lượng lớn độc giả quan tâm đến lĩnh vực này. Điểm đặc biệt của chuyên mục này là việc đưa ra cái nhìn sâu sắc, đa chiều về các vụ án, giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản chất và ngữ cảnh của mỗi sự kiện. Tuy nhiên, do tập trung chủ yếu vào các vụ án lớn, nghiêm trọng, đôi khi người đọc cần phải cân nhắc và so sánh thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để có cái nhìn toàn diện và chính xác nhất.Báo Pháp Luật Việt Nam - BAOMOI.COMMô tả: Báo Pháp Luật Việt Nam - BAOMOI.COM không phải là một tờ báo truyền thống mà là một chuyên mục thuộc trang tổng hợp tin tức Baomoi. Trang này tổng hợp và cung cấp các tin tức nổi bật từ Báo Pháp Luật Việt Nam, giúp người đọc dễ dàng cập nhật thông tin mà không cần truy cập nhiều nguồn khác nhau. Baomoi chọn lọc và hiển thị những tin tức pháp luật quan trọng, đáng chú ý từ nhiều nguồn tin cậy.Đánh giá: Chuyên mục Báo Pháp Luật Việt Nam trên Baomoi.com là một giải pháp thông minh cho những người đọc muốn nắm bắt nhanh chóng thông tin pháp luật mà không mất quá nhiều thời gian tìm kiếm. Sự tổng hợp thông minh và chọn lọc kỹ lưỡng giúp đảm bảo người đọc luôn nhận được những tin tức chất lượng và cập nhật. Tuy nhiên, do tính chất tổng hợp, đôi khi người đọc cần phải truy cập trực tiếp vào nguồn gốc để đọc thông tin chi tiết và đầy đủ hơn. Một điểm cộng cho Baomoi là giao diện thân thiện và dễ sử dụng, giúp người đọc dễ dàng lựa chọn và theo dõi các tin tức mong muốn.Báo Pháp luật Việt NamMô tả: Báo Pháp luật Việt Nam là một tờ báo chính thống và uy tín, chuyên trang về các vấn đề pháp luật, an ninh và trật tự xã hội tại Việt Nam. Báo không chỉ cung cấp thông tin về các vụ án, quy định mới, mà còn có các bài viết phân tích, đánh giá sâu rộng về các vấn đề pháp lý đang diễn ra trong xã hội. Đội ngũ biên tập viên và phóng viên chuyên nghiệp, giàu kinh nghiệm đảm bảo cho mỗi bài viết đều mang tính chất chính xác và đáng tin cậy.Đánh giá: Báo Pháp luật Việt Nam đã và đang khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực truyền thông pháp luật tại Việt Nam. Sự chính xác, kỹ lưỡng trong việc đưa tin và phân tích sự kiện giúp báo thu hút một lượng lớn độc giả quan tâm đến lĩnh vực này. Đặc biệt, việc đưa ra những bài viết phân tích sâu rộng giúp người đọc có cái nhìn đa chiều và sâu sắc về các vấn đề pháp lý. Tuy nhiên, giống như mọi tờ báo khác, người đọc cần tiếp cận thông tin một cách kỹ lưỡng và có sự so sánh giữa các nguồn tin để đảm bảo tính chính xác và toàn diện.Báo Pháp luật - .: VGP NewsMô tả: Báo Pháp luật - .: VGP News là một chuyên mục thuộc trang Báo điện tử Chính phủ, chính thức và uy tín. Chuyên mục này tập trung vào việc cung cấp thông tin về các quy định pháp luật mới, các vụ án tiêu biểu, và các sự kiện liên quan đến an ninh, trật tự xã hội. Đặc biệt, với nguồn thông tin chính thống từ Chính phủ, chuyên mục này luôn đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy trong mỗi bản tin.Đánh giá: Báo Pháp luật - .: VGP News đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải thông tin pháp luật đến công chúng từ góc độ chính thống và chính quyền. Sự chính xác, kỹ lưỡng và đáng tin cậy là những điểm mạnh của chuyên mục này, giúp người đọc luôn được cập nhật với những thông tin mới nhất và chính xác nhất. Đặc biệt, việc có nguồn thông tin trực tiếp từ Chính phủ giúp báo có một vị thế đặc biệt và độ tin cậy cao trong mắt công chúng. Tuy nhiên, do tính chất chính thống, người đọc cũng cần kết hợp với các nguồn tin khác để có cái nhìn đa chiều và toàn diện hơn về một vấn đề cụ thể.Báo Đời sống và Pháp luậtMô tả: Báo Đời sống và Pháp luật không chỉ tập trung vào các vấn đề pháp luật, mà còn mở rộng phạm vi đến các sự kiện xã hội, văn hóa và đời sống. Trang này cung cấp thông tin về các vụ án nổi bật, quy định pháp luật mới, và cả những câu chuyện đời thường gắn liền với pháp luật. Báo Đời sống và Pháp luật luôn nỗ lực đưa ra những bài viết chất lượng, sâu rộng và đa dạng.Đánh giá: Báo Đời sống và Pháp luật đã trở thành một trong những tờ báo pháp luật hàng đầu tại Việt Nam nhờ sự kết hợp tinh tế giữa pháp luật và đời sống. Điểm đặc biệt của báo là việc đưa ra những bài viết phân tích sâu rộng, giúp người đọc hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa pháp luật và cuộc sống hàng ngày. Với đội ngũ biên tập viên và phóng viên chuyên nghiệp, báo luôn cung cấp thông tin chính xác, kịp thời và đáng tin cậy. Tuy nhiên, do phạm vi đề tài rộng lớn, người đọc cần phải lựa chọn thông tin một cách cẩn trọng để đảm bảo rằng họ đang tiếp cận những nội dung phù hợp và chất lượng nhất.Những tờ báo uy tín nhất Việt NamTrong bối cảnh thông tin ngày càng phong phú và đa dạng, việc lựa chọn một nguồn tin cậy và chính xác trở nên vô cùng quan trọng. Dưới đây là danh sách những tờ báo uy tín nhất tại Việt Nam:Nhân Dân - Là tờ báo chính thống của Đảng Cộng sản Việt Nam, cung cấp thông tin chính thức từ Chính phủ và các cơ quan nhà nước.Thời báo Kinh tế Việt Nam - Chuyên trang về kinh tế, tài chính và thị trường, được giới doanh nhân và chuyên gia kinh tế đánh giá cao.Tuổi Trẻ - Một trong những tờ báo có lượng độc giả lớn nhất, cung cấp thông tin đa dạng từ chính trị, xã hội đến văn hóa, giáo dục.Báo Đời sống và Pháp luật - Như đã đề cập, báo này kết hợp tinh tế giữa pháp luật và đời sống, mang đến góc nhìn đa chiều cho độc giả.Các trang báo điện tử chính thốngTrong thời đại số hóa, báo điện tử trở nên phổ biến và thuận tiện hơn bao giờ hết. Dưới đây là một số trang báo điện tử chính thống tại Việt Nam:VnExpress - Là trang báo điện tử hàng đầu tại Việt Nam, cung cấp thông tin nhanh chóng và chính xác trên nhiều lĩnh vực.VietnamNet - Không chỉ cung cấp tin tức, trang này còn có các bài phân tích sâu rộng về các vấn đề nóng hổi.Dân Trí - Trang báo điện tử với nội dung đa dạng, từ giáo dục, khoa học đến văn hóa và xã hội.Báo điện tử Chính phủ - Cung cấp thông tin chính thức và cập nhật từ Chính phủ và các cơ quan nhà nước.Còn nữa….Những tờ báo và trang báo điện tử trên đều đã khẳng định vị thế và uy tín của mình trong lòng độc giả Việt Nam, trở thành những nguồn tin cậy cho mọi người trong việc cập nhật thông tin hàng ngày.Những tờ báo uy tín nhất thế giớiTrên bản đồ báo chí thế giới, có một số tờ báo đã khẳng định được uy tín và tầm ảnh hưởng của mình qua nhiều thập kỷ. Dưới đây là danh sách những tờ báo uy tín nhất thế giới:The New York Times (Mỹ) - Một trong những tờ báo lớn và uy tín nhất thế giới, nổi tiếng với việc đưa tin chính xác và sâu rộng.The Guardian (Anh) - Tờ báo này nổi tiếng với những bài viết phân tích sâu rộng và độc lập.The Washington Post (Mỹ) - Khẳng định vị thế với những bài viết điều tra độc quyền và chất lượng.Le Monde (Pháp) - Một trong những tờ báo hàng đầu tại châu Âu, cung cấp góc nhìn độc đáo về các sự kiện quốc tế.Der Spiegel (Đức) - Tờ báo này nổi tiếng với những bài viết điều tra và phân tích sâu rộng.Bảng xếp hạng báo điện tửTrong thời đại số hóa, báo điện tử trở thành nguồn thông tin chính cho nhiều người. Dưới đây là bảng xếp hạng một số trang báo điện tử hàng đầu dựa trên mức độ phổ biến và uy tín:VnExpress - Được đánh giá là trang báo điện tử số 1 tại Việt Nam với lượng truy cập hàng đầu.VietnamNet - Nổi tiếng với những bài phân tích sâu rộng và đa dạng về nhiều lĩnh vực.Dân Trí - Tập trung vào các tin tức giáo dục, văn hóa và xã hội.Zing News - Thu hút độc giả nhờ cập nhật tin tức nhanh chóng và đa dạng từ giải trí đến chính trị.Thanh Niên - Một trong những trang báo điện tử lâu đời và uy tín tại Việt Nam.Các trang báo không chính thốngĐịnh nghĩa: Trang báo không chính thống, thường được biết đến là các trang báo độc lập hoặc trang báo cộng đồng, không thuộc hoặc không được điều hành bởi các cơ quan truyền thông truyền thống hoặc chính phủ. Chúng thường tập trung vào các chủ đề cụ thể, phản ánh góc nhìn độc đáo và không bị ràng buộc bởi các quy định chính thống.Đánh giá rủi ro:Tính chính xác: Một số trang báo không chính thống có thể không tuân thủ các nguyên tắc báo chí chuyên nghiệp, dẫn đến việc đưa tin không chính xác hoặc thiên vị.Nguồn tin: Thường khó xác định nguồn gốc của thông tin, có thể dẫn đến việc truyền bá tin tức không chính thống hoặc tin đồn.Quảng cáo và tài trợ: Một số trang có thể bị ảnh hưởng bởi quảng cáo hoặc tài trợ, làm ảnh hưởng đến tính khách quan của nội dung.Phương án nhận biết:Kiểm tra nguồn gốc: Đảm bảo rằng trang web có nguồn gốc rõ ràng, thông tin về biên tập viên, phóng viên và tác giả.So sánh thông tin: So sánh thông tin từ trang báo không chính thống với các nguồn tin chính thống để xác định tính chính xác.Đánh giá phản hồi cộng đồng: Xem xét phản hồi từ cộng đồng độc giả, nhận xét và đánh giá để đánh giá uy tín của trang báo.Nhìn chung, trong khi các trang báo không chính thống có thể mang lại góc nhìn độc đáo và cung cấp thông tin mà các trang báo chính thống có thể bỏ sót, người đọc cần phải tiếp cận một cách cẩn trọng và luôn kiểm tra tính chính xác của thông tin.LỜI KẾTTrong quá trình tìm hiểu và nắm bắt thông tin pháp luật, việc biết đến các thủ tục pháp luật và thủ tục là vô cùng quan trọng. Đây là những thông tin cơ bản giúp bạn hiểu rõ hơn về quy định của pháp luật và cách thức thực hiện các thủ tục liên quan.Hy vọng rằng danh sách trên sẽ giúp bạn dễ dàng tìm kiếm và cập nhật thông tin pháp luật một cách nhanh chóng và chính xác.
Hà Thanh Thảo
512 ngày trước
Bài viết
Bỏ yêu cầu trình độ ngoại ngữ với chức danh nghề nghiệp phóng viên
Bộ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông ban hành Thông tư 13/2022/TT-BTTTT về mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và xếp lương đối với viên chức biên tập viên, phóng viên, biên dịch viên và đạo diễn truyền hình thuộc chuyên ngành TT&TT.Theo đó, yêu cầu về trình độ ngoại ngữ với chức danh nghề nghiệp phóng viên như sau:Đối với phóng viên hạng I:- Có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản, sử dụng được ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số theo yêu cầu của vị trí việc làm.Hiện hành Thông tư liên tịch 11/2016/TTLT-BTTTT-BNV yêu cầu có trình độ tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định và có trình độ ngoại ngữ bậc 4 (B2).- Đối với phóng viên hạng II: Có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản, sử dụng được ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số theo yêu cầu của vị trí việc làm.Hiện hành yêu cầu có trình độ tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định và có trình độ ngoại ngữ bậc 3 (B1).- Đối với phóng viên hạng III: Có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản, sử dụng được ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số theo yêu cầu của vị trí việc làm.Hiện hành yêu cầu có trình độ tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định và Có trình độ ngoại ngữ bậc 2 (A2).Thông tư 13/2022/TT-BTTTT có hiệu lực từ 10/10/2022 và thay thế Thông tư liên tịch 11/2016/TTLT-BTTTT-BNV ngày 07/4/2016.
Lê Phương Thảo
562 ngày trước
Bài viết
DỰ THẢO XỬ PHẠT NHÀ BÁO GHI ÂM PHIÊN TOÀ MÂU THUẪN VỚI LUẬT
Các chuyên gia cho rằng, dự thảo pháp lệnh "xử phạt nhà báo ghi âm, ghi hình... phiên tòa khi không được chủ tọa đồng ý" còn mâu thuẫn với nhiều luật, dễ phạt sai.Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa cho ý kiến về dự thảo Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng. Tại điểm c, d khoản 4; khoản 5 Điều 23 của dự thảo đề cập nhà báo ghi âm, ghi hình hoặc ghi hình có âm thanh người tham gia tố tụng khi không được sự đồng ý của họ sẽ bị phạt 7-15 triệu đồng.Mức phạt tăng lên 15-30 triệu đồng nếu nhà báo ghi âm, ghi hình; ghi hình có âm thanh phiên tòa hay ghi âm thanh của người tham gia tố tụng khi không được sự đồng ý của họ và phát trực tiếp trên không gian mạng.Theo ông Nguyễn Công Phú, nguyên phó chánh tòa Kinh tế TAND TP HCM, quy định trên còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ. Chẳng hạn, tại Điều 2 của dự thảo quy định hành vi cản trở hoạt động tố tụng bị xử phạt vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính... Như vậy, có thể hiểu mục đích của pháp lệnh là nhằm bảo đảm cho hoạt động tố tụng nói chung, cũng như hoạt động tố tụng tại các phiên tòa nói riêng, được tiến hành theo đúng quy định của 3 bộ luật trên. Chỉ có những hành vi vi phạm quy định của 3 bộ luật này mới được coi là hành vi cản trở hoạt động tố tụng bị xử phạt vi phạm hành chính.Tuy nhiên, tại khoản 4 và khoản 5 Điều 23 dự thảo không phân biệt đó là phiên tòa hình sự, dân sự hay hành chính. Trong khi đó, tại khoản 4 Điều 234 Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 4 Điều 153 Luật Tố tụng Hành chính lại quy định nhà báo ghi âm, ghi hình HĐXX hoặc người tham gia tố tụng tại phiên tòa thì phải được sự đồng ý của những người này. Còn Điều 256 Bộ luật Tố tụng hình sự thì không quy định.Ông Phú cho rằng, quy định trong dự thảo sẽ dẫn đến hai cách hiểu. Một là, nhà báo chỉ bị xử phạt khi phiên tòa đó là dân sự hoặc hành chính, còn phiên tòa hình sự thì không bị xử phạt. Thứ hai, nếu vi phạm nhà báo có thể bị xử phạt ở tất cả các phiên tòa mà không cần có sự phân biệt vì đã được quy định trong pháp lệnh."Sự không rõ ràng này dễ dẫn đến tình trạng người có thẩm quyền xử phạt sẽ áp dụng máy móc pháp lệnh theo cách hiểu thứ hai", ông Phú nói.Về việc "phát trực tiếp trên không gian mạng", theo ông Phú, hành vi này không có quy định trong tất cả các luật hay bộ luật, cũng không gây cản trở hoạt động tố tụng tại phiên tòa. Nếu có tác hại đến việc xét xử vụ án hoặc đối với xã hội nói chung, hoặc xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan, thì đó cũng không phải là hành vi vi phạm nội quy phiên tòa hay cản trở hoạt động tố tụng. Tức là không thuộc phạm vi điều chỉnh của dự thảo pháp lệnh."Có ý kiến cho rằng, quy định tại dự thảo là để bảo vệ quyền nhân thân của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Nhưng theo tôi, ý kiến này cũng không thuyết phục vì không phù hợp với mục đích và phạm vi điều chỉnh của dự thảo", ông Phú nói.Theo cựu phó chánh toà, việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân đã được quy định tại Điều 32 của Bộ luật Dân sự về "quyền của cá nhân đối với hình ảnh". Theo đó, việc sử dụng hình ảnh của cá nhân cũng có trường hợp ngoại lệ, không buộc phải có sự đồng ý của họ như "vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng" hoặc hình ảnh từ các hoạt động công cộng mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín.Việc ghi âm, ghi hình tại phiên tòa còn là quyền của nhà báo trong hoạt động nghiệp vụ báo chí tại các phiên tòa xét xử công khai - được quy định tại Điều 9, Điều 25 Luật Báo chí. Mà Luật Báo chí thì có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh về vấn đề hoạt động báo chí.Ngoài ra, không phải lúc nào nhà báo ghi âm, ghi hình tại phiên tòa cũng đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng mà nó còn để lưu giữ chứng cứ về diễn biến thực tế. Từ đó, nhà báo chứng minh đã đưa tin đúng sự thật, để bảo vệ mình khi cần thiết.Nếu buộc nhà báo phải có sự đồng ý của những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng trước khi thực hiện việc ghi âm, ghi hình tại phiên tòa dân sự, hành chính (nhất là các phiên tòa đông người) bằng cách hỏi từng người là không khả thi, mất rất nhiều thời gian và phiền phức.Cùng quan điểm, ông Lưu Bình Nhưỡng (Phó trưởng Ban Dân nguyện Quốc hội), cho rằng đối với những phiên tòa liên quan đến bí mật quốc gia, bí mật quân sự hay án xâm hại tình dục... thì mới cần hạn chế ghi âm, ghi hình. Còn với những phiên tòa công khai, nhà báo được quyền tác nghiệp đúng theo Luật Báo chí. Qua đó tuyên truyền pháp luật, giáo dục, răn đe, ngăn ngừa tội phạm. Hay có những phiên tòa mà HĐXX xét xử công tâm, khách quan, tìm ra được sự thật của vụ án, xử đúng người, đúng tội, không gây oan sai... thì cần phải nhân rộng. Đối với những vụ án toà làm chưa tốt cũng cần phản ánh để tòa cấp trên xem xét lại...."Ngay cả giai đoạn điều tra, vẫn để xảy ra tình trạng bức cung, dùng nhục hình nhưng đâu phải lúc nào bị can, bị cáo cũng có chứng cứ chứng minh. Khi đưa ra tòa xét xử công khai mà nhà báo cũng không được HĐXX cho ghi âm, ghi hình thì lấy đâu ra chứng cứ để chứng minh viết bài đưa ra công luận đúng sự thật", ông Nhưỡng nói.Từ đó, ông Nhưỡng đề nghị cần phải xem xét, điều chỉnh lại dự thảo cho phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành, tránh tình trạng "luật không cấm nhưng pháp lệnh lại đè ra xử phạt".Còn theo ông Nguyễn Công Phú, để tạo thuận lợi cho nhà báo trong việc tác nghiệp tại các phiên xử án dân sự, hành chính, thì TAND Tối cao nên lấy ý kiến của những người tiến hành tố tụng, hoặc người tham gia tố tụng, trước khi nhà báo ghi âm ghi hình để có hướng dẫn cụ thể.Chẳng hạn, nhà báo chỉ cần đăng ký với thư ký phiên tòa trước khi khai mạc và trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa chủ tọa chỉ cần thông báo lại cho những người tham gia tố tụng biết. Nếu người nào không đồng ý việc ghi âm, ghi hình họ thì chủ tọa được quyền không cho phép nhà báo ghi âm, ghi hình đối với người đóTrên đây là bài viết của Công ty Luật Legalzone  về tin tức pháp luật mới nhất.Hotline tư vấn: 088.888.9366 Email: Support@legalzone.vn Website: https://legalzone.vn/  Hệ thống: Thủ tục pháp luật Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Trần Đức Thành
605 ngày trước
Bài viết
Đình bản 03 tháng đối với Báo Pháp luật Việt Nam điện tử
Theo quy định luật Xử lý vi phạm hành chính, ngày 5.7 Chánh thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành Quyết định số 47/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với Báo Pháp luật Việt Nam về 13 lỗi vi phạm, trong đó xử phạt cảnh cáo đối với 2 hành vi vi phạm, xử phạt bằng tiền 11 hành vi vi phạm với tổng số tiền 325 triệu đồng.Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông cũng tước quyền sử dụng giấy phép số 303/GP-BTTTT ngày 8/7/2015 do Bộ Thông tin và Truyền thông cấp trong thời hạn 03 tháng đối với Báo Pháp luật Việt Nam điện tử kể từ ngày 5/7/2022.Trước đó, theo kết luận của Thanh tra Bộ Thông tin và truyền thông, Báo Pháp luật Việt Nam đăng tải thông tin sai sự thật trong 13 bài viết, đã vi phạm quy định tại khoản 8 Điều 9 luật Báo chí 2016, trong đó có 2 bài viết gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng.Báo Pháp luật Việt Nam đăng tải nhiều bài viết không đúng tôn chỉ mục đích trên một số ấn phẩm, chuyên trang, đặc biệt là chuyên trang Pháp luật Sao với tỷ lệ bài viết sai tôn chỉ, mục đích lớn (khoảng 20%).Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan báo chí khối bộ ngành có nhiều chuyên trang, ấn phẩm. Tuy nhiên, các chuyên trang, ấn phẩm có sự trùng lặp nội dung với nhau và trùng lặp nội dung với Báo Pháp luật Việt Nam điện tử. Một số chuyên trang có biểu hiện sa đà vào khai thác các vụ án, thông tin giật gân, câu khách.Trên đây là một số thông tin Legalzone muốn chia sẻ tới bạn đọc. Nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết và để được hướng dẫn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được kịp thời tư vấn. Xin cảm ơn!Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệLEGALZONE COMPANYHotline tư vấn:  088.888.9366Email: Support@legalzone.vnWebsite: https://legalzone.vn/Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội———————————-Tư vấn đầu tư nước ngoài/ Foreign investment consultantcyTư vấn doanh nghiệp/ Enterprises consultantcyTư vấn pháp lý/ Legal consultantcyFb Legalzone: https://www.facebook.com/luatlegalzone.ltd
Bùi Lan
848 ngày trước
Bài viết
Điểm mới về ban hành Thông cáo báo chí VBQPPL của Chính phủ
Điểm mới về ban hành Thông cáo báo chí VBQPPL của Chính phủNgày 01/11/2021, Bộ trưởng Bộ tư pháp ban hành Thông tư 07/2021/TT-BTP quy định việc ban hành thông cáo báo chí về văn bản QPPL do Chính phủ, Thủ tướng ban hành.Theo đó,  có một số điểm mới liên quan đến việc ban hành thông cáo báo chí về văn bản QPPL do Chính phủ, Thủ tướng ban hành:- Chậm nhất vào ngày 05 của tháng tiếp theo:Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm cung cấp thông tin về văn bản QPPL cơ quan mình chủ trì soạn thảo đã được Chính phủ, Thủ tướng ban hành trong tháng cho Bộ Tư pháp.(Hiện hành, quy định trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày văn bản QPPL được ký ban hành).- Căn cứ vào nội dung thông tin về văn bản QPPL do cơ quan chủ trì soạn thảo cung cấp, Bộ Tư pháp có trách nhiệm tổng hợp, biên tập nội dung, xây dựng và ban hành Thông cáo báo chí chậm nhất vào ngày 10 của tháng tiếp theo.(So với hiện hành, không còn nội dung ban hành Thông cáo báo chí trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông tin do cơ quan chủ trì soạn thảo cung cấp đối với văn bản QPPL có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký).- Trường hợp phát hiện Thông cáo báo chí đã ban hành có sai sót trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản cung cấp lại thông tin của cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp có văn bản đính chính Thông cáo báo chí.Thông tư 07/2021/TT-BTP có hiệu lực từ ngày 01/01/2022 và thay thế Thông tư 12/2013/TT-BTP ngày 07/8/2013.
Bài viết được xem nhiều nhất
Bài viết
(mới)Những mẫu bản kiểm điểm đảng viên dành cho cán bộ, giáo viên, sinh viên,.. luôn được bạn đọc chú ý. Đây là thời điểm để mọi người nhìn nhận lại những gì mình đã và chưa làm được. Qua đó cho mình thêm động lực để phấn đấu hơn nữa. Hãy cùng nhau theo dõi ngay trong bài viết mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân của Legalzone - hệ thống thủ tục pháp luậtMẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân Bản kiểm điểm Đảng viên sẽ gồm có các phần chính sau:Ưu điểm, kết quả đạt được về tư tưởng chính trị;Phẩm chất đạo đức, lối sống;Y thức tổ chức kỷ luật;Tác phong, lề lối làm việc;Về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao;Về việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm.Cụ thể: Hạn chế, khuyết điểm đảng viên về tư tưởng chính trị; phẩm chất đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc; về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.Hạn chế khuyết điểm đảng viên về việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm và nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm.Kết quả khắc phục những ưu khuyết điểm của đảng viên đã được cấp có thẩm quyền kết luận hoặc được chỉ ra ở các kỳ kiểm điểm trước.Tại phần này cần kiểm điểm rõ:Từng ưu khuyết điểm đảng viên (đã được khắc phục; đang khắc phục, mức độ khắc phục; chưa được khắc phục)Những khó khăn, vướng mắc (nếu có)Trách nhiệm của cá nhân.Giải trình, nhận xét ưu khuyết điểm của đảng viên những vấn đề được gợi ý kiểm điểm (nếu có).Giải trình từng vấn đề được gợi ý kiểm điểm, nêu nguyên nhân.Xác định trách nhiệm của cá nhân đối với từng vấn đề được gợi ý kiểm điểm.Làm rõ trách nhiệm của cá nhân đối với những ưu điểm khuyết điểm của đảng viên (nếu có).Phương hướng, biện pháp khắc phục những ưu khuyết điểm của đảng viên. Tự nhận mức xếp loại chất lượng.Legalzone cung cấp cho bạn đọc 02 mẫu bản tự kiểm kiểm cá nhân tham khảo sau đây:Mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhânBẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂNHọ và tên: ………………… Sinh ngày: …………………………………Ngày vào Đảng: ……………… Chính thức ngày ………………………… Chức vụ Đảng: …………………………………………………………..Chức vụ chính quyền(đoàn thể): ………………………………………….Đơn vị công tác: ………………………………………………………Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: ………………………………………..I. Ưu điểm, kết quả công tác 1. Về tư tưởng chính trị– Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi luôn kiên định đối với đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.– Chấp hành nghiêm túc quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực để bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.– Luôn có ý thức tuyên truyền, vận động người thân, gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.– Xác định ý thức tích cực, tự giác tự học, tự nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác qua các lớp tập huấn, các lớp bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp…– Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng thực hiện cuộc vận động“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” của bản thân.Trong quá trình công tác, bản thân luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.2. Về phẩm chất đạo đức, lối sống.– Bản thân tôi luôn có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu.- Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong ngành. Luôn có ý thức giữ gìn tư cách, đạo đức tính tiên phong của người đảng viên trong tác chuyên môn.- Không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và những điều Đảng viên không được làm theo quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị.– Bản thân tôi luôn thực hiện tự phê bình và phê bình trung thực và thẳng thắn, giữ gìn đoàn kết trong Đảng trên cơ sở cương lĩnh và điều lệ Đảng, phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động chỉ đạo chuyên môn và luôn luôn xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ.-  Trong cuộc sống thường ngày sinh hoạt với địa phương, tôi đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tin tưởng, tham gia tích cực mọi hoạt động ở nới cư trú.3. Về thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao:– Bản thân luôn thực hiện đúng qui chế chuyên môn, đảm bảo tính khoa học.– Làm việc có trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. – Luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.– Luôn phối kết hợp tốt với các đồng nghiệp, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. -Trong công tác xây dựng Đảng, đoàn thể tôi luôn có ý thức tuyên truyền, tham gia xây dựng chi bộ, các đoàn thể trong cơ quan trong sạch, vững mạnh.4. Về tổ chức kỷ luật:– Bản thân tôi luôn thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, chấp hành sự phân công điều động, luân chuyển của tổ chức.- Bản thân luôn vận động gia đình chấp hành nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các luật và nghị định của Nhà nước về phòng chống ma tuý, chống tiêu cực ……– Bản thân tôi luôn thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng và đóng đảng phí theo quy định.- Tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt chi bộ, quán triệt sâu sắc các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và ngành đề ra.– Tham gia đầy đủ các buổi hội họp, học nghị quyết do chi bộ và Đảng bộ tổ chức; đóng Đảng phí đầy đủ, kịp thời.– Thực hiện tốt quy chế, nội quy của tổ chức Đảng cũng như của cơ quan đơn vị, có tinh thần gương mẫu chấp hành và lãnh đạo thực hiện tốt quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú- Ý thức lắng nghe, tiếp thu và tự sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng.– Thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở; có tinh thần tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền.- Luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao; thái độ phục vụ nhân dân tốt; có ý thức đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, gây phiền hà nhân dân.II. Khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân– Chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy kết quả chưa cao– Đôi khi còn chưa linh hoạt, trong giải quyết công việc với đồng nghiệp, với học sinh– Tuy có ý thức trong công tác tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt nhưng vẫn còn chưa mạnh dạn.– Đôi lúc chưa chủ động trong tổ chức thực hiện một số hoạt động. Trong công việc đôi lúc còn chưa mạnh dạn, thẳng thắn góp ý cho đồng nghiệp– Chưa cương quyết trong xử lí vi phạm, làm việc còn mang tính cả nểIII. Phương hướng và biện pháp khắc phục, sửa chữa yếu kém– Tuyệt đối chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.- Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong Đảng và cơ quan.– Không ngừng tu dưỡng đạo đức, tự học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị,chuyên môn nghiệp vụ, mạnh dạn hơn nữa trong việc tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị được giao.– Tiếp tục đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, luôn có ý thức tự phê bình và phê bình, tránh tư tưởng nể nang, nâng cao vai trò tiên phong của người đảng viên.Biện pháp khắc phục:– Trong thời gian tới sẽ phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm trên để bản thân được hoàn thiện hơn.– Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những hành động và việc làm cụ thể trong thực hiện công việc và nhiệm vụ được giaoXem thêm: Thủ tục thành lập trung tâm ngoại ngữ tại Hà NộiLink dowload các biểu mẫu miễn phíBẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂNBẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂN 2BẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁN BỘTải ngay mẫu Bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân tại phần ảnh tại bài viết hoặc tại phần bình luận của bài viết bạn nhé IV. Tự nhận mức xếp loại chất lượng Đảng viên, cán bộ, công chức:Mức 2: Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.Người viết bản kiểm điểmMẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân số 2ĐẢNG BỘ Xà.......CHI BỘ TRƯỜNG .........***ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ........, ngày...tháng...năm 2019BẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂNHọ và tên: ............. .............. Sinh ngày: ........... ................ ........... ............Ngày vào Đảng: ............... .............. Chính thức ngày .............. .............. Chức vụ Đảng: ........... ............ ............... .............. ................ ................. Chức vụ chính quyền(đoàn thể): .............. ................. .................. ............ Đơn vị công tác: ............ ............... ................ ................... ................. Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: .................... .................... .................... Ưu điểm, kết quả công tácVề tư tưởng chính trị- Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi luôn kiên định đối với đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.- Chấp hành nghiêm túc quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực để bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.- Luôn có ý thức tuyên truyền, vận động người thân, gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.- Xác định ý thức tích cực, tự giác tự học, tự nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác qua các lớp tập huấn, các lớp bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp...- Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", cuộc vận động "Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo" của bản thân. Trong quá trình công tác, bản thân luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.Về phẩm chất đạo đức, lối sống.- Bản thân tôi luôn có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu.Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong ngành.Luôn có ý thức giữ gìn tư cách, đạo đức tính tiên phong của người đảng viên trong tác chuyên môn.Không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và những điều Đảng viên không được làm theo quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị.- Bản thân tôi luôn thực hiện tự phê bình và phê bình trung thực và thẳng thắn, giữ gìn đoàn kết trong Đảng trên cơ sở cương lĩnh và điều lệ Đảng, phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động chỉ đạo chuyên môn và luôn luôn xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ. Trong cuộc sống thường ngày sinh hoạt với địa phương, tôi đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tin tưởng, tham gia tích cực mọi hoạt động ở nới cư trú.Về thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao:- Bản thân luôn thực hiện đúng qui chế chuyên môn, đảm bảo tính khoa học.- Làm việc có trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao- Luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.- Luôn phối kết hợp tốt với các đồng nghiệp, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao-Trong công tác xây dựng Đảng, đoàn thể tôi luôn có ý thức tuyên truyền, tham gia xây dựng chi bộ, các đoàn thể trong cơ quan trong sạch, vững mạnh.>>Tham khảo bài viết: Bộ luật Dân sự 2015: Điểm nổi bật và ý nghĩa trong bối cảnh pháp luật hiện đạiVề tổ chức kỷ luật:- Bản thân tôi luôn thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, chấp hành sự phân công điều động, luân chuyển của tổ chức. Bản thân luôn vận động gia đình chấp hành nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các luật và nghị định của Nhà nước về phòng chống ma tuý, chống tiêu cực ......- Tham gia đầy đủ các buổi hội họp, học nghị quyết do chi bộ và Đảng bộ tổ chức; đóng Đảng phí đầy đủ, kịp thời.- Thực hiện tốt quy chế, nội quy của tổ chức Đảng cũng như của cơ quan đơn vị, có tinh thần gương mẫu chấp hành và lãnh đạo thực hiện tốt quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú; ý thức lắng nghe, tiếp thu và tự sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng.- Luôn có thái độ cầu thị trong việc nhận và sửa chữa khắc phục khuyết điểm.- Thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở; có tinh thần tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền.- Luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao; thái độ phục vụ nhân dân tốt; có ý thức đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, gây phiền hà nhân dân.Khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân- Chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy kết quả chưa cao. - Chưa dành thời gian thích hợp để nghiên cứu, tìm hiểu sâu về Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết, quy định của Đảng; pháp luật, chính sách của Nhà nước.- Trách nhiệm cá nhân trong việc phối kết hợp với các đoàn thể khác trong trường có lúc chưa đạt hiệu quả cao nhất.- Đôi lúc chưa chủ động trong tổ chức thực hiện một số hoạt động. Trong công việc đôi lúc còn chưa mạnh dạn, thẳng thắn góp ý cho đồng nghiệp- Chưa cương quyết trong xử lí vi phạm, làm việc còn nể nang tình cảm trong công tác phê bình và tự phê bình.III. Phương hướng và biện pháp khắc phục, sửa chữa yếu kém- Tuyệt đối chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.- Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong Đảng và cơ quan.- Không ngừng tu dưỡng đạo đức, tự học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ- Mạnh dạn hơn nữa trong việc tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị được giao.- Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống- Luôn có ý thức tự phê bình và phê bình, nâng cao vai trò tiên phong của người đảng viên.Biện pháp khắc phục:- Trong thời gian tới sẽ phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm trên để bản thân được hoàn thiện hơn.- Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những hành động và việc làm cụ thể trong thực hiện công việc và nhiệm vụ được giao. Tự nhận mức xếp loại chất lượng Đảng viên, cán bộ, công chức:Mức 2: Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.     NGƯỜI TỰ KIỂM ĐIỂM(Ký, ghi họ tên) ĐÁNH GIÁ PHÂN LOẠI CHẤT LƯỢNG ĐẢNG VIÊNNhận xét, đánh giá của chi ủy:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ...............Chi bộ phân loại chất lượng:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ..........................., ngày...tháng...năm....T.M CHI ỦYBí thưĐảng ủy (chi ủy cơ sở) phân loại chất lượng:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ................................., ngày...tháng...năm...     T.M ĐẢNG ỦYTrên đây là một số thông tin về mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân bạn đọc tham khảo. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ. Hoặc bạn có thể tra cứu các thủ tục qua trang Thủ tục pháp luật của chúng tôi. 
Bài viết
[MỚI]Địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệpTừ 2021, tên địa điểm kinh doanh phải bao gồm cả tên doanh nghiệp. Đây là nội dung mới được Quốc hội đề cập đến tại Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14. Quy định mới về tên địa điểm kinh doanhCụ thể, Điều 40 Luật Doanh nghiệp 2020 nêu rõ:Tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệp kèm theo cụm từ “Chi nhánh” đối với chi nhánh, cụm từ “Văn phòng đại diện” đối với văn phòng đại diện, cụm từ “Địa điểm kinh doanh” đối với địa điểm kinh doanh.Hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không yêu cầu với địa điểm kinh doanh mà chỉ quy định tên chi nhánh, văn phòng đại diện phải mang tên doanh nghiệp kèm cụm từ “chi nhánh” với chi nhánh, cụm từ “văn phòng đại diện” với văn phòng đại diện.  Quy định mới về tên địa điểm kinh doanhNgoài ra, Điều 41 Luật 2020 cũng có quy định cụ thể với tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh gồm:– Phải được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và các ký hiệu;– Phải được viết hoặc gắn tại trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh. Trong đó, tên chi nhánh, văn phòng đại diện được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên tiếng Việt của doanh nghiệp trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu… do chi nhánh, văn phòng đại diện phát hành.Hồ sơ thành lập địa điểm kinh doanh* Thành phần hồ sơTheo Quyết định 1523/QĐ-BKHĐT, hồ sơ thành lập địa điểm kinh doanh bao gồm:– Thông báo lập địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp theo mẫu tại Phụ lục II-11 Nghị định 122/2020/NĐ-CP.– Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động theo Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc các giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương chưa thực hiện bổ sung, cập nhật thông tin đăng ký doanh nghiệp để được cấp đăng ký doanh nghiệp thay thế nội dung đăng ký kinh doanh trong Giấp phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương thì ngoài các giấy tờ nêu trên, doanh nghiệp phải nộp kèm theo:+ Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đầu tư;+ Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký thuế;+ Giấy đề nghị bổ sung, cập nhật thông tin đăng ký hoạt động đối với địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động theo giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.Lưu ý: Trường hợp không phải Chủ sở hữu hoặc Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trực tiếp đến nộp hồ sơ: người được ủy quyền phải nộp văn bản uỷ quyền kèm bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân:– Đối với công dân Việt Nam: Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực.– Đối với người nước ngoài: Hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị thay thế còn hiệu lực.* Số lượng hồ sơ: 01 bộTrình tự thủ tục lập địa điểm kinh doanhBước 1: Nộp hồ sơCó 02 cách thức để nộp hồ sơ, cụ thể:Cách 1: Nộp hồ sơ trực tiếp tại bộ phận một cửa Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt địa điểm kinh doanh hoặc chi nhánh.Cách 2: Đăng ký qua mạng tại Cổng thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp bằng chữ ký số công cộng hoặc sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh . Đối với Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phải đăng ký qua mạng.Bước 2: Tiếp nhận và giải quyết hồ sơBước 3: Nhận kết quả* Thời hạn giải quyết: 03 ngày làm việc* Lệ phí giải quyết:– 50.000 đồng/lần đối với hồ sơ nộp trực tiếp tại bộ phận một cửa Phòng Đăng ký kinh doanh.– Miễn lệ phí đối với hồ sơ đăng ký qua mạng điện tử.Trên đây là bài viết tham khảo về một số quy định mới về hộ kinh doanh từ năm 2021. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ.
Bài viết
Bảo hiểm thất nghiệp là một cơ chế quan trọng, giúp hỗ trợ người lao động trong những giai đoạn khó khăn khi họ mất việc làm. Tuy nhiên, để đảm bảo hoạt động hiệu quả và bền vững của quỹ bảo hiểm thất nghiệp, việc xác định mức đóng cũng như hiểu rõ nguồn hình thành của quỹ này là vô cùng quan trọng. Bài viết sau đây sẽ phân tích và giải đáp những thắc mắc liên quan đến mức đóng và nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, giúp người đọc có cái nhìn sâu rộng và đầy đủ hơn về vấn đề này.Bảo hiểm thất nghiệp là gì?Trong bối cảnh kinh tế phức tạp, bảo hiểm thất nghiệp trở thành một giải pháp hỗ trợ quan trọng, giúp giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho người lao động.Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ giúp bù lại một phần thu nhập cho những người mất việc, đồng thời hỗ trợ họ trong việc đào tạo nghề và tìm kiếm cơ hội làm việc mới, dựa trên việc đóng góp vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp (theo khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm 2013).Nhờ vào sự hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp, nhiều người lao động đã tìm ra cách giải quyết vấn đề việc làm, khẳng định vị thế của mình trên thị trường lao động và đóng góp vào sự ổn định và phát triển của xã hội.Mức đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp được xác định như nào?Mức đóng góp và trách nhiệm trong việc đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp (BHTN) được quy định cụ thể theo Khoản 1 Điều 57 của Luật Việc làm năm 2013. Theo đó:- Mỗi người lao động cần đóng 1% từ tiền lương hàng tháng của mình.- Người sử dụng lao động cũng phải đóng 1% từ quỹ lương hàng tháng dành cho nhân viên đang tham gia BHTN.- Nhà nước cam kết hỗ trợ thêm tối đa 1% từ quỹ lương hàng tháng cho việc đóng góp BHTN, với ngân sách được đảm bảo bởi chính phủ trung ương.Tổng cộng, mức đóng góp vào Quỹ BHTN là 3%, với 1% từ người lao động, 1% từ người sử dụng lao động, và 1% từ sự hỗ trợ của nhà nước.Quỹ BHTN hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:- Đóng góp từ người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ từ nhà nước.- Lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư của Quỹ BHTN.- Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật, bao gồm tiền lãi từ việc trễ hạn đóng góp BHTN và các khoản thu hợp pháp khác.Quỹ BHTN được sử dụng cho các mục đích sau:- Thanh toán trợ cấp thất nghiệp.- Hỗ trợ đào tạo, cập nhật kỹ năng nghề nghiệp để giữ việc làm cho người lao động.- Hỗ trợ học nghề.- Hỗ trợ tư vấn và giới thiệu việc làm.- Chi trả bảo hiểm y tế cho người nhận trợ cấp thất nghiệp.- Chi phí quản lý BHTN theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.- Đầu tư để bảo toàn và phát triển Quỹ.Phương thức đóng tiền vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp?Cách thức đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp (BHTN) diễn ra hàng tháng theo các quy định sau:- Người sử dụng lao động cần đóng góp vào BHTN theo tỷ lệ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 57 của Luật Việc làm 2013. Họ cũng cần trích một phần từ lương của nhân viên theo tỷ lệ quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 57 của cùng một luật, để đóng góp vào Quỹ BHTN.- Sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho Quỹ BHTN tuân theo nguyên tắc đảm bảo số dư quỹ hàng năm ít nhất bằng hai lần tổng chi cho các chế độ BHTN và chi phí quản lý của năm trước. Tuy nhiên, mức hỗ trợ không vượt quá 1% quỹ lương hàng tháng dành cho BHTN của những người đang tham gia. Cách thức chuyển kinh phí như sau:Vào quý IV mỗi năm, Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ dựa trên dự toán thu-chi BHTN được phê duyệt để xác định kinh phí hỗ trợ cho Quỹ BHTN của năm trước, tuân theo quy định tại Khoản 1 của Điều này. Số kinh phí này sẽ được gửi đến Bộ Tài chính để chuyển vào Quỹ BHTN một lần.Trong vòng 10 ngày làm việc kể từ khi nhận báo cáo quyết toán từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đã được Hội đồng Quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam chấp thuận, Bộ Tài chính sẽ thẩm định và quyết định kinh phí hỗ trợ cho Quỹ BHTN năm trước. Nếu kinh phí mà Bộ Tài chính đã cấp nhiều hơn số tiền cần hỗ trợ theo quy định tại Khoản 1 của Điều này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải trả lại phần chênh lệch cho ngân sách nhà nước. Ngược lại, nếu số tiền cấp ít hơn, Bộ Tài chính sẽ báo cáo cấp có thẩm quyền để phê duyệt kinh phí hỗ trợ bổ sung trong năm tiếp theo.Kinh phí hỗ trợ Quỹ BHTN đều được bảo đảm bởi ngân sách trung ương, từ nguồn chi đảm bảo xã hội đã được Quốc hội quyết định.Kết luận Mức đóng góp phải được xác định một cách hợp lý để đảm bảo quỹ có đủ kinh phí hoạt động và cùng lúc đó, không tạo áp lực tài chính quá lớn lên người lao động và người sử dụng lao động. Ngoài ra, việc hình thành quỹ từ nhiều nguồn khác nhau cần được quản lý chặt chẽ và minh bạch, điều này đòi hỏi sự phối hợp mật thiết giữa các cơ quan quản lý, người sử dụng lao động, và người lao động. Một hiểu biết đầy đủ và chi tiết về các khía cạnh này sẽ giúp người lao động cảm thấy an tâm hơn với quỹ bảo hiểm thất nghiệp, thúc đẩy sự tham gia tích cực và từ đó góp phần nâng cao chất lượng an sinh xã hội. Nếu có thắc mắc khác liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp, bạn có thể truy cập Thủ tục pháp luật để cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết. 
Bài viết
Trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước, Hội đồng thành viên đóng vai trò quan trọng, tham gia vào việc quản lý và định hình chiến lược của các tổ chức này. Hội đồng này thường bao gồm Chủ tịch và các thành viên khác, và quyền lực của họ thường được cơ quan đại diện chủ sở hữu kiểm soát thông qua việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng và kỷ luật. Những quyết định của Hội đồng thành viên có thể có tác động sâu rộng đến hoạt động kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp nhà nước.Tuy nhiên, một vấn đề nổi lên trong quá trình xem xét tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên là khả năng của những người đã từng bị kỷ luật bởi Đảng. Chúng ta hãy tìm hiểu những quy định  liên quan vấn đề này.1. Điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên doanh nghiệp nhà nước là gì?Theo Điều 93 của Luật doanh nghiệp 2020, tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên được quy định như sau:Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 của Điều 17 của Luật doanh nghiệp 2020.Phải có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động của doanh nghiệp.Không được phép có quan hệ gia đình với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu; thành viên Hội đồng thành viên; Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của công ty; Kiểm soát viên công ty.Không được phép là người quản lý của doanh nghiệp thành viên.Trừ Chủ tịch Hội đồng thành viên, các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể kiêm nhiệm vị trí Giám đốc, Tổng giám đốc của công ty đó hoặc công ty khác mà không phải là doanh nghiệp thành viên, theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu.Không được cách chức từ vị trí Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp nhà nước.Các tiêu chuẩn và điều kiện khác có thể được quy định bởi Điều lệ công ty.    Như vậy, những quy định này nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp, tính minh bạch, và tính hiệu quả trong quản lý và điều hành của doanh nghiệp. Điều quan trọng là, việc đảm bảo không có quan hệ gia đình và không từng bị cách chức từ các vị trí quan trọng trong doanh nghiệp nhà nước giúp bảo vệ tính độc lập và khách quan của quyết định của Hội đồng thành viên. Tuy nhiên, ngoài những điều kiện cơ bản này, Điều lệ công ty cũng có thể quy định thêm các tiêu chuẩn và điều kiện khác để phù hợp với đặc thù cụ thể của từng doanh nghiệp.2. Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên doanh nghiệp nhà nước bao gồm những gì?Dựa vào Điều 92 của Luật doanh nghiệp 2020, quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên được phân rõ như sau:Hội đồng thành viên, thay mặt cho công ty, thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, cổ đông, và thành viên đối với công ty, đặc biệt khi công ty đóng vai trò làm chủ sở hữu hoặc sở hữu cổ phần, phần vốn góp.Hội đồng thành viên được ủy quyền với các quyền và nghĩa vụ cụ thể sau đây:Quyết định về các vấn đề liên quan đến việc sử dụng vốn nhà nước theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước để đầu tư vào hoạt động sản xuất và kinh doanh tại công ty.Quyết định về việc thành lập, tổ chức lại, giải thể các chi nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty.Đưa ra quyết định về kế hoạch sản xuất và kinh doanh hàng năm, xác định chủ trương phát triển thị trường, tiếp thị, và công nghệ của công ty.Tổ chức và quản lý hoạt động kiểm toán nội bộ và quyết định về việc thành lập đơn vị kiểm toán nội bộ cho công ty.Thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định tại Điều lệ công ty, Luật doanh nghiệp, và các quy định pháp luật khác có liên quan. Với vai trò đại diện cho công ty và các nhóm lợi ích khác nhau như chủ sở hữu, cổ đông, và thành viên, Hội đồng thành viên đảm bảo tính hiệu quả và quản lý đúng đắn của doanh nghiệp.Hội đồng thành viên được trao quyền quyết định quan trọng về việc sử dụng vốn nhà nước, tổ chức và phát triển công ty, kế hoạch sản xuất và kinh doanh, và cả việc kiểm toán nội bộ. Điều này đòi hỏi sự chuyên nghiệp, kiến thức, và sự thận trọng trong việc ra quyết định để đảm bảo sự phát triển bền vững của công ty và sự vững mạnh của hệ thống kinh tế. Các quyền và nghĩa vụ này cũng phải tuân theo Điều lệ của công ty và các quy định pháp luật liên quan khác để đảm bảo tính phù hợp và tuân thủ của mọi hoạt động doanh nghiệp.3. Có được làm thành viên hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước khi từng bị kỷ luật đảng không?Dựa trên Điều 94 của Luật doanh nghiệp 2020, các quy định về miễn nhiệm và cách chức thành viên Hội đồng thành viên được quy định như sau:Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:Không còn đáp ứng đủ tiêu chuẩn và điều kiện được quy định tại Điều 93 của Luật doanh nghiệp 2020.Đã nộp đơn xin từ chức và được chấp thuận bằng văn bản từ cơ quan đại diện chủ sở hữu.Có quyết định về việc điều chuyển, bố trí công việc khác hoặc giải ngũ.Không đủ khả năng, trình độ để tiếp tục đảm nhận các nhiệm vụ được giao.Không đủ sức khỏe hoặc không còn đủ uy tín để giữ chức vụ thành viên Hội đồng thành viên.Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể bị cách chức trong các tình huống sau:Công ty không hoàn thành các mục tiêu và chỉ tiêu kế hoạch hàng năm, không duy trì và phát triển vốn đầu tư theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu mà không có khả năng giải trình được nguyên nhân khách quan, hoặc nếu có giải trình, nhưng không được chấp thuận bởi cơ quan đại diện chủ sở hữu.Chịu án phạt từ Tòa án và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.Thực hiện không trung thực quyền và nghĩa vụ hoặc lạm dụng địa vị và chức vụ của họ, sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác, hoặc cung cấp thông tin không trung thực về tình hình tài chính và kết quả sản xuất, kinh doanh của công ty.    Do đó, theo quy định, không có hạn chế cụ thể đối với việc trở thành thành viên Hội đồng thành viên đối với những người đã từng bị kỷ luật đảng. Tuy nhiên, cần xem xét lại Điều lệ của công ty để kiểm tra xem liệu có sự hạn chế cụ thể nào liên quan đến trường hợp này hay không. Cần lưu ý thêm rằng trong trường hợp này, những người có quá khứ kỷ luật đảng phải đáp ứng yêu cầu không từng bị cách chức từ các vị trí quan trọng như Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp nhà nước.Kết luận:  Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2020, không có hạn chế cụ thể đối với việc trở thành thành viên Hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước đối với những người đã từng bị kỷ luật đảng. Tuy nhiên, điều này có thể phụ thuộc vào Điều lệ cụ thể của công ty và yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp. Điều quan trọng là đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ quy định của pháp luật trong quá trình tuyển dụng và bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị để đảm bảo quản lý hiệu quả và bền vững của doanh nghiệp nhà nước. Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan truy cập tại thủ tục pháp luật.    
Bài viết
Đăng ký bằng cách đi tới Link TTPL.VNNhấp vào tài khoản chọn đăng kýChọn Doanh nghiệpNếu bạn là Doanh nghiệp thường Hãy chọn Doanh nghiệpNếu bạn là công ty luật hãy chọn Công ty LuậtLưu ý: khi bạn chọn sẽ xuất hiện vành vàng ở loại hình bạn chọn, nếu không chọn sẽ gây lỗiĐiền thông tin theo hướng dẫnLưu ý: Email và số điện thoại phải có thực, tránh trường hợp mất tài khoản sau nàyĐăng nhập bằng tài khoản và mật khẩu đã dùngLưu ý: bạn cũng có thể dùng Số điện thoại và mật khẩu để đăng nhậpĐăng nhập vào sử dụng phần mềm quản lý công việcBạn có thể đăng nhập ngay bằng phần Dashboard tuy nhiên nếu muốn dùng tài khoản Pro (đầy đủ quyền) Hãy sử dụng nút mua ( Miễn phí)Hãy mua gói LGZ DIAMOND - Hiện tại đang miễn phí trọn đờiNhư vậy bạn đã tạo được một công ty hoàn chỉnh cho mình, Hãy thêm nhân viên và tiếp tục hoạt động miễn phí.Hotline:Hướng dẫn kỹ thuật: 0888889225Hướng dẫn chung: 0888889366  
Bài viết
Bình Luận án lệ số 24/2018/AL:Các quy định liên quan đến Án lệ số 24/2018/AL về “di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân” có thể kể đến các quy định sau:Thứ nhất, Điều 219 Sở hữu chung của vợ chồng (Bộ luật dân sự 2005):"1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.”Thứ hai,  Điều 223. Định đoạt tài sản chung (Bộ luật dân sự 2005)"1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật3. Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác.Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.4. Trong trường hợp một trong các chủ sở hữu chung từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.”Thứ ba, Điều 226. Chấm dứt sở hữu chung (Bộ luật dân sự 2005)"Sở hữu chung chấm dứt trong các trường hợp sau đây:1. Tài sản chung đã được chia;2. Một trong số các chủ sở hữu chung được hưởng toàn bộ tài sản chung;3. Tài sản chung không còn;4. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”Án lệ này đã đưa ra những điều kiện cần và đủ để xác định trường hợp nào thì di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân. Theo đó, việc người chồng hoặc vợ còn sống cùng với các thừa kế của người chết trước thống nhất phân chia toàn bộ nhà, đất của vợ chồng là hợp pháp khi có đủ các điều kiện sau:(1) Các bên thỏa thuận thống nhất phân chia nhà, đất;(2)Thỏa thuận phân chia không vi phạm quyền lợi của bất cứ thừa kế nào, không có ai tranh chấp;(3) Việc phân chia đã được thực hiện trên thực tế và được điều chỉnh trên sổ sách giấy tờ về đất đai.Các điều kiện nêu trên chính là điều kiện đảm bảo thỏa thuận phân chia thể hiện đúng ý chí của các bên, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên theo quy định của pháp luật, phù hợp với nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong giao dịch dân sự. Về mặt thủ tục, việc chuyển dịch về quyền tài sản thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi nhận. Án lệ đã khẳng định đối với trường hợp này, nhà, đất không còn là di sản thừa kế mà đã chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của các cá nhân. Không chỉ vậy, Án lệ đã chỉ ra đường lối áp dụng thống nhất pháp luật về tố tụng, theo đó trường hợp di sản thừa kế đã chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân thì người đã nhận phân chia tài sản chỉ có quyền khởi kiện đòi lại nhà, đất được chia đang bị người khác chiếm hữu, sử dụng bất hợp pháp mà không có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế là nhà, đất. Click vào đây để xem Nội dung Án lệ số 24/2018/AL 
Bài viết
Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sựMột luật sư cần những kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự trên thực tiễn ? Phân tích một số vụ án hình sự và các vấn đề pháp lý liên quan đến thực tiễn sẽ được luật sư LegalZone tư vấn, giải đáp, trích dẫn cụ thể:Nội dung chính bài viết1. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự1. Khái niệm về hồ sơ vụ án hình sự:2. Khái niệm Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:3. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ:4. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:4.1 Kỹ năng nghiên cứu bản cáo trạng:4.2 Kỹ năng nghiên cứu bản kết luận điều tra:4.3 Kỹ năng nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can:4.4 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng:4.5 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại4.6 Kỹ năng nghiên cứu biên bản đối chất4.7 Kỹ năng nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra …4.8 Kỹ năng nghiên cứu kết luận giám định:4.9 Kỹ năng nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo và các biên bản, tài liệu khác.5. Kỹ năng chuẩn bị luận cứ bào chữa cho bị cáoMỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý:1. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sựTrong quá trình phân tích vụ việc, nghiên cứu hồ sơ vụ án là khâu quan trọng để đi đến những lập luận hợp pháp có lợi nhất. Có những phương pháp nghiên cứu khác nhau cho từng loại hồ sơ tuỳ theo lĩnh vực : hồ sơ của vụ việc hành chính, dân sự, hình sự… Tuy nhiên, điển hình và tiêu biểu nhất vẫn là kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự1. Khái niệm về hồ sơ vụ án hình sự:Hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các văn bản, tài liệu được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập hoặc lập ra trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, được sắp xếp theo một trình tự nhất định phục vụ cho việc giải quyết vụ án và lưu trữ lâu dài.Thông thường hồ sơ vụ án hình sự được sắp xếp theo một trình tự nhất định, theo nhóm tài liệu, lấy thời gian thu thập làm căn cứ để sắp xếp theo thứ tự tài liệu thu thập trước để ở trên, tài liệu thu thập sau để ở dưới, cụ thể như sau:– Các văn bản về khởi tố vụ án, khởi tố bị can– Các văn bản về thủ tục trong việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn– Các tài liệu về kết quả điều tra không thuộc lời khai của những người tham gia tố tụng– Biên bản ghi lời khai của người tham gia tố tụng– Tài liệu về nhân thân bị can– Tài liệu về nhân thân người bị hại– Các tài liệu về đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra– Tài liệu kết thúc điều tra– Tài liệu về truy tố– Tài liệu trong giai đoạn xét xử– Các tài liệu của Toà án cấp trên khi huỷ án điều tra lại hoặc xét xử lại (nếu có)Việc nghiên cứu cách sắp xếp hồ sơ vụ án cho phép Luật sư nhìn nhận một cách tổng thể các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để có phương pháp nghiên cứu khoa học, hiệu quả và trích dẫn tài liệu, bút lục có trong hồ sơ đúng và chính xác. Mặt khác, luật sư phải nhớ thứ tự sắp xếp hồ sơ vụ án để khi kết thúc việc nghiên cứu hồ sơ, bàn giao lại hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng không bị thất lạc, mất thời gian tìm lại, đồng thời học cách sắp xếp tiểu hồ sơ của mình để tiện cho việc tra cứu, trích dẫn khi thực hiện bào chữa tại phiên toà.>>>>> Số điện thoại luật sư tư vấn miễn phí2. Khái niệm Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các họat động của Luật sư: xem xét, đọc, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhằm nắm vững bản chất vụ án, diễn biến của hành vi phạm tội, qua đó xác định sự thật khách quan của vụ án. Trên cơ sở đó, luật sư xác định những vấn đề cần trao đổi, đề xuất với cơ quan tiến hành tố tụng cũng như chuẩn bị kế hoạch, xác định phương án bào chữa hoặc phương án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ Luật sư cần phải nghiên cứu hồ sơ một cách tòan diện và đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tránh tư tưởng chủ quan chỉ nghiên cứu những tài liệu mà mình cho là quan trọng, còn các tài liệu khác thì bỏ qua. Tuỳ theo hồ sơ vụ án cụ thể, Luật sư có thể nghiên cứu hồ sơ theo thứ tự thời gian diễn ra, theo trình tự tố tụng hoặc theo từng tập tài liệu liên quan đến từng người tham gia tố tụng. Yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu đầy đủ, ghi chép, lập được hệ thống chứng cứ của vụ án để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch bào chữa, đề cương bào chữa hoặc luận cứ bảo vệ quyền lợi cho đương sự.3. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ:Phương pháp nghiên cứu hồ sơ là cách thức Luật sư có thể nghiên cứu hồ sơ vụ án theo trình tự tố tụng diễn ra theo thời gian bắt đầu từ quyết định khởi tố vụ án rồi mới nghiên cứu các tài liệu xác định về về hành vi phạm tội của bị can…Người bào chữa có thể nghiên cứu hồ sơ không theo trình tự tố tụng , phương pháp này bắt đầu từ việc nghiên cứu Cáo trạng của Viện kiểm sát tiếp đến là Kết luận điều tra và các tài liệu khác. Nghiên cứu theo phương pháp này cho phép nghiên cứu hồ sơ qua đó kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của các quyết dịnh tố tụng. Mỗi phương pháp có thế mạnh khác nhau, tuỳ theo từng hồ sơ vụ án, tính chất phức tạp, số lượng bị can, bút lục có trong hồ sơ của vụ án, thời gian vật chất dành cho việc nghiên cứu, vị trí tham gia tố tụng của người được trợ giúp pháp lý, người bào chữa có thể sử dụng một trong các phương pháp hoặc kết hợp các phương pháp nghiên cứu thích hợp để đạt hiệu quả cao.4. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:4.1 Kỹ năng nghiên cứu bản cáo trạng:Luật sư nghiên cứu bản cáo trạng để hiểu nội dung của vụ án, diễn biến hành vi phạm tội của bị can, yêu cầu giải quyết bồi thườngthiệt hại (nếu có) và quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát. Khi nghiên cứu bản cáo trạng, Luật sư cần ghi chép lại đầy đủ các hành vi phạm tội của bị can; tội danh, điều khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát viện dẫn để truy tố; các chứng cứ được Viện kiểm sát dùng làm căn cứ xác định tội phạm , người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị hại, đương sự. Thông qua nghiên cứu cáo trạng, luật sư cần rút ra được những điểm quan trọng liên quan đến việc bào chữa, bảo vệ.Cùng với việc nghiên cứu cáo trạng, Luật sư cần đọc biên bản giao nhận cáo trạng để tìm hiểu xem bị can có đồng ý với nội dung bản cáo trạng hay không? nếu không đồng ý thì ý kiến của bị can như thế nào, bị can có đưa ra được những chứng cứ để bác bỏ một phần hay toàn bộ nội dung quyết định truy tố hay không? Thông thường, những bị can đồng ý với nội dung bản cáo trạng thì ra phiên toà sẽ nhận tội, ít phản cung; những bị can không chấp nhận nội dung bản cáo trạng thì sẽ không nhận tội và thường thay đổi lời khai. Trường hợp bị can không đồng ý với nội dung bản cáo trạng Luật sư cần nghiên cứu kỹ các chứng cớ để xác định sự thật của vụ án và trao đổi với họ.4.2 Kỹ năng nghiên cứu bản kết luận điều tra:Luật sư nghiên cứu bản kết luận điều tra để hiểu rõvề diễn biến của tội phạm, các chứng cứ mà cơ quan điều tra dùng để hiểu rõ về diễn biến của tội phạm , các chứng cứ mà Cơ quan điều tra dùng để chứng minh tội phạm và quan điểm, ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của Cơ quan điều tra.Trong quá trình nghiên cứu bản kết luận điều tra, Luật sư cần so sánh, đối chiếu, ghi lại những hành vi của bị cáo có nêu trong cáo trạng nhưng không được đề cập trong kết luận điều tra ; những điểm mâu thuẫn giữa bản cáo trạng và kết luận điều tra; quan điểm, ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của cơ quan điều tra có lợi cho người được trợ giúp pháp lý mà mình bào chữa, bảo vệ.4.3 Kỹ năng nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can:Khi nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can, Luật sư cần làm rõ xem bị can có nhận những hành vi nêu trong cáo trạng hay không. trường hợp bị can nhận tội thì tìm hiểu tư tưởng, động cơ, mục đích, việc thực hiện hành vi phạm tội và sự ăn năn, hối cải của bị can như thế nào? Trên cơ sở đó xác định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo như hìan cảnh phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, động cơ, muc đích phạm tội, nhân thân của bị can. Trong trường hợp bị can không nhận tội, Luật sư nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can để nắm được các lý lẽ, chứng cứ mà bị can đưa ra để bào chữa cho mình.Khi nghiên cứu các biên bản hỏi cung, Luật sư cần ghi lại theo trình tự thời gian: các hình vi bị can nhận như trong cáo trạng (có trích dẫn bút lục); hành vi nào cáo trạng nêu nhưng bị can không thừa nhận, các lý lẽ bị can đưa ra để bào chữa, chứng minh cho mình không có những hành vi đó? Hành vi nào ban đầu bị can nhận tội nhưng sau đó không thừa nhận nữa (ghi rõ tội nhận tội ở biên bản hỏi cung nào, bút lục nào?).Khi nghiên cứu các biên bản hỏi cung, Luật sư cần kiểm tra về thủ tục tố tụng: xem biên bản hỏi cung đầu tiên có ghi phần giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can hay không; biên bản hỏi cung có bị tẩy xóa, sửa chữa hay viết thêm hay không? Nếu bị sửa chữa thì có chữ ký xác nhận của bị can hay không? Trong trường hợp biên bản hỏi cung ghi cả thái độ, cử chỉ của bị can trong lúc trả lời như bị can cúi đầu, im lặng, không trả lời, lý do bị can không ký vào biên bản…thì Luật sư cần ghi lại và lưu ý làm rõ nguyên nhân, trong nhiều trường hợp những cử chỉ, hành vi này thể hiện diễn biến tâm lý, đấu tranh tư tưởng của bị can khi khai báo hoặc bị can phản ứng việc làm sai trái của Điều tra viên.4.4 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng:Luật sư nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng để hiểu rõ sự việc phạm tội xảy ra có những người nào biết, nghiên cứu những xác nhận của họ về các tình tiết của sự việc như thế nào. Trên cơ sở đó, Luật sư sử dụng lời khai của những người làm chứng để bảo vệ cho bị cáo hoặc đương sự. Khi nghiên cứu bản ghi lời khai của người làm chứng trực tiếp hay gián tiếp biết về tình tiết của vụ án; mối quan hệ của người làm chứng với bị can, bị cáo, người bị hại như thế nào? Khi người làm chứng tiếp nhận các thông tin về tội phạm thì các điều kiện chủ quan (tinh thần, tuổi tác, nghề nghiệp, khả năng tiếp thu thông tin, nhận thức của người làm chứng…) và điều kiện khách quan ( không gian , thời gian, thời tiết, ánh sáng, âm thanh..nơi xảy ra vụ án) tác động ra sao? Những tình tiết trong lời khai của người làm chứng cần được sử dụng để bảo vệ cho bị can , bị cáo (ghi rõ số bút lục). Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa các lời khai của một người làm chứng teong các lần khai khác nhau hoặc mâu thuẫn giữa các lời khai của những người làm chứng thì phải tìm ra nguyên nhân, kiểm tra tính xác thực, trong trường hợp cần thiết phải đối chiếu với các lời khai, chứng cứ khác.4.5 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hạiLuật sư nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại để nắm vững diễn biến của tội phạm, các hành vi phạm tội của bị can, bị cáo đã thực hiện như thế nào? mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, quan điểm của người bị hại hoặc nhân thân của họ về việc giải quyết vụ án và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Khi nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại, cần chú ý so sánh, đối chiếu các lời khai của người bị hãi trong các lần khác nhau xem có phù hợp hay mâu thuẫn với nhau; đối chiếu giữa lời khai của người bị hại với lời khai của bị can, bị cáo thì Luật sư cần làm rõ mâu thuẫn trong lời khai của người bị hại với thực tế khách quan và với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nếu bảo vệ cho người bị hại, Luật sư cần nghiên cứu và ghi lại những tình tiết xac định hành vi phạm tội của bị can, bị cáo và các chứng cứ xác định về việc bồi thường thiệt hại là có cơ sở.4.6 Kỹ năng nghiên cứu biên bản đối chấtTrong hồ sơ vụ án có thể có nhiều biên bản đối chất giữa các bị can, bị cáo với nhau; biên bản đối chất giữa bị can và người làm chứng…Khi tham gia tố tụng, Luật sư cần nghiên cứu các biên bản này để có cơ sở đánh giá những lời khai còn mâu thuẫn. Nếu lời khai trong biên bản đối chất có lợi cho người được trợ giúp pháp lý thì cần ghi lại để sử dụng trong quá trình bảo vệ, bào chữa.4.7 Kỹ năng nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra …Nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra… nhằm kiểm tra xem các loại biên bản này có được thực hiện theo đúng trình tự và thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định hay không như có ghi trong thành phần người tham gia, ý kiến người chứng kiến hay không; những đồ vật cần niêm phong có chữ ký của chủ quản đồ vật hay không. Đối với hoạt động điều tra, thu thập vật chứng, Luật sư cần chú ý địa điểm và cách thức thu thập vật chứng, các đặc điểm riêng của vật chứng, quá trình thu thập vật chứng. Luật sư cần so sánh vật chứng với các chứng cứ khác xem có phù hợp hay không để xác định giá trị chứng minh nguồn chứng cứ này.4.8 Kỹ năng nghiên cứu kết luận giám định:Nghiên cứu kết luận giám định nhằm kiểm tra các điều kiện để đưa ra kết luận giám định có được bảo đảm hay không (vật chứng, số lượng, chất lượng đồ vật, tài liệu gửi đi giám định, thủ tục yêu cầu giám định…); các phương pháp được áp dụng để thực hiện giám định có cơ sở khoa học hay không. Luật sư cần so sánh kết luận giám định với các chứng cứ khác của vụ án để đánh giá độ chính xác của kết luận giám định. Nếu thấy kết quả giám định không có cơ sở tin cậy (thiếu cơ sở khoa học, không phù hợp với thực tiễn khách quan…) thì ghi lại và đề nghị với Tòa án yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại.4.9 Kỹ năng nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo và các biên bản, tài liệu khác.Luật sư cần nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo để hiểu rõ về nhân thân của họ; cần ghi tóm ắtt hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống của bị can, bị cáo. Đặc biệt khi bào chữ cho bị can, bị cáo phải chú ý ghi lại những điểm về nhân thân bị can, bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt để làm cơ sở đề nghị Toà án xem xét quyết định hình phạt. trường hợp luật sư bảo vệ cho người bị hại thì cần ghi lại những đặc điểm nhân thân bất lợi cho bị cáo như bị cáo có tiền án, tiền sự, những lần vi phạm pháp luật của bị cáo…Khi tham gia tố tụng, Luật sư cần nghiên cứu các biên bản, tài liệu khác như biên bản giao nhận cáo trạng, các biên bản xác minh của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; các nhận xét và đề nghị của các cơ quan đoàn thể; các đơn từ khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng. Luật sư cần nghiên cứu kỹ các tài liệu này nhằm tìm ra những chứng cứ có lợi cho thân chủ mà mình bảo vệ, bác bỏ những điểm mâu thuẫn, bất hợp lý để đề nghị Toà án bác bỏ, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ.5. Kỹ năng chuẩn bị luận cứ bào chữa cho bị cáoDù luật sư giỏi đến đâu chăng nữa, trước khi tham dự phiên tòa đều phải chuẩn bị đề cương chi tiết bài bào chữa, trong đó đặc biệt chú ý đến luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích cho bị cáo trên cơ sở những nhận định, đánh giá, buộc tội bì cáo trong hồ sơ vụ án và các tài liệu, chứng cứ, vật chứng có liên quan đến vụ án.Kết quả bào chữa phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị bài bào chữa. Nó giúp cho người bào chữa tự tin, giữ được tâm lý chủ động trong quá trình tranh tụng và lịp thời bổ sung thêm những lậun cứ mới phát sinh trong quá trình tranh tụng. Nếu không chuẩn bị tốt bài bào chữa, Luật sư sẽ rơi vào tình thế bị động, bào chữa tản mạn, dài dòng, lập luận không logic, chặt chẽ, thậm chí dùng những thuật ngữ không chính xác, bỏ sót những tình tiết có lợi cho bị cáo hoặc đương sự, không tập trung vào vấn đề mang tính bản chất nhằm gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.Để chuẩn bị bản luận cứ bào chữa tốt thì người bào chữa phải tổng hợp các tài liệu đã có trong hồ sơ, các tài liệu thu thập được sau khi nghiên cứu hồ sơ, các tài liệu do bị cáo và thân nhân của họ cung cấp; các tài liệu thu nhập được trong quá trình gặp người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án, các tài liệu đã xuất trình với cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị họ ch6áp nhận làm chứng cứ của vụ án và các văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, Luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hình sự,…mà người bào chữa sẽ sử dụng và viện dẫn khi bào chữa.Để xây dựng được một bài bào chữa ngắn gọn, xúc tích, lập luận chặt chẽ, logic và có sức thuyết phục, Luật sư phải tập trung trí tuệ phân tích các quan điểm, nhận định, đánh giá luận cứ buộc tội của Kiểm sát viên về diễn biến vụ án, đặc điểm phạm tội, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và các luận cứ buộc tội. Trên cơ sở đó, so sánh với nhận định, đánh giá, quan điểm của mình sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét hiện trường, tài liệu, chứng cứ, vật chứng có liên quan, tìm hiểu nhân thân bị cáo và tham khảo ý kiến cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quanhoặc biết vụ việc và đưa ra luận cứ của mình.Thông thường nội dung của bài bào chữa gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.– Phần mở đầu của bài bào chữa bao giờ cũng bắt đầu từ những lời thưa gửi xã giao, lịch thiệp: “Kính thưa Hội đồng xét xử; kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, thưa các quý vị…” thể hiện sự tôn trọng với tất cả mọi người. Sau đó, người bào chữa tự giới thiệu về bản thân mình, về tổ chức chủ quản, về lý do tham gia bào chữa, bảo vệ cho thân chủ. Ví dụ: Kính thưa Hội đồng xét xử, kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát, tôi là Nguyễn Văn A, trợ giúp viên pháp lý (Luật sư là cộng tác viên) của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đà Nẵng nhận nhiệm vụ bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý là bị cáo Nguyễn Văn B tại phiên toà sơ thẩm hôm nay.Có nhiều cách để mở đầu khác nhau nhưng nhìn chung, phần mở đầu phải giới thiệu để Hội đồng xét xử, những người tham gia phiên toà biết được người bào chữa, bảo vệ là ai, lý do tham gia bào chữa và bào chữa cho ai? Yêu cầu của phần mở đầu là phải gậy được sự chú ý cho ngừơi nghe, kích thích được sự quan tâm của tất cả những người có mặt ở phiên tòa và định hướng cho họ tiếp nhận những quan điểm, ý kiến tranh luận của Luật sư. Vì vậy, phần mở đầu cần ngắn gọn, rõ ràng, khúc triết, gây chú ý cho ngườ nghe ngay từ đầu.– Phần nội dung của bài bào chữa cần tập trung phân tích những nhận định, đánh giá, luận cứ buộc tội của cáo trạng và đưa ra những chứng cứ pháp lý chứng minh sự không đầy đủ, mâu thuẫn, không phù hợp với sự thật khách quan của vụ án để phủ nhận lời cáo buộc của Viện kiểm sát và gỡ tội cho bị cáo. Trong phần này phải nêu ra được các chứng cứ, phân tích được các tình tiết có lợi cho thân chủ, phải viện dẫn các căn cứ pháp luật theo hướng có lợi cho thân chủ để từ đó chứng minh cho định hướng bào chữa của mình. Trong trường hợp có tình tiết mới Luật sư thu thập được chứng cứ gỡ tội, giảm nhẹ tội thì sử dụng để bác bỏ luận cứ buộc tội của Viện kiểm sát. Để có luận cứ gỡ tội hoặc đề nghị giảm nhẹ tội, Luật sư phải nêu lên được điều kiện (nguyên nhân phạm tội), phân tích đặc điểm nhân cách của thân chủ lúc phạm tội dẫn đến động cơ phạm tội, làm rõ nguyên nhân dẫn đến bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và cấu trúc của hành vi phạm tội. Trong nhiều trường hợp, động cơ phạm tội quyết định hình thức lỗi là tình tiết định tội, định khung hình phạt, nhưng đồng thời cũng là những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Luật sư cần chú ý đề cập đến những vấn đề trên khi nó có tác dụng gỡ tội hoặc là tình tiết giảm nhẹ tội.– Phần kết luận của bài bào chữa cần ngắn gọn và biểu cảm, trong đó khẳng định quan điểm, nhận định cuối cùng của người bào chữa với những chứng cứ pháp lý rõ ràng và đưa ra những đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm, khoản, điều của các luật tương ứng để từ đó đưa ra những kết luận có lợi cho người được trợ giúp pháp lý cũng như việc giải quyết vần đề khác của vụ án. Cuối cùng, Luật sư thể hiện sự tin tưởng vào phán quyết công minh, bình đẳng, khách quan và đúng pháp luật của Hội đồng xét xử và chân thành cảm ơn.MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý:1. Khi chuẩn bị luận cứ bào chữa, sau mỗi ý phải để khoảng trống, cách dòng để có thể bổ sung thêm được những nội dung mới phát sinh tại Toà án, tránh phải sửa chữa, tẩy xoá trong bản bào chữa. Đây là kinh nghiệm thực tiễn có nhiều tiện ích nên người bào chữa cần lưu ý.2.Bài bào chữa dù soạn thảo cẩn thận đến đâu cũng không phải là hoàn hảo nhất vì nó được chuẩn bị trên cơ sở những gì đã có trong hồ sơ vụ án và những chứng cứ, tài liệu thu thập được. Nó có thể chưa đầy đủ hoặc thừa, vô dụng khi tại phiên toà phát sinh những tình tiết mới, sự kiện mới, chứng cứ mới hoặc bên buộc tội tự rút bỏ hoặc bổ sung thêm những chứng cứ buộc tội của mình. Vì vậy, luật sư cần phải tập trung cao độ chú ý lắng nghe khi Kiểm sát viên đọc bản luận tội, và những câu hỏi, trả lời, ý kiến tranh luận của những người tham gia phiên toà để kịp thời điều chỉnh quan điểm, nhận xét, đánh giá và đưa ra luận cứ gỡ tội phù hợp;3. Khi tranh tụng tại Toà án, Luật sư nên sử dụng đề cương chi tiết của bài bào chữa mà không nên đọc bài bào chữa chuẩn bị sẵn. Như vậy sẽ giúp cho luật sư tự tin và tự nhiên hơn, tự do, thoải mái hơn mà không phụ thuộc nhiều vào bài bào chữa. Đương nhiên là Luật sư phải thuộc bài bào chữa đã được chuẩn bị.4.Trước khi tham dự phiên toà, người bào chữa phải kiểm tra bản bào chữa, bài bảo vệ bằng cách đọc lại và rà soát lại nội dung, luận cứ bào chữa, đồng thời chuẩn bị tài liệu, chứng cứ cần thiết phục vụ bào chữa. Tài liệu, chứng cứ phục vụ bào chữa phải được sắp xếp khoa học, thuận tiện cho việc sử dụng tại phiên toà bằng cách tài liệu nào cần sử dụng trước thì để lên trên, cái nào sử dụng sau thì để xuống dưới, tráng trường hợp khi cần viện dẫn thì tìm mãi không thấy.