0888889366
Danh mục
HÌNH SỰ
Nguyễn Phương Thảo
148 ngày trước
Bài viết
Sử dụng bằng tốt nghiệp giả bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?
Hiện tượng mua bán bằng đại học giả và chứng chỉ giả đã diễn ra công khai trong nhiều năm qua. Khá nhiều cá nhân đã sử dụng những bằng cấp giả này để cải thiện hồ sơ xin việc làm, xác minh trình độ học vấn của họ. Hành vi này đã thành công trong việc lừa dối các cơ quan, tổ chức và nhà tuyển dụng.1. Sử dụng bằng tốt nghiệp giả phạm tội gì? Bị xử phạt như thế nào?Dựa trên quy định của Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2017, người nào thực hiện hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan hoặc tổ chức, hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý hình sự và chịu mức hình phạt như sau:– Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.Ngoài ra, nếu vi phạm thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:– Phạm tội có tổ chức.– Phạm tội 02 lần trở lên.– Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác.– Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.– Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.– Tái phạm nguy hiểm.Trong trường hợp phạm tội thuộc các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:– Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên.– Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.– Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.Ngoài mức hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.Tóm lại, việc sử dụng bằng cấp giả là một hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử lý hình sự theo các quy định về tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức," và có thể bị phạt tù.2. Hành vi bán bằng giả bị xử phạt như nào?Trước đây, hành vi làm văn bằng chứng chỉ giả có thể bị xử phạt hành chính. Cụ thể, theo Điều 16 của Nghị định 138/2013/NĐ-CP, người thực hiện hành vi làm giả văn bằng, chứng chỉ có thể bị phạt tiền từ 20 – 40 triệu đồng và đồng thời có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm.Tuy nhiên, Chính phủ đã ban hành Nghị định 04/2021/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 10/03/2021 để thay thế Nghị định 138/2013/NĐ-CP và quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giáo dục. Nghị định này đã bãi bỏ quy định xử phạt hành chính đối với hành vi làm giả, mua bán văn bằng chứng chỉ.Theo Nghị định 04/2021/NĐ-CP, nếu thực hiện các hành vi làm giả, mua bán văn bằng chứng chỉ, người vi phạm sẽ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2017 về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.Như vậy, người thực hiện hành vi làm văn bằng, chứng chỉ giả có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức."Nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mức hình phạt tùy thuộc vào mức độ vi phạm, người làm văn bằng, chứng chỉ giả có thể bị phạt tiền đến 100 triệu đồng hoặc phạt tù đến 07 năm.Kết luậnViệc sử dụng bằng cấp giả là một hành vi rất nghiêm trọng trong xã hội và sẽ bị xử lý mạnh mẽ theo quy định của pháp luật, đồng thời có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho sự nghiệp và danh tiếng của cá nhân hoặc tổ chức liên quan. Để biết thêm chi tiết về các quy định và thủ tục pháp luật liên quan đến xử phạt hành vi sử dụng bằng giả, bạn có thể truy cập Thủ tục pháp luật để cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết. 
Nguyễn Phương Thảo
148 ngày trước
Bài viết
Hình thức xử lý với hành vi tự ý nâng khống giá thầu
Có nhiều hình thức thu lợi bất chính thông qua các hoạt động đấu thầu có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng. Một trong những hình thức phổ biến nhất là việc tự ý tăng giá thầu lên so với giá niêm yết trên thị trường trước đó. Vậy hành vi tự ý nâng khống như vậy sẽ bị xử phạt như thế nào?1. Hành vi tăng giá thầu không đúng quy định trong đấu thầu có bị cấm không?Cụ thể, theo khoản 4 Điều 16 Luật Đấu thầu 2013, việc cấm các bên tham gia đấu thầu gian lận được quy định một cách rõ ràng. Các hành vi cấm bao gồm:- Trình bày thông tin sai lệch, hoặc điều chỉnh thông tin, hồ sơ, tài liệu một cách cố ý để hưởng lợi tài chính hoặc lợi ích khác, hoặc để trốn tránh nghĩa vụ nào đó.- Cá nhân trực tiếp liên quan đến đánh giá hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất, hoặc thẩm định kết quả lựa chọn danh sách ngắn, kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư, cố ý thông báo sai hoặc cung cấp thông tin không trung thực để làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu hoặc nhà đầu tư.- Nhà thầu hoặc nhà đầu tư cố ý cung cấp thông tin không trung thực trong hồ sơ quan tâm, hồ sơ dự sơ tuyển, hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất để làm sai lệch kết quả lựa chọn nhà thầu hoặc nhà đầu tư.Do đó, hành vi cố ý tăng giá thầu không đúng quy định trong hồ sơ, tài liệu hoặc cung cấp thông tin về giá thầu có sự chênh lệch so với giá thông thường là hành vi gian lận bị cấm trong quá trình đấu thầu.2. Gói thầu sẽ bị hủy nếu phát hiện giá thầu bị nâng giáTheo Điều 1 Điều 123 Nghị định 63/2014/NĐ-CP, việc hủy thầu là biện pháp được áp dụng bởi những người có thẩm quyền, chủ đầu tư, và bên mời thầu để giải quyết các vi phạm liên quan đến pháp luật đấu thầu và các quy định khác của pháp luật có liên quan đối với các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động đấu thầu.Các trường hợp hủy thầu, theo quy định tại Điều 17 Luật Đấu thầu 2013, bao gồm:- Khi tất cả hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất không đáp ứng được các yêu cầu được quy định trong hồ sơ mời thầu hoặc hồ sơ yêu cầu.- Khi có sự thay đổi về mục tiêu hoặc phạm vi đầu tư so với những gì đã được ghi trong hồ sơ mời thầu hoặc hồ sơ yêu cầu.- Khi hồ sơ mời thầu hoặc hồ sơ yêu cầu không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về đấu thầu hoặc các quy định khác của pháp luật có liên quan, và điều này dẫn đến việc chọn nhà thầu hoặc nhà đầu tư không đáp ứng được các yêu cầu cần thiết để thực hiện gói thầu hoặc dự án.- Khi có bằng chứng cho thấy việc trao đổi, truyền đạt, môi giới hối lộ, thông thầu, gian lận, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để can thiệp trái pháp luật vào quá trình đấu thầu, dẫn đến sai lệch trong việc lựa chọn nhà thầu hoặc nhà đầu tư.3. Mức phạt tiền đối với hành vi nâng khống giá thầuTheo Điều 37 Nghị định 122/2021/NĐ-CP, các hành vi vi phạm các quy định cấm trong đấu thầu sẽ bị phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 300 triệu đồng, trừ khi được coi là tội phạm theo quy định tại Điều 222 của Bộ luật Hình sự 2015. Các hành vi này bao gồm:- Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đấu thầu.- Thông thầu.- Gian lận trong đấu thầu.- Cản trở hoạt động đấu thầu.- Vi phạm quy định của pháp luật về bảo đảm công bằng và minh bạch trong hoạt động đấu thầu.- Tổ chức lựa chọn nhà thầu khi nguồn vốn cho gói thầu chưa được xác định, dẫn đến nợ đọng vốn của nhà thầu.- Chuyển nhượng thầu trái phép.Do đó, hành vi nâng khống giá thầu, nếu được xem xét là một hình thức gian lận trong thông tin giá thầu, có thể bị áp dụng mức phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 300 triệu đồng.4. Trường hợp đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.Theo quy định của Điều 222 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (được bổ sung bởi Bộ Luật Hình sự năm 2017), vi phạm các quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng sẽ chịu hình phạt như sau:- Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây và gây ra thiệt hại từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng, hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này và tiếp tục vi phạm, sẽ bị xử phạt cải tạo không giam giữ trong khoảng thời gian từ 01 đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 đến 05 năm. Các hành vi bao gồm can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đấu thầu, thông thầu, gian lận trong đấu thầu, cản trở hoạt động đấu thầu, vi phạm quy định về bảo đảm công bằng và minh bạch trong hoạt động đấu thầu, tổ chức lựa chọn nhà thầu khi nguồn vốn cho gói thầu chưa được xác định dẫn đến nợ đọng vốn của nhà thầu, và chuyển nhượng thầu trái phép.- Người vi phạm có thể bị phạt tù từ 03 đến 12 năm trong các trường hợp sau: vì lợi ích cá nhân, vi phạm có tổ chức, lợi dụng chức vụ và quyền hạn, sử dụng thủ đoạn tinh vi hoặc xảo quyệt, gây thiệt hại từ 300 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng.- Trong trường hợp gây thiệt hại từ 01 tỷ đồng trở lên, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 10 đến 20 năm.- Ngoài hình phạt hình sự, người vi phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc cụ thể trong thời gian từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.Tóm lại, việc nâng giá đấu thầu là hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực đấu thầu, và hậu quả nghiêm trọng có thể dẫn đến hình phạt tù lên đến 20 năm.Kết luận Việc tự ý nâng giá thầu là một hành vi gian lận trong đấu thầu bị cấm và sẽ chịu mức phạt tiền nếu bị phát hiện. Điều này nhằm đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong quá trình đấu thầu và bảo vệ quyền lợi của tất cả các bên tham gia. Để biết thêm chi tiết về các quy định và thủ tục pháp luật liên quan đến hình thức xử phạt khi nâng khống giá gói thầu, bạn có thể truy cập Thủ tục pháp luật để cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết. 
Nguyễn Phương Thảo
148 ngày trước
Bài viết
Nạo phá thai có vi phạm pháp luật không?
Việc thực hiện nạo phá thai không chỉ có tác động đến sức khỏe về mặt thể chất mà còn ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe tâm thần của phụ nữ. Tại Việt Nam, tình trạng nạo phá thai đang trở nên đáng lo ngại. Vậy hành vi nạo phá thai có vi phạm pháp luật hay không? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.Được phép nạo phá thai trong trường hợp nào?Phá thai là việc kết thúc thai kỳ sớm thông qua việc sử dụng thuốc hoặc phẫu thuật để loại bỏ phôi thai hoặc bào thai cùng với nhau thai ra khỏi tử cung. Theo hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, được ban hành kèm theo Quyết định 4128/QĐ-BYT năm 2020, quy định rằng việc nạo phá thai chỉ được thực hiện cho thai kỳ đến tuần thứ 22.Các phương pháp nạo phá thai từ tuần thứ 13 đến hết tuần thứ 22 bao gồm:- Phá thai bằng thuốc: Áp dụng cho thai từ tuần thứ 13 đến hết tuần thứ 22.- Phương pháp nong và gắp (không khuyến khích): Sử dụng bơm hút chân không và kẹp gắp thai sau khi cổ tử cung đã được chuẩn bị bằng misoprostol, được áp dụng cho thai từ tuần thứ 13 đến hết tuần thứ 18.Nên lưu ý rằng không có văn bản nào cấm hoàn toàn việc nạo phá thai.Theo quy định của Khoản 1 Điều 44 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, phụ nữ có quyền nạo thai hoặc phá thai theo nguyện vọng của mình và được khám bệnh, chữa bệnh phụ khoa. Họ cũng được quyền theo dõi sức khỏe trong thời kỳ mang thai và được phục vụ y tế khi sinh con tại các cơ sở y tế. Điều này bảo đảm quyền của phụ nữ trong việc quyết định về sức khỏe sinh sản của họ.Hành vi nạo phá thai trái phép có bị xử phạt không?Hành vi nạo phá thai với mục đích lựa chọn giới tính sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 100 của Nghị định 117/2020/NĐ-CP với các mức phạt như sau:– Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính của người mang thai mà không bị ép buộc phải loại bỏ thai nhi.– Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi dụ dỗ, lôi kéo người mang thai loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.– Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đe dọa dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần để ép buộc người mang thai loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.– Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với hành vi dùng vũ lực để ép buộc người mang thai phải loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.– Phạt tiền từ 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:Cung cấp hóa chất, thuốc để loại bỏ thai nhi mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.Chỉ định hoặc hướng dẫn sử dụng hóa chất, thuốc hoặc các biện pháp khác để loại bỏ thai nhi mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.– Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi phá thai mà biết rõ người đang mang thai muốn loại bỏ thai nhi vì lý do lựa chọn giới tính.Ngoài các mức phạt tiền, hình thức xử phạt bổ sung bao gồm tước quyền sử dụng giấy phép hoạt động, chứng chỉ hành nghề trong khoảng thời gian từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi quy định tại khoản 5 của Điều này, từ 06 tháng đến 12 tháng đối với hành vi quy định tại khoản 6, và tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược hoặc đình chỉ hoạt động kinh doanh đối với cơ sở có hoạt động dược không vì mục đích thương mại trong khoảng thời gian từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi quy định tại điểm a của khoản 5.Nạo phá thai trái phép có bị đi tù không?Hiện nay, pháp luật hình sự chỉ xem xét trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi nạo phá thai trái phép cho người khác, không quy định việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người mẹ thực hiện phá thai. Căn cứ vào Điều 316 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi Khoản 118 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017), xử phạt hình sự đối với người thực hiện phá thai trái phép cho người khác như sau:1. Người nào thực hiện việc phá thai trái phép cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ trong khoảng thời gian từ 01 đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 đến 03 năm:  - Làm chết người;  - Gây tổn hại cho sức khỏe của 1 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể đạt 61% trở lên;  - Gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của họ từ 61% đến 121%;  - Đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, sẽ bị phạt tù từ 03 đến 07 năm:  - Làm chết 2 người;  - Gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của họ từ 122% đến 200%.3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, sẽ bị phạt tù từ 07 đến 15 năm:  - Làm chết 3 người trở lên;  - Gây tổn hại cho sức khỏe của 3 người trở lên, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của họ từ 201% trở lên.4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong khoảng thời gian từ 01 đến 05 năm.Do đó, hành vi nạo phá thai trái phép cho người khác có thể bị phạt tù lên đến 07 năm và còn có thể bị phạt tiền và cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định trong khoảng thời gian từ 01 đến 05 năm.Kết luận Việc nạo phá thai cần tuân theo quy định của pháp luật và chỉ được thực hiện trong các trường hợp cụ thể. Hành vi nạo phá thai trái phép cho người khác có thể bị xử phạt hành chính, trong khi người mẹ không bị xử phạt hình sự dựa trên pháp luật hình sự hiện hành. Để biết thêm chi tiết về các quy định và thủ tục pháp luật liên quan đến nạo phá thai, bạn có thể truy cập Thủ tục pháp luật để cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết. 
Nguyễn Phương Thảo
149 ngày trước
Bài viết
Hình phạt tịch thu tài sản và những nguyên tắc áp dụng hình phạt
Tịch thu tài sản là một biện pháp trừng phạt bổ sung, kèm theo hình phạt chính, được áp dụng đối với người phạm tội. Điều này bao gồm việc tước đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản mà người bị kết án sở hữu, đưa vào quỹ của nhà nước. (Theo Điểm đ Khoản 2 của Điều 32 trong Bộ Luật Hình Sự năm 2015).1. Tịch thu tài sản là gì?Thuật ngữ "tịch thu tài sản" được định nghĩa trong Điều 45 của Bộ Luật Hình sự năm 2015. Nó có thể được hiểu như việc tước đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản mà người bị kết án sở hữu, và đưa vào ngân sách của nhà nước.2. Mục đích của việc tịch thu tài sảnHình phạt tịch thu tài sản không chỉ nhằm vào việc xử lý người hoặc tổ chức vi phạm pháp luật, mà còn có mục tiêu lớn hơn là giáo dục và ngăn chặn họ khỏi việc tái phạm. Điều này được quy định tại Điều 31 Bộ Luật Hình sự năm 2015.Cụ thể, hình phạt này đặt ra những mục đích sau:- Loại bỏ khả năng tài chính của người vi phạm để họ không thể sử dụng tài sản này để tiếp tục thực hiện các hành vi phạm tội hoặc để thu hồi hoàn toàn các lợi ích bất chính mà họ thu được thông qua việc phạm tội.- Đồng thời, tịch thu tài sản cũng có mục đích giáo dục và cảnh báo đối với cộng đồng. Nó nhắc nhở những người khác, cả cá nhân và tổ chức, phải tuân thủ luật pháp và quy tắc cuộc sống, và ngăn chặn họ khỏi việc phạm tội. Điều này có tác động tích cực đến việc phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, đảm bảo an ninh và trật tự xã hội.3. Nguyên tắc áp dụng hình phạt tịch thu tài sảnKhi quyết định áp dụng hình phạt tịch thu tài sản, Tòa án phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:- Hình phạt tịch thu tài sản phải luôn được áp dụng kèm với một hình phạt chính thức.- Hình phạt tịch thu tài sản chỉ có thể áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên theo quy định tại khoản 6 của Điều 91 của Bộ Luật Hình sự năm 2015.- Hình phạt tịch thu tài sản được áp dụng đối với các loại tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ Luật Hình sự năm 2015.- Hình phạt tịch thu tài sản chỉ áp dụng đối với tài sản bất chính thuộc sở hữu của người bị kết án. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của nhiều chủ sở hữu và trong đó có người bị kết án, thì chỉ tịch thu phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người phạm tội.- Quyết định về mức độ tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản của người bị kết án phụ thuộc vào tính chất của tội phạm cụ thể trong từng vụ án.- Trong trường hợp tịch thu toàn bộ tài sản của người bị kết án, vẫn phải đảm bảo điều kiện sống cơ bản cho họ và gia đình.4. Tịch thu tài sản có thể áp dụng đối với loại tội phạm nào?Theo Điều 45 của Bộ Luật Hình sự năm 2015, hình phạt tịch thu tài sản có thể áp dụng cho các loại tội phạm sau đây:- Tội phạm nghiêm trọng: Đây là loại tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội lớn, với mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ Luật Hình sự quy định cho tội phạm này từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù.- Tội phạm rất nghiêm trọng: Đây là loại tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm rất lớn đối với xã hội, với mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ Luật Hình sự quy định cho tội phạm này từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù.- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: Đây là loại tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội đặc biệt lớn, với mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ Luật Hình sự quy định cho tội phạm này từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.Tịch thu tài sản có thể áp dụng đối với các loại tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm ma túy, và các loại tội phạm khác do Bộ Luật Hình sự quy định.Kết luận Trong bài viết này, chúng ta đã tìm hiểu về tịch thu tài sản, một biện pháp trừng phạt bổ sung áp dụng đối với người phạm tội. Tịch thu tài sản là việc tước đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án, đưa vào ngân sách nhà nước, nhằm đạt được mục tiêu không chỉ trong việc xử lý người vi phạm mà còn trong việc giáo dục và ngăn chặn tội phạm. Để biết thêm chi tiết về các quy định và thủ tục pháp luật liên quan đến hình phạt tịch thu tài sản, bạn có thể truy cập Thủ tục pháp luật để cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết. 
Nguyễn Phương Thảo
153 ngày trước
Bài viết
Mức xử phạt vi phạm quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm
Đăng ký giao dịch bảo đảm đã trở thành một khái niệm phổ biến trong đời sống hiện nay. Sự hiểu biết về vấn đề này có thể đòi hỏi sự tìm hiểu về nhiều khía cạnh khác nhau, bao gồm cả quy định về mức xử phạt cho việc vi phạm trong việc đăng ký giao dịch bảo đảm. Vậy mức xử phạt vi phạm quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm được quy định như thế nào? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây.1. Đăng ký giao dịch bảo đảm là gì?Theo quy định của Điều 3 Nghị định 99/2022/NĐ-CP về đăng ký biện pháp bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm là quá trình mà cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm thực hiện việc ghi chép thông tin tương quan vào Sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc lưu trữ dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm. Mục đích chính của việc này là để theo dõi việc bên bảo đảm sử dụng tài sản như một biện pháp bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm.2. Mức phạt vi phạm quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm?Mức xử phạt đối với việc vi phạm quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm được quy định trong Điều 54 của Nghị định 82/2020/NĐ-CP, liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực sau: bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, và hợp tác xã. Cụ thể như sau:  - Hành vi tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy chứng nhận hoặc văn bản chứng nhận khác, văn bản cung cấp thông tin do cơ quan đăng ký cấp hoặc phiếu yêu cầu đăng ký có chứng nhận của cơ quan đăng ký, sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.  - Hành vi giả mạo chữ ký của người yêu cầu đăng ký trong phiếu yêu cầu đăng ký hoặc chữ ký trong văn bản thông báo về việc kê biên hoặc giải tỏa kê biên tài sản để thi hành án dân sự sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.  - Ngoài các khoản xử phạt nêu trên, còn có các biện pháp xử phạt bổ sung đối với hành vi vi phạm quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm. Cụ thể là, có thể tịch thu tang vật như giấy chứng nhận hoặc văn bản chứng nhận khác, văn bản cung cấp thông tin do cơ quan đăng ký cấp, phiếu yêu cầu đăng ký có chứng nhận của cơ quan đăng ký, bị tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung đối với hành vi vi phạm quy định này.3. Mức phạt đối với hành vi vi phạm quy định về khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu hoặc sổ đăng ký về biện pháp bảo đảm?Mức xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về đăng ký biện pháp bảo đảm được quy định trong Điều 55 của Nghị định 82/2020/NĐ-CP, liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực sau: bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, và hợp tác xã. Cụ thể như sau:– Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:Hành vi khai thác, sử dụng trái phép, làm sai lệch thông tin trong hồ sơ đăng ký biện pháp bảo đảm; hủy hoại giấy tờ, văn bản về đăng ký biện pháp bảo đảm.Hành vi xâm nhập trái phép, sửa đổi, xóa bỏ thông tin đăng ký trong cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm.Hành vi phát tán chương trình phần mềm gây rối loạn, thay đổi, hoặc phá hoại hệ thống đăng ký trực tuyến về biện pháp bảo đảm, hoặc có các hành vi khác nhằm phá hoại hạ tầng công nghệ của hệ thống đăng ký trực tuyến về biện pháp bảo đảm.Hành vi gian lận, mạo nhận, chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép tài khoản đăng ký trực tuyến của cá nhân, tổ chức để thực hiện hành vi vi phạm quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm.  - Ngoài các khoản xử phạt nêu trên, pháp luật còn đưa ra một số hình phạt bổ sung đối với hành vi vi phạm quy định về khai thác thông tin trong cơ sở dữ liệu hoặc sổ đăng ký về biện pháp bảo đảm, bao gồm việc tịch thu tang vật và các phương tiện vi phạm hành chính liên quan đến hành vi vi phạm này.Kết luận Đăng ký giao dịch bảo giúp quản lý và theo dõi việc sử dụng tài sản như một biện pháp bảo đảm trong thực hiện nghĩa vụ dân sự. Mức xử phạt cho việc vi phạm quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm được quy định trong Nghị định 82/2020/NĐ-CP và liên quan đến các lĩnh vực như bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, và hợp tác xã.Để biết thêm chi tiết về các quy định và thủ tục pháp luật liên quan đến giao dịch bảo đảm, bạn có thể truy cập Thủ tục pháp luật để cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết. 
Nguyễn Phương Thảo
160 ngày trước
Bài viết
Mức phạt Thừa phát lại lập vi bằng để chuyển quyền sử dụng đất
Việc xác minh giá trị pháp lý của các sự kiện và hoạt động dựa trên vi bằng là quá trình quan trọng trong hệ thống pháp luật. Dưới đây là sự mô tả lại và ghi nhận về việc Thừa phát lại và vi bằng trong quá trình này:Thừa phát lại là quá trình mô tả và ghi nhận hành vi, sự kiện, hoặc quy trình mà Thừa phát lại chứng kiến một cách trung thực và khách quan. Thừa phát lại không can thiệp vào tính hợp pháp của các sự kiện hoặc hành vi đó, mà chỉ tập trung vào việc chứng kiến và ghi lại những gì đã xảy ra trong thực tế. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp chứng cứ và thông tin chính xác liên quan đến các sự kiện, hoạt động hoặc tranh chấp pháp lý.Vi bằng  là bằng chứng ghi nhận một sự kiện hoặc hoạt động đã xảy ra, thường được đưa ra trong quá trình xác minh và giải quyết các vụ án hoặc tranh chấp pháp lý. Tuy nhiên, vi bằng không phán đoán về tính hợp pháp của các sự kiện hoặc hành vi. Thay vào đó, nó là tài liệu hoặc thông tin ghi nhận một cách khách quan, dựa trên sự thật và chứng kiến của những người liên quan.Tóm lại, Thừa phát lại và vi bằng là hai khái niệm quan trọng trong việc xác minh sự thật và giá trị pháp lý của các sự kiện và hoạt động. Thừa phát lại đóng vai trò là người chứng kiến trung thực và khách quan, trong khi vi bằng là tài liệu hoặc thông tin ghi nhận sự kiện thực tế. Vi bằng không đánh giá tính hợp pháp, mà chỉ cung cấp thông tin cơ bản cho quá trình xác minh và giải quyết các vụ án hoặc tranh chấp.Giá trị pháp lý của vi bằngKhông Thay Thế được Văn Bản Công Chứng và Chứng Thực: Theo khoản 2 Điều 36 Nghị định 08/2020/NĐ-CP, vi bằng không thể thay thế hoàn toàn cho văn bản công chứng, văn bản chứng thực, hoặc văn bản hành chính khác. Điều này có nghĩa rằng trong những trường hợp cần sự chứng thực, văn bản chính thức vẫn là yếu tố quan trọng.Bằng Chứng trong Quá Trình Giải Quyết Vụ Việc Dân Sự và Hành Chính: Vi bằng có giá trị pháp lý và được coi là một trong những bằng chứng quan trọng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự và hành chính theo quy định của pháp luật. Tòa án và các cơ quan hành chính sử dụng vi bằng như một nguồn chứng cứ để đưa ra quyết định và giải quyết tranh chấp.Xác Lập Giao Dịch và Quyền Lợi: Vi bằng cũng được sử dụng để xác lập giao dịch và quyền lợi giữa các cơ quan, cá nhân, và tổ chức theo quy định của pháp luật. Nó có thể là căn cứ để thể hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong giao dịch và các hoạt động pháp lý khác.Tóm lại, vi bằng không phải là một tài liệu thay thế hoàn toàn cho văn bản chứng thực và công chứng, nhưng nó có giá trị pháp lý riêng biệt và quan trọng trong việc giải quyết các vụ việc dân sự và hành chính, cũng như xác lập các giao dịch và quyền lợi dưới sự giám sát của pháp luật.Việc Lập Vi Bằng để Mua Bán Nhà Đất Có Vi Phạm Quy Định Không ?Hiện nay, quy định về phương thức mua bán bất động sản không có sự đề cập cụ thể đối với việc lập vi bằng trong quá trình giao dịch bất động sản. Thực tế, các hành vi mua bán đất thông qua vi bằng là hành vi bị cấm.Theo quy định tại Điều 37 của Nghị định 08/2020/NĐ-CP, thừa phát lại không được lập vi bằng để mua bán nhà đất. Giao dịch đất đai thuộc trường hợp phải công chứng, chứng thực theo quy định tại Khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013.Về Nội Dung của Vi BằngVi bằng do thừa phát lại lập ra chỉ đơn thuần ghi nhận sự kiện, hành vi mà thừa phát lại đã chứng kiến trực tiếp. Nó không chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng hoặc giao dịch. Thừa phát lại không có thẩm quyền để lập vi bằng đối với các sự kiện hoặc hành vi thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp.Khi lập vi bằng, thừa phát lại có trách nhiệm giải thích cho người yêu cầu lập vi bằng hiểu rõ các quy định pháp luật về vi bằng và giá trị pháp lý của vi bằng.Hình Phạt Cho Hành Vi Lập Vi Bằng Mua Bán Nhà ĐấtThừa phát lại lập vi bằng để mua bán nhà đất, cụ thể là lập vi bằng để ghi nhận sự kiện, hành vi để chuyển quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu tài sản mà không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu theo quy định của pháp luật có thể bị xử phạt. Tại điểm e Khoản 4 Điều 32 trong Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định rằng hành vi này có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 15 triệu. Điểm b khoản 8 Điều 32 cũng quy định về mức phạt bổ sung, theo đó đối với người vi phạm hành vi này sẽ bị tước quyền sử dụng thẻ thừa phát lại từ 06 tháng đến 09 tháng.Thẩm Quyền Xử PhạtTheo Điều 83 và 84 của Nghị định 82/2020/NĐ-CP, cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử phạt hành vi lập vi bằng để ghi nhận sự kiện, hành vi để chuyển quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu tài sản mà không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu theo quy định của pháp luật bao gồm:Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.Chánh Thanh tra Sở Tư pháp.Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Sở Tư pháp.Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Cục Bổ trợ tư pháp.Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực.Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành Bộ Tư pháp.Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp.Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp.Vì vậy, việc lập vi bằng để mua bán nhà đất là vi phạm quy định của pháp luật. Việc lập vi bằng chỉ được thực hiện trong một số trường hợp cụ thể như ghi nhận sự kiện đặt cọc, ghi nhận sự kiện giao nhận tiền, hoặc ghi nhận sự kiện bàn giao nhà và đất. Tuy nhiên, lưu ý rằng việc này vẫn cần tuân thủ các quy định pháp luật và không đủ điều kiện để được cấp sổ đỏ.          
Đặng Kim Nhàn
173 ngày trước
Bài viết
Có được miễn trách nhiệm hình sự cho người mắc bệnh hiểm nghèo?
Miễn trách nhiệm hình sự là một khía cạnh quan trọng của Bộ luật Hình sự, nhằm bảo vệ quyền lợi của những người đã phạm tội nhưng có các yếu tố như hành động hối cải, ngăn chặn kịp thời hậu quả tội phạm, hoặc có thể bị ảnh hưởng bởi thể trạng hoặc năng lực hạn chế so với người thường. Trong các trường hợp như vậy, Nhà nước thường xem xét việc miễn trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, câu hỏi nảy ra là liệu người mắc bệnh hiểm nghèo cũng có được xem xét miễn trách nhiệm hình sự hay không? 1. Những loại bệnh nào được xem là bệnh hiểm nghèo?Danh sách các loại bệnh được xem xét miễn trách nhiệm hình sự vẫn chưa được Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định cụ thể. Tuy nhiên, trong một số tài liệu pháp luật khác, đã có sự liệt kê về vấn đề này, như ví dụ là Danh mục các loại bệnh hiểm nghèo được công bố trong Công văn 6383/BTC-TCT năm 2015, ghi chép tổng cộng 42 loại bệnh, trong đó có: Ung thưNhồi máu cơ tim lần đầuPhẫu thuật động mạch vànhPhẫu thuật thay van timPhẫu thuật động mạch chủĐột quỵHôn mêBệnh xơ cứng rải rácBệnh xơ cứng cột bên teo cơBệnh ParkinsonViêm màng não do vi khuẩnViêm não nặngU não lành tínhLoạn dưỡng cơ. Bại hành tủy tiến triểnTeo cơ tiến triểnViêm đa khớp dạng thấp nặngHoại thư do nhiễm liên cầu khuẩn tan huyếtThiếu máu bất sảnLiệt hai chiMù hai mắtMất hai chiMất thính lựcMất khả năng phát âmThương tật toàn bộ và vĩnh viễnSuy thậnBệnh nang tủy thậnViêm tụy mãn tính tái phátSuy ganBệnh Lupus ban đỏGhép cơ quan (ghép tim, ghép gan, ghép thận)Bệnh lao phổi tiến triểnBỏng nặngBệnh cơ timBệnh Alzheimer hay sa sút trí tuệTăng áp lực động mạch phổiBệnh rối loạn dẫn truyền thần kinh vận độngChấn thương sọ não nặngBệnh chân voiNhiễm HIV do nghề nghiệpGhép tủyBại liệt    Danh sách 42 loại bệnh trong danh mục này đề cập đến một loạt các tình trạng sức khỏe, từ các bệnh mãn tính đến các chấn thương nặng nề và các bệnh hiểm nghèo khác. Việc liệt kê những loại bệnh này là một nỗ lực để đảm bảo rằng những người bị ảnh hưởng bởi các tình trạng sức khỏe đặc biệt này có cơ hội hợp pháp được xem xét miễn trách nhiệm hình sự, trong tình thế mà họ thường gặp khó khăn trong việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý. 2.  Giảm hình phạt cho người mắc bệnh hiểm nghèo trong quá trình thi hành án phạt tù trong trường hợp nào?Trong quá trình thi hành án phạt tù, nếu phạm nhân bị mắc phải một số tình trạng bệnh được xác định là bệnh hiểm nghèo, theo quy định tại Khoản 4, Điều 4 của Thông tư liên tịch số 02/2013/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC, các tình trạng sau đây sẽ được xem xét giảm hình phạt tù:Bệnh ung thư giai đoạn cuối.Tình trạng liệt.Bệnh lao nặng không phản ứng được với thuốc điều trị.Xơ gan cổ chướng.Suy tim độ III trở lên.Suy thận độ IV trở lên.Nhiễm HIV và đã chuyển sang giai đoạn AIDS, đồng thời có nhiễm trùng cơ hội.Không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu.Mắc các bệnh khác mà Hội đồng giám định y khoa, bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên kết luận là bệnh hiểm nghèo và có nguy cơ đe dọa tính mạng.    Quy định này nhằm đảm bảo tính nhân đạo và công bằng trong việc thi hành án phạt tù đối với những người mắc bệnh hiểm nghèo, giúp họ có cơ hội được xem xét giảm hình phạt và được điều trị và chăm sóc tốt hơn trong quá trình thụ án.3.Có được miễn trách nhiệm hình sự cho người mắc bệnh hiểm nghèo?Cụ thể, theo Khoản 2 của Điều 29 trong Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi bởi Bộ luật Hình sự 2017), quy định về miễn trách nhiệm hình sự đề cập đến việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho người phạm tội "nếu trong quá trình tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, có sự thay đổi trong tình hình khiến cho hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn tạo ra nguy hiểm cho xã hội nữa."Theo quy định này, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự trong các trường hợp sau:Khi tiến hành điều tra, truy tố, hoặc xét xử, xảy ra sự thay đổi trong tình hình khiến cho người phạm tội không còn tiềm ẩn nguy hiểm cho xã hội nữa.Khi tiến hành điều tra, truy tố, hoặc xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến việc họ không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội.Trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện, người phạm tội tự thú và cung cấp thông tin rõ ràng về tội ác, đóng góp một cách tích cực vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng giảm thiểu hậu quả của tội phạm đến mức thấp nhất, và có công lớn hoặc cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội công nhận.Vì vậy, người bị mắc bệnh hiểm nghèo có thể được xem xét miễn trách nhiệm hình sự nếu bệnh của họ dẫn đến việc họ không còn tiềm ẩn nguy hiểm cho xã hội nữa.    Quy định cho phép miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội nếu có những thay đổi trong tình hình khiến cho họ không còn nguy hiểm cho xã hội. Điều này bao gồm những trường hợp nếu họ mắc phải bệnh hiểm nghèo, khiến cho khả năng gây nguy hiểm giảm đi đáng kể. Ngoài ra, quy định cũng xem xét việc miễn trách nhiệm hình sự cho những người tự thú và hỗ trợ trong việc phát hiện và giảm thiểu hậu quả của tội ác.Kết Luận: Mặc dù không có hướng dẫn cụ thể về định nghĩa bệnh hiểm nghèo nhưng có thể dựa vào danh sách 42 loại bệnh để đánh giá xem người mắc bệnh có tiếp tục mang nguy cơ đối với xã hội hay không để quyết định việc miễn trách nhiệm hình sự. Trong khi việc miễn trách nhiệm hình sự cho người mắc bệnh hiểm nghèo có thể dẫn đến các tranh luận phức tạp về tư tưởng và quyền lợi, điều quan trọng là phải xem xét từng trường hợp cụ thể và tìm kiếm giải pháp cân đối. Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan truy cập tại thủ tục pháp luật.
Phạm Linh Chi
191 ngày trước
Bài viết
Khái niệm, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan Cảnh sát điều tra
1. Khái niệm, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan Cảnh sát điều tra1.1. Khái niệm, vị trí pháp lý tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều traKhái niệm Cơ quan Cảnh sát điều traQuá trình giải quyết vụ án hình sự ở nước ta được chia thành các giai đoạn: Giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án. Trong đó, giai đoạn khởi tố và điều tra vụ án hình sự được giao cho Cơ quan điều tra.Để xác định những nội dung liên quan đến Cơ quan CSĐT thì cần làm rõ một số vấn đề sau:Một là, Khoản 1 Điều 33 Bộ luật TTHS quy định: Các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án.Theo Pháp lệnh tổ chức ĐTHS thì CQĐT gồm có: Cơ quan điều tra trong CAND, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, CQĐT ở VKSND tối cao. Đối với Cơ quan điều tra trong CAND gồm có: Cơ quan An ninh điều tra và Cơ quan CSĐT.Như vậy, về địa vị pháp lý thì Cơ quan CSĐT là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng được quy định trong Luật TTHS.Hai là, Điều 1 Pháp lệnh tổ chức ĐTHS quy định, trong CAND có các CQĐT sau:Cơ quan CSĐT Bộ Công an; Cơ quan CSĐT CA tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Cơ quan CSĐT CA cấp tỉnh); Cơ quan CSĐT CA huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Cơ quan CSĐT CA cấp huyện);Cơ quan An ninh điều tra BCA; Cơ quan An ninh điều tra CA tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Cơ quan An ninh điều tra CA cấp tỉnh).Như vậy, về vị trí thì Cơ quan CSĐT là một trong những CQĐT trong CAND và trong tổ chức của Cơ quan CSĐT gồm có: Cơ quan CSĐT Bộ Công an; Cơ quan CSĐT Công an tỉnh và Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện.Ba là, theo Điều 3 Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 2004 quy định: Cơ quan điều tra tiến hành điều tra tất cả tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật TTHS quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Như vậy, cũng như các CQĐT khác, Cơ quan CSĐT được pháp luật TTHS xác định vị trí pháp lý là Cơ quan tiến hành tố tụng, là cơ quan đầu tiên tiếp cận thông tin về tội phạm. Do đó Cơ quan CSĐT có nhiệm vụ thực hiện những biện pháp theo quy định của pháp luật để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và những vấn đề cần phải chứng minh khác trong một vụ án hình sự.Bốn là, pháp luật TTHS (Luật TTHS và các văn bản hướng dẫn thi hành như pháp lệnh tổ chức ĐTHS, Thông tư 28/2014/TT-BCA…) quy định rõ về thẩm quyền điều tra theo từng cấp tổ chức của Cơ quan CSĐT. Theo đó, Cơ quan CSĐT Công an các cấp huyện tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XII đến Chương XXII của Bộ luật hình sự năm 1999 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp huyện (trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT của VKSND tối cao và Cơ quan An ninh điều tra trong CAND); Cơ quan CSĐT CA cấp tỉnh tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định từ Chương XII đến Chương XXII của Bộ luật hình sự năm 1999 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh (trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT của VKSND tối cao và Cơ quan An ninh điều tra trong CAND); các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT cấp huyện nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra; Cơ quan CSĐT Bộ Công an tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương hoặc có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh nhưng xét thấy cần trực tiếp điều tra (nội dung về thẩm quyền sẽ được phân tích rõ hơn trong Chương 2).Trên cơ sở phân tích như trên có thể hiểu: Cơ quan Cảnh sát điều tra là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng được tổ chức trong hệ thống Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân, được tổ chức từ cấp Bộ đến cấp huyện, có trách nhiệm điều tra tất cả những tội phạm theo thẩm quyền, được áp dụng các biện pháp điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nhằm xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ, đề nghị truy tố trước pháp luật.1.2. Vị trí pháp lý của Cơ quan CSĐTVị trí pháp lý tố tụng của Cơ quan CSĐT là địa vị pháp lý của Cơ quan CSĐT trong hệ thống các Cơ quan tiến hành tố tụng.Theo Điều 33 Bộ luật TTHS thì CQĐT là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng. Điều 1 Pháp lệnh tổ chức ĐTHS cụ thể hóa Điều 33 Bộ luật TTHS đã chỉ ra:Trong Công an nhân dân có các Cơ quan điều tra sau đây:+ Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh); Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện);+ Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an; Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh).Trong Quân đội nhân dân có các Cơ quan điều tra sau đây:+ Cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng; Cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương; Cơ quan điều tra hình sự khu vực;+ Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng; Cơ quan An ninh điều tra quân khu và tương đương.Trong Viện kiểm sát nhân dân tối cao có các Cơ quan điều tra sau đây:+ Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao;+ Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.Như vậy, theo quy định như trên thì Cơ quan CSĐT là một trong những Cơ quan nằm trong hệ thống các CQĐT. Xét theo khía cạnh bộ máy nhà nước thì Cơ quan CSĐT là một trong những Cơ quan thuộc lực lượng vũ trang, là lực lượng có vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác “đấu tranh ngăn chặn và xử lý có hiệu quả các loại tội phạm hình sự, nhất là tội phạm nguy hiểm, có tổ chức, tội phạm ma túy, tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm lợi dụng công nghệ cao, sử dụng vũ khí nóng, chống người thi hành công vụ…”[59,tr.156].Vị trí đặc biệt quan trọng của lực lượng CAND nói riêng (trong đó có Cơ quan CSĐT) và lực lượng vũ trang nói chung đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện, tài liệu của Đảng và Nhà nước ta. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Chính quyền nhân dân có hai lực lượng để bảo vệ nó: đó là quân đội và CA. Làm công tác chính quyền ở CA hay ở quân đội, đều là đầy tớ cho nhân dân cả, vì chính quyền dân chủ có nghĩa là chính quyền do người dân làm chủ” [23,tr.12]. Trong lần khác Người nói: “Nhân dân ta có hai lực lượng. Một là Quân đội để đánh giặc ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình. Một lực lượng nữa là CA, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình. Lúc chiến tranh thì quân đội đánh giặc,…còn CA thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hòa bình lại càng nhiều việc. Còn chủ nghĩa đế quốc, còn giai cấp bóc lột là còn bọn phá hoại… vì vậy, công việc CA phải thường xuyên, không có từng đợt, từng lúc” [23,tr.16]. Những khẳng định như trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy vị trí của CAND nói chung và Cơ quan CSĐT nói riêng là hết sức quan trọng và nhiệm vụ cũng rất nặng nề vì công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm là thường xuyên liên tục, phức tạp, khó lường.Xét ở khía cạnh hoạt động tố tụng của các cơ quan tư pháp thì Cơ quan CSĐT cũng chiếm vị trí rất quan trọng. Cho dù, Cơ quan CSĐT không có quyền quyết định một người có phải là tội phạm hay không, nhưng để có chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội làm cơ sở cho việc ra Quyết định đề nghị truy tố hoặc Quyết định truy tố bị can trước TA, cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì cần thiết phải tiến hành hoạt động của điều tra của Cơ quan CSĐT. Chính vì vậy, có thể khẳng định, điều tra tội phạm là khâu đột phá, là giai đoạn đầu giữ vai trò thành bại đối với cả tiến trình TTHS và có thể nói, những kết quả đạt được cũng như những sai lầm tố tụng nghiêm trọng nhất như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội…, thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra.Có thể khẳng định rằng, hoạt động điều tra theo thẩm quyền của Cơ quan CSĐT là hoạt động không thể thiếu trong TTHS. Tòa án muốn xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì trước đó CQĐT nói chung và Cơ quan CSĐT nói riêng phải thu thập được những chứng cứ cần thiết xác định có tội và những chứng cứ xác định vô tội, những chứng cứ xác định tình tiết tăng nặng cũng như những chứng cứ xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can. Hay nói cách khác, để giải quyết được vụ án hình sự thì phải chứng minh được những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật TTHS bằng những chứng cứ, mà những chứng cứ đó phải được thu thập bởi các cơ quan có thẩm quyền, trong đó Cơ quan CSĐT giữ vị trí rất quan trọng.Theo: Vũ Duy CôngLink luận án:  Tại đây
Phạm Linh Chi
191 ngày trước
Bài viết
Một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động của Cơ quan Cảnh sát điều tra
3.2.4. Một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động của Cơ quan Cảnh sát điều tra3.2.4.1.Kiến nghị đối với Quốc hội- Kiến nghị hoàn thiện quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 có liên quan đến Cơ quan CSĐT như sau:Một là, bổ sung chức danh Trợ lý điều tra tại Khoản 2 Điều 33 Bộ luật TTHS về những người tiến hành tố tụng.Hai là, sửa đổi, bổ sung Điều 34 Bộ luật TTHS như sau: Thủ trưởng CQĐT có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:+ Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo hoạt động tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra.+ Quyết định phân công Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và điều tra vụ án hình sự; kiểm tra các hoạt động tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và điều tra vụ án hình sự.+ Quyết định phân công ĐTV, Trợ lý điều tra trong việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và điều tra vụ án hình sự; kiểm tra các hoạt động tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và điều tra vụ án hình sự của Điều tra viên, Trợ lý điều tra…+ Quyết định thay đổi Điều tra viên, Trợ lý điều tra.Khi thực hiện việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và điều tra vụ án hình sự, Thủ trưởng CQĐT có những nhiệm vụ và quyền hạn sau:+ Quyết định khởi tố vụ án, quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án…, quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can.+ Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn;+ Quyết định truy nã bị can, đình nã bị can, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, xử lý vật chứng.+ Yêu cầu định giá tài sản; yêu cầu, đề nghị cử người bào chữa; yêu cầu người phiên dịch, người dịch thuật; quyết định thay đổi người giám định, người phiên dịch, người dịch thuật.Ba là, sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 35 Bộ luật TTHS năm 2003 theo hướng tăng thẩm quyền cho ĐTV và quy định thực tế những quyền hạn mà ĐTV thực hiện như sau:Điều tra viên được phân công giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố và điều tra vụ án hình sự có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:+ Lập hồ sơ vụ án hình sự, hồ sơ giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố; triệu tập lấy lời khai những người có liên quan nhằm kiểm tra, xác minh nguồn tin.+ Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;+ Quyết định áp giải bị can, quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị hại.+ Quyết định trưng cầu giám định, quyết định khai quật tử thi;+ Thi hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài sản, xử lý vật chứng;+ Chủ trì khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra;+ Tiến hành đối chất, nhận dạng.+ Cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa.+ Tiến hành các hoạt động điều tra khác thuộc thẩm quyền của CQĐT theo sự phân công của Thủ trưởng CQĐT.+ Kết luận điều tra vụ án.Điều tra hình sự là một lĩnh vực hết sức quan trọng vì công tác liên quan đến nhiều quyền, lợi ích của các cá nhân và tổ chức trong xã hội. Mặt khác, hiệu quả của công tác điều tra tội phạm nói riêng và công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nói chung sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc tạo ra một môi trường xã hội ổn định, thuận lợi, an toàn để phát triển kinh tế, xã hội. Trong khi đó, văn bản quy định về tổ chức ĐTHS đã trải qua 2 “đời” Pháp lệnh (Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 1989 và Pháp lệnh tổ chức ĐTHS năm 2004). Do đó, đã đến lúc cần thiết phải quy định những vấn đề thuộc về tổ chức ĐTHS trong một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn. Đó chính là lý do hiện nay Nhà nước ta đã có chủ trương xây dựng Luật tổ chức ĐTHS và nghiên cứu sinh kiến nghị Quốc hội cần chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng văn bản luật này và khi ban hành Luật tổ chức ĐTHS cần chỉnh sửa những quy định sau trong Pháp lệnh tổ chức ĐTHS hiện hành: Sửa khoản 1 Điều 9 Pháp lệnh sửa đổi Điều 9 của Pháp lệnh tổ chức ĐTHS như sau: “Tổ chức của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an gồm có: Cục quản lý, kiểm tra, hướng dẫn điều tra; Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội; Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng; Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy”.Sửa khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh sửa đổi Điều 9 của Pháp lệnh tổ chức ĐTHS: “Tổ chức của Cơ quan CSĐT CA cấp tỉnh gồm có Phòng CSĐT tội phạm về TTXH, Phòng CSĐT tội phạm về TTQLKT & CV, Phòng CSĐT tội phạm về ma túy và Văn phòng Cơ quan CSĐT” như sau: “Tổ chức của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh gồm có: Phòng quản lý, kiểm tra, hướng dẫn điều tra; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy”Sửa khoản 2 Điều 30 Pháp lệnh tổ chức ĐTHS về thời gian bổ nhiệm ĐTV như sau:+ Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, có thời gian làm công tác pháp luật từ ba năm trở lên, là sỹ quan CA, sỹ quan Quân đội tại ngũ, cán bộ VKSND, có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng thì có thể được bổ nhiệm làm ĐTV sơ cấp;+ Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này và đã là ĐTV sơ cấp ít nhất là bốn năm, có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của ĐTV sơ cấp thì có thể được bổ nhiệm làm ĐTV trung cấp.Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, có thời gian làm công tác pháp luật từ bảy năm trở lên, có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của ĐTV sơ cấp thì có thể được bổ nhiệm làm ĐTV trung cấp;+ Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này và đã là ĐTV trung cấp ít nhất là bốn năm, có khả năng nghiên cứu, tổng hợp đề xuất biện pháp phòng, chống tội phạm, có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của ĐTV sơ cấp, ĐTV trung cấp thì có thể được bổ nhiệm làm ĐTV cao cấp.Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này và đã có thời gian làm công tác pháp luật từ mười một năm trở lên, có khả năng nghiên cứu, tổng hợp đề xuất biện pháp phòng, chống tội phạm, có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của ĐTV sơ cấp, ĐTV trung cấp thì có thể được bổ nhiệm làm ĐTV cao cấp.Sửa điểm a, điểm b khoản 1 Điều 31 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự về Hội đồng tuyển chọn ĐTV như sau:+ (a) Hội đồng tuyển chọn Điều tra viên cao cấp trong Công an nhân dân và Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên sơ cấp ở các Cơ quan điều tra Bộ Công an gồm có Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra, Cục tổ chức - cán bộ, Vụ pháp chế Bộ Công an và đại diện lãnh đạo đơn vị cấp Cục nơi Điều tra viên công tác là uỷ viên;+(b) Hội đồng tuyển chọn Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên sơ cấp ở các Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện gồm có: Giám đốc Công an cấp tỉnh làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra, Phòng tổ chức - cán bộ, Văn phòng Công an tỉnh và đại diện đơn vị cấp Phòng hoặc cấp Đội nơi Điều tra viên công tác là uỷ viên.Khi soạn thảo Luật tổ chức điều tra hình sự cần quy định thêm chứcdanh Trợ lý điều tra theo hướng: Trợ lý điều tra là người thuộc Cơ quan điều tra, có trình độ, chuyên môn và kinh nghiệm nhất định về lĩnh vực điều tra hình sự, giúp việc cho Điều tra viên, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.Kiến nghị với Chính phủHiện nay, mức phụ cấp đặc thù 15% áp dụng đối với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT và ĐTV theo Quyết định số 91/2009/QĐ-TTg ngày 06/07/2009 là còn thấp, chưa theo kịp nhu cầu của tình hình. Do đó, kiến nghị với Chính phủ sửa đổi khoản 2 Điều 1 Quyết định số 91/2009/QĐ-TTg: “mức phụ cấp 15% áp dụng đối với: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT và ĐTV” như sau:“mức phụ cấp 20% áp dụng đối với: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên”Đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng chuyên trách phòng,chống tội phạm về ma túy nâng mức phụ cấp đặc thù từ 20% như hiện nay lên 25%.Kiến nghị với Bộ Công anBộ Công an là cơ quan ban hành nhiều văn bản pháp luật hướng dẫn luật, Pháp lệnh. Do đó, kiến nghị BCA một số vấn đề sau:Sửa lại Thông tư 12/2004/TT-BCA(V19) và Thông tư 28/2014 TT- BCA quy định về nhiệm vụ, quyền hạn điều tra của Cơ quan CSĐT BCA và Cơ quan CSĐT CA cấp tỉnh nói chung và thẩm quyền điều tra của các lực lượng CSĐT thuộc hai cấp Cơ quan CSĐT này nói riêng theo hướng bỏ những quy định có tính chất tùy nghi “xét thấy cần trực tiếp điều tra”, cụ thể như sau:+ Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan CSĐT Bộ Công an: tiến hành điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh nhưng đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố hoặc liên quan đến những đối tượng phạm tội nhưng thuộc diện trung ương quản lý hoặc có dấu hiệu cho thấy có vi phạm pháp luật TTHS trong quá trình điều tra;+ Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan CSĐT Công an cấp tỉnh: tiến hành điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định từ Chương XII đến Chương XXII của Bộ luật hình sự năm 1999 khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của TAND cấp tỉnh (trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT của VKSND tối cao và Cơ quan An ninh điều tra trong CAND) hoặc các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan CSĐT Công an cấp huyện nhưng rất nghiêm trọng, phức tạp, liên quan đến nhiều địa bàn trong tỉnh hoặc liên quan đến những đối tượng phạm tội nhưng thuộc diện cấp tỉnh quản lý hoặc có dấu hiệu cho thấy có vi phạm pháp luật TTHS trong quá trình điều tra;Theo: Vũ Duy CôngLink luận án:  Tại đây
Phạm Linh Chi
191 ngày trước
Bài viết
Giải pháp bảo đảm thực thi pháp luật tố tụng hình sự về Cơ quan Cảnh sát điều tra
3.2.3. Giải pháp bảo đảm thực thi pháp luật tố tụng hình sự về Cơ quan Cảnh sát điều tra3.2.3.1. Giải pháp hoàn thiện lực lượng Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng và Điều tra viên trong Cơ quan Cảnh sát điều tra- Đối với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều traMột là, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT là một chức danh tố tụng, vai trò của những người này rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của Cơ quan CSĐT. Để hoàn thành nhiệm vụ được giao thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT phải có nhiều yêu cầu theo quy định, trong đó yêu cầu về năng lực hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức điều tra là rất cần thiết. Do đó, cần thực hiện nghiêm túc công tác bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT, phải chú trọng năng lực thực tế chứ không nên bổ nhiệm theo kiểu hình thức, “cơ cấu” cho đủ thành phần (nhất là cấp huyện) . Muốn vậy, quá trình thực hiện công tác này cần căn cứ vào tiêu chuẩn bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT được quy định trong Pháp lệnh tổ chức ĐTHS và các văn bản hướng dẫn cụ thể của BCA. Đặc biệt, cần khắc phục việc vận dụng trường hợp đặc biệt để quyết định bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT khi không đủ tiêu chuẩn (như chưa có trình độ cử nhân luật; chưa được bổ nhiệm ĐTV cao cấp, trung cấp; chưa đủ thời gian làm công tác pháp luật hoặc chưa có kinh nghiệm làm công tác điều tra). Bên cạnh đó, cần xem xét sửa đổi quy định về bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT theo hướng chuyên sâu và phù hợp với thực tế hơn.Hai là, cần đề cao trách nhiệm gắn với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT trong hoạt động tố tụng, nhất là vai trò chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn hoạt động điều tra, xử lý tội phạm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT đối với Điều tra viên.Ba là, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác chỉ đạo, tổ chức hoạt động điều tra cho đội ngũ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT. Nội dung tập huấn nên tập trung vào việc trang bị những kỹ năng chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn hoạt động điều tra sao cho hiệu quả, đúng pháp luật.- Đối với Điều tra viênĐiều tra viên là lực lượng quan trọng, quyết định trực tiếp tới hiệu quả công tác điều tra tội phạm của Cơ quan CSĐT. Do đó, để hoàn thiện các mặt về chủ thể này, nghiên cứu sinh mạnh dạn đề xuất một số giải pháp sau:Một là, cần có kế hoạch bổ sung biên chế, khắc phục tình trạng thiếu ĐTV nói chung và tình trạng phân công, bố trí ĐTV không hợp lý, thiếu sự cân đối giữa các lực lượng trong Cơ quan CSĐT. Do đó, Thủ trưởng các đơn vị trong Cơ quan CSĐT cần phối hợp chặt chẽ với bộ phận tổ chức cán bộ ở mỗi cấp để rà soát, bố trí, sắp xếp lại lực lượng ĐTV, Trinh sát viên, cán bộ điều tra phù hợp với đặc điểm tình hình công tác giải quyết án của mỗi lực lượng. Việc bố trí sắp xếp lại đội ngũ cán bộ điều tra trong Cơ quan CSĐT các cấp đảm bảo phù hợp với khối lượng công việc, tránh tình trạng có đơn vị làm quá tải nhưng ít cán bộ và ngược lại.Hai là, người đứng đầu các đơn vị trong Cơ quan CSĐT cần thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm của ĐTV để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, xử lý tội phạm nhằm khắc phục oan sai và những vi phạm TTHS khác trong quá trình điều tra vụ án. Mặt khác, cần đánh giá kết quả công tác điều tra với việc xem xét các hình thức thi đua, khen thưởng trong Cơ quan, đơn vị.Ba là, tiếp tục đổi mới công tác đào tạo ĐTV trong các trường CAND theo hướng lý luận phải gắn liền với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm, học đi đôi với hành. Mặt khác, cần thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ điều tra cho lực lượng ĐTV nhằm không ngừng cập nhật những kiến thức, kỹ năng mới và rèn luyện tính thận trọng, chặt chẽ trong hoạt động điều tra.3.2.3.2. Giải pháp về tăng cường chế độ đảm bảo cho hoạt động điều traĐiều kiện về cơ sở vật chất ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Cơ quan CSĐT nói riêng. Do đó, Nhà nước cần tăng cường đầu tư các điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ hoạt động điều tra của từng cấp như: nhà tạm giữ, trại tạm giam, phòng riêng hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, bị hại…trụ sở làm việc của các lực lượng CSĐT, trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác điều tra…Bên cạnh đó, cần tiếp tục thực hiện các Đề án về tăng cường năng lực cho CQĐT các cấp trong CAND (Trong đó có Cơ quan CSĐT); dự án xây dựng tàng thư gen tội phạm quốc gia; dự án xây dựng trung tâm thông tin quốc gia về tội phạm; dự án đầu tư xây dựng hệ thống kỹ thuật các cơ sở giam giữ… và cần lập, thực hiện đề án: “Tăng cường tiềm lực toàn diện cho CA cấp huyện đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới”.Hiện nay, kinh phí phục vụ cho hoạt động điều tra đã được tăng cường một cách đáng kể. Tuy nhiên, mức đầu tư kinh phí như hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình, mức duyệt kinh phí điều tra hằng năm thường thấp hơn so với mức dự toán đăng ký nhu cầu. Do đó, trong thời gian tới cần tăng cường kinh phí cho công tác điều tra tội phạm để đảm báo đủ so với nhu cầu thực tế. Trước mắt cần tăng cường mức chi bồi dưỡng cho cán bộ trực tiếp điều tra vụ án vì mức bồi dưỡng hiện nay 100.000/ngày theo Thông tư 03/2013/TT-BCA ngày 10/1/2013 là còn thấp so với tính chất đặc thù của công tác điều tra.Theo: Vũ Duy CôngLink luận án:  Tại đây
Bài viết được xem nhiều nhất
Bài viết
(mới)Những mẫu bản kiểm điểm đảng viên dành cho cán bộ, giáo viên, sinh viên,.. luôn được bạn đọc chú ý. Đây là thời điểm để mọi người nhìn nhận lại những gì mình đã và chưa làm được. Qua đó cho mình thêm động lực để phấn đấu hơn nữa. Hãy cùng nhau theo dõi ngay trong bài viết mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân của Legalzone - hệ thống thủ tục pháp luậtMẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân Bản kiểm điểm Đảng viên sẽ gồm có các phần chính sau:Ưu điểm, kết quả đạt được về tư tưởng chính trị;Phẩm chất đạo đức, lối sống;Y thức tổ chức kỷ luật;Tác phong, lề lối làm việc;Về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao;Về việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm.Cụ thể: Hạn chế, khuyết điểm đảng viên về tư tưởng chính trị; phẩm chất đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc; về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.Hạn chế khuyết điểm đảng viên về việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm và nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm.Kết quả khắc phục những ưu khuyết điểm của đảng viên đã được cấp có thẩm quyền kết luận hoặc được chỉ ra ở các kỳ kiểm điểm trước.Tại phần này cần kiểm điểm rõ:Từng ưu khuyết điểm đảng viên (đã được khắc phục; đang khắc phục, mức độ khắc phục; chưa được khắc phục)Những khó khăn, vướng mắc (nếu có)Trách nhiệm của cá nhân.Giải trình, nhận xét ưu khuyết điểm của đảng viên những vấn đề được gợi ý kiểm điểm (nếu có).Giải trình từng vấn đề được gợi ý kiểm điểm, nêu nguyên nhân.Xác định trách nhiệm của cá nhân đối với từng vấn đề được gợi ý kiểm điểm.Làm rõ trách nhiệm của cá nhân đối với những ưu điểm khuyết điểm của đảng viên (nếu có).Phương hướng, biện pháp khắc phục những ưu khuyết điểm của đảng viên. Tự nhận mức xếp loại chất lượng.Legalzone cung cấp cho bạn đọc 02 mẫu bản tự kiểm kiểm cá nhân tham khảo sau đây:Mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhânBẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂNHọ và tên: ………………… Sinh ngày: …………………………………Ngày vào Đảng: ……………… Chính thức ngày ………………………… Chức vụ Đảng: …………………………………………………………..Chức vụ chính quyền(đoàn thể): ………………………………………….Đơn vị công tác: ………………………………………………………Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: ………………………………………..I. Ưu điểm, kết quả công tác 1. Về tư tưởng chính trị– Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi luôn kiên định đối với đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.– Chấp hành nghiêm túc quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực để bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.– Luôn có ý thức tuyên truyền, vận động người thân, gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.– Xác định ý thức tích cực, tự giác tự học, tự nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác qua các lớp tập huấn, các lớp bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp…– Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng thực hiện cuộc vận động“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” của bản thân.Trong quá trình công tác, bản thân luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.2. Về phẩm chất đạo đức, lối sống.– Bản thân tôi luôn có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu.- Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong ngành. Luôn có ý thức giữ gìn tư cách, đạo đức tính tiên phong của người đảng viên trong tác chuyên môn.- Không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và những điều Đảng viên không được làm theo quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị.– Bản thân tôi luôn thực hiện tự phê bình và phê bình trung thực và thẳng thắn, giữ gìn đoàn kết trong Đảng trên cơ sở cương lĩnh và điều lệ Đảng, phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động chỉ đạo chuyên môn và luôn luôn xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ.-  Trong cuộc sống thường ngày sinh hoạt với địa phương, tôi đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tin tưởng, tham gia tích cực mọi hoạt động ở nới cư trú.3. Về thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao:– Bản thân luôn thực hiện đúng qui chế chuyên môn, đảm bảo tính khoa học.– Làm việc có trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. – Luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.– Luôn phối kết hợp tốt với các đồng nghiệp, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. -Trong công tác xây dựng Đảng, đoàn thể tôi luôn có ý thức tuyên truyền, tham gia xây dựng chi bộ, các đoàn thể trong cơ quan trong sạch, vững mạnh.4. Về tổ chức kỷ luật:– Bản thân tôi luôn thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, chấp hành sự phân công điều động, luân chuyển của tổ chức.- Bản thân luôn vận động gia đình chấp hành nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các luật và nghị định của Nhà nước về phòng chống ma tuý, chống tiêu cực ……– Bản thân tôi luôn thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng và đóng đảng phí theo quy định.- Tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt chi bộ, quán triệt sâu sắc các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và ngành đề ra.– Tham gia đầy đủ các buổi hội họp, học nghị quyết do chi bộ và Đảng bộ tổ chức; đóng Đảng phí đầy đủ, kịp thời.– Thực hiện tốt quy chế, nội quy của tổ chức Đảng cũng như của cơ quan đơn vị, có tinh thần gương mẫu chấp hành và lãnh đạo thực hiện tốt quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú- Ý thức lắng nghe, tiếp thu và tự sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng.– Thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở; có tinh thần tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền.- Luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao; thái độ phục vụ nhân dân tốt; có ý thức đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, gây phiền hà nhân dân.II. Khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân– Chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy kết quả chưa cao– Đôi khi còn chưa linh hoạt, trong giải quyết công việc với đồng nghiệp, với học sinh– Tuy có ý thức trong công tác tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt nhưng vẫn còn chưa mạnh dạn.– Đôi lúc chưa chủ động trong tổ chức thực hiện một số hoạt động. Trong công việc đôi lúc còn chưa mạnh dạn, thẳng thắn góp ý cho đồng nghiệp– Chưa cương quyết trong xử lí vi phạm, làm việc còn mang tính cả nểIII. Phương hướng và biện pháp khắc phục, sửa chữa yếu kém– Tuyệt đối chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.- Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong Đảng và cơ quan.– Không ngừng tu dưỡng đạo đức, tự học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị,chuyên môn nghiệp vụ, mạnh dạn hơn nữa trong việc tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị được giao.– Tiếp tục đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, luôn có ý thức tự phê bình và phê bình, tránh tư tưởng nể nang, nâng cao vai trò tiên phong của người đảng viên.Biện pháp khắc phục:– Trong thời gian tới sẽ phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm trên để bản thân được hoàn thiện hơn.– Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những hành động và việc làm cụ thể trong thực hiện công việc và nhiệm vụ được giaoXem thêm: Thủ tục thành lập trung tâm ngoại ngữ tại Hà NộiLink dowload các biểu mẫu miễn phíBẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂNBẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂN 2BẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁN BỘTải ngay mẫu Bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân tại phần ảnh tại bài viết hoặc tại phần bình luận của bài viết bạn nhé IV. Tự nhận mức xếp loại chất lượng Đảng viên, cán bộ, công chức:Mức 2: Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.Người viết bản kiểm điểmMẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân số 2ĐẢNG BỘ Xà.......CHI BỘ TRƯỜNG .........***ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ........, ngày...tháng...năm 2019BẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂNHọ và tên: ............. .............. Sinh ngày: ........... ................ ........... ............Ngày vào Đảng: ............... .............. Chính thức ngày .............. .............. Chức vụ Đảng: ........... ............ ............... .............. ................ ................. Chức vụ chính quyền(đoàn thể): .............. ................. .................. ............ Đơn vị công tác: ............ ............... ................ ................... ................. Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: .................... .................... .................... Ưu điểm, kết quả công tácVề tư tưởng chính trị- Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi luôn kiên định đối với đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.- Chấp hành nghiêm túc quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực để bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.- Luôn có ý thức tuyên truyền, vận động người thân, gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.- Xác định ý thức tích cực, tự giác tự học, tự nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác qua các lớp tập huấn, các lớp bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp...- Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", cuộc vận động "Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo" của bản thân. Trong quá trình công tác, bản thân luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.Về phẩm chất đạo đức, lối sống.- Bản thân tôi luôn có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu.Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong ngành.Luôn có ý thức giữ gìn tư cách, đạo đức tính tiên phong của người đảng viên trong tác chuyên môn.Không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và những điều Đảng viên không được làm theo quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị.- Bản thân tôi luôn thực hiện tự phê bình và phê bình trung thực và thẳng thắn, giữ gìn đoàn kết trong Đảng trên cơ sở cương lĩnh và điều lệ Đảng, phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động chỉ đạo chuyên môn và luôn luôn xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ. Trong cuộc sống thường ngày sinh hoạt với địa phương, tôi đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tin tưởng, tham gia tích cực mọi hoạt động ở nới cư trú.Về thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao:- Bản thân luôn thực hiện đúng qui chế chuyên môn, đảm bảo tính khoa học.- Làm việc có trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao- Luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.- Luôn phối kết hợp tốt với các đồng nghiệp, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao-Trong công tác xây dựng Đảng, đoàn thể tôi luôn có ý thức tuyên truyền, tham gia xây dựng chi bộ, các đoàn thể trong cơ quan trong sạch, vững mạnh.>>Tham khảo bài viết: Bộ luật Dân sự 2015: Điểm nổi bật và ý nghĩa trong bối cảnh pháp luật hiện đạiVề tổ chức kỷ luật:- Bản thân tôi luôn thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, chấp hành sự phân công điều động, luân chuyển của tổ chức. Bản thân luôn vận động gia đình chấp hành nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các luật và nghị định của Nhà nước về phòng chống ma tuý, chống tiêu cực ......- Tham gia đầy đủ các buổi hội họp, học nghị quyết do chi bộ và Đảng bộ tổ chức; đóng Đảng phí đầy đủ, kịp thời.- Thực hiện tốt quy chế, nội quy của tổ chức Đảng cũng như của cơ quan đơn vị, có tinh thần gương mẫu chấp hành và lãnh đạo thực hiện tốt quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú; ý thức lắng nghe, tiếp thu và tự sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng.- Luôn có thái độ cầu thị trong việc nhận và sửa chữa khắc phục khuyết điểm.- Thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở; có tinh thần tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền.- Luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao; thái độ phục vụ nhân dân tốt; có ý thức đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, gây phiền hà nhân dân.Khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân- Chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy kết quả chưa cao. - Chưa dành thời gian thích hợp để nghiên cứu, tìm hiểu sâu về Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết, quy định của Đảng; pháp luật, chính sách của Nhà nước.- Trách nhiệm cá nhân trong việc phối kết hợp với các đoàn thể khác trong trường có lúc chưa đạt hiệu quả cao nhất.- Đôi lúc chưa chủ động trong tổ chức thực hiện một số hoạt động. Trong công việc đôi lúc còn chưa mạnh dạn, thẳng thắn góp ý cho đồng nghiệp- Chưa cương quyết trong xử lí vi phạm, làm việc còn nể nang tình cảm trong công tác phê bình và tự phê bình.III. Phương hướng và biện pháp khắc phục, sửa chữa yếu kém- Tuyệt đối chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.- Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong Đảng và cơ quan.- Không ngừng tu dưỡng đạo đức, tự học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ- Mạnh dạn hơn nữa trong việc tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị được giao.- Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống- Luôn có ý thức tự phê bình và phê bình, nâng cao vai trò tiên phong của người đảng viên.Biện pháp khắc phục:- Trong thời gian tới sẽ phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm trên để bản thân được hoàn thiện hơn.- Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những hành động và việc làm cụ thể trong thực hiện công việc và nhiệm vụ được giao. Tự nhận mức xếp loại chất lượng Đảng viên, cán bộ, công chức:Mức 2: Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.     NGƯỜI TỰ KIỂM ĐIỂM(Ký, ghi họ tên) ĐÁNH GIÁ PHÂN LOẠI CHẤT LƯỢNG ĐẢNG VIÊNNhận xét, đánh giá của chi ủy:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ...............Chi bộ phân loại chất lượng:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ..........................., ngày...tháng...năm....T.M CHI ỦYBí thưĐảng ủy (chi ủy cơ sở) phân loại chất lượng:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ................................., ngày...tháng...năm...     T.M ĐẢNG ỦYTrên đây là một số thông tin về mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân bạn đọc tham khảo. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ. Hoặc bạn có thể tra cứu các thủ tục qua trang Thủ tục pháp luật của chúng tôi. 
Bài viết
[MỚI]Địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệpTừ 2021, tên địa điểm kinh doanh phải bao gồm cả tên doanh nghiệp. Đây là nội dung mới được Quốc hội đề cập đến tại Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14. Quy định mới về tên địa điểm kinh doanhCụ thể, Điều 40 Luật Doanh nghiệp 2020 nêu rõ:Tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệp kèm theo cụm từ “Chi nhánh” đối với chi nhánh, cụm từ “Văn phòng đại diện” đối với văn phòng đại diện, cụm từ “Địa điểm kinh doanh” đối với địa điểm kinh doanh.Hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không yêu cầu với địa điểm kinh doanh mà chỉ quy định tên chi nhánh, văn phòng đại diện phải mang tên doanh nghiệp kèm cụm từ “chi nhánh” với chi nhánh, cụm từ “văn phòng đại diện” với văn phòng đại diện.  Quy định mới về tên địa điểm kinh doanhNgoài ra, Điều 41 Luật 2020 cũng có quy định cụ thể với tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh gồm:– Phải được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và các ký hiệu;– Phải được viết hoặc gắn tại trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh. Trong đó, tên chi nhánh, văn phòng đại diện được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên tiếng Việt của doanh nghiệp trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu… do chi nhánh, văn phòng đại diện phát hành.Hồ sơ thành lập địa điểm kinh doanh* Thành phần hồ sơTheo Quyết định 1523/QĐ-BKHĐT, hồ sơ thành lập địa điểm kinh doanh bao gồm:– Thông báo lập địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp theo mẫu tại Phụ lục II-11 Nghị định 122/2020/NĐ-CP.– Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động theo Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc các giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương chưa thực hiện bổ sung, cập nhật thông tin đăng ký doanh nghiệp để được cấp đăng ký doanh nghiệp thay thế nội dung đăng ký kinh doanh trong Giấp phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương thì ngoài các giấy tờ nêu trên, doanh nghiệp phải nộp kèm theo:+ Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đầu tư;+ Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký thuế;+ Giấy đề nghị bổ sung, cập nhật thông tin đăng ký hoạt động đối với địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động theo giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.Lưu ý: Trường hợp không phải Chủ sở hữu hoặc Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trực tiếp đến nộp hồ sơ: người được ủy quyền phải nộp văn bản uỷ quyền kèm bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân:– Đối với công dân Việt Nam: Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực.– Đối với người nước ngoài: Hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị thay thế còn hiệu lực.* Số lượng hồ sơ: 01 bộTrình tự thủ tục lập địa điểm kinh doanhBước 1: Nộp hồ sơCó 02 cách thức để nộp hồ sơ, cụ thể:Cách 1: Nộp hồ sơ trực tiếp tại bộ phận một cửa Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt địa điểm kinh doanh hoặc chi nhánh.Cách 2: Đăng ký qua mạng tại Cổng thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp bằng chữ ký số công cộng hoặc sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh . Đối với Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phải đăng ký qua mạng.Bước 2: Tiếp nhận và giải quyết hồ sơBước 3: Nhận kết quả* Thời hạn giải quyết: 03 ngày làm việc* Lệ phí giải quyết:– 50.000 đồng/lần đối với hồ sơ nộp trực tiếp tại bộ phận một cửa Phòng Đăng ký kinh doanh.– Miễn lệ phí đối với hồ sơ đăng ký qua mạng điện tử.Trên đây là bài viết tham khảo về một số quy định mới về hộ kinh doanh từ năm 2021. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ.
Bài viết
Bảo hiểm thất nghiệp là một cơ chế quan trọng, giúp hỗ trợ người lao động trong những giai đoạn khó khăn khi họ mất việc làm. Tuy nhiên, để đảm bảo hoạt động hiệu quả và bền vững của quỹ bảo hiểm thất nghiệp, việc xác định mức đóng cũng như hiểu rõ nguồn hình thành của quỹ này là vô cùng quan trọng. Bài viết sau đây sẽ phân tích và giải đáp những thắc mắc liên quan đến mức đóng và nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, giúp người đọc có cái nhìn sâu rộng và đầy đủ hơn về vấn đề này.Bảo hiểm thất nghiệp là gì?Trong bối cảnh kinh tế phức tạp, bảo hiểm thất nghiệp trở thành một giải pháp hỗ trợ quan trọng, giúp giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho người lao động.Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ giúp bù lại một phần thu nhập cho những người mất việc, đồng thời hỗ trợ họ trong việc đào tạo nghề và tìm kiếm cơ hội làm việc mới, dựa trên việc đóng góp vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp (theo khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm 2013).Nhờ vào sự hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp, nhiều người lao động đã tìm ra cách giải quyết vấn đề việc làm, khẳng định vị thế của mình trên thị trường lao động và đóng góp vào sự ổn định và phát triển của xã hội.Mức đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp được xác định như nào?Mức đóng góp và trách nhiệm trong việc đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp (BHTN) được quy định cụ thể theo Khoản 1 Điều 57 của Luật Việc làm năm 2013. Theo đó:- Mỗi người lao động cần đóng 1% từ tiền lương hàng tháng của mình.- Người sử dụng lao động cũng phải đóng 1% từ quỹ lương hàng tháng dành cho nhân viên đang tham gia BHTN.- Nhà nước cam kết hỗ trợ thêm tối đa 1% từ quỹ lương hàng tháng cho việc đóng góp BHTN, với ngân sách được đảm bảo bởi chính phủ trung ương.Tổng cộng, mức đóng góp vào Quỹ BHTN là 3%, với 1% từ người lao động, 1% từ người sử dụng lao động, và 1% từ sự hỗ trợ của nhà nước.Quỹ BHTN hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:- Đóng góp từ người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ từ nhà nước.- Lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư của Quỹ BHTN.- Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật, bao gồm tiền lãi từ việc trễ hạn đóng góp BHTN và các khoản thu hợp pháp khác.Quỹ BHTN được sử dụng cho các mục đích sau:- Thanh toán trợ cấp thất nghiệp.- Hỗ trợ đào tạo, cập nhật kỹ năng nghề nghiệp để giữ việc làm cho người lao động.- Hỗ trợ học nghề.- Hỗ trợ tư vấn và giới thiệu việc làm.- Chi trả bảo hiểm y tế cho người nhận trợ cấp thất nghiệp.- Chi phí quản lý BHTN theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.- Đầu tư để bảo toàn và phát triển Quỹ.Phương thức đóng tiền vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp?Cách thức đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp (BHTN) diễn ra hàng tháng theo các quy định sau:- Người sử dụng lao động cần đóng góp vào BHTN theo tỷ lệ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 57 của Luật Việc làm 2013. Họ cũng cần trích một phần từ lương của nhân viên theo tỷ lệ quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 57 của cùng một luật, để đóng góp vào Quỹ BHTN.- Sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho Quỹ BHTN tuân theo nguyên tắc đảm bảo số dư quỹ hàng năm ít nhất bằng hai lần tổng chi cho các chế độ BHTN và chi phí quản lý của năm trước. Tuy nhiên, mức hỗ trợ không vượt quá 1% quỹ lương hàng tháng dành cho BHTN của những người đang tham gia. Cách thức chuyển kinh phí như sau:Vào quý IV mỗi năm, Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ dựa trên dự toán thu-chi BHTN được phê duyệt để xác định kinh phí hỗ trợ cho Quỹ BHTN của năm trước, tuân theo quy định tại Khoản 1 của Điều này. Số kinh phí này sẽ được gửi đến Bộ Tài chính để chuyển vào Quỹ BHTN một lần.Trong vòng 10 ngày làm việc kể từ khi nhận báo cáo quyết toán từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đã được Hội đồng Quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam chấp thuận, Bộ Tài chính sẽ thẩm định và quyết định kinh phí hỗ trợ cho Quỹ BHTN năm trước. Nếu kinh phí mà Bộ Tài chính đã cấp nhiều hơn số tiền cần hỗ trợ theo quy định tại Khoản 1 của Điều này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải trả lại phần chênh lệch cho ngân sách nhà nước. Ngược lại, nếu số tiền cấp ít hơn, Bộ Tài chính sẽ báo cáo cấp có thẩm quyền để phê duyệt kinh phí hỗ trợ bổ sung trong năm tiếp theo.Kinh phí hỗ trợ Quỹ BHTN đều được bảo đảm bởi ngân sách trung ương, từ nguồn chi đảm bảo xã hội đã được Quốc hội quyết định.Kết luận Mức đóng góp phải được xác định một cách hợp lý để đảm bảo quỹ có đủ kinh phí hoạt động và cùng lúc đó, không tạo áp lực tài chính quá lớn lên người lao động và người sử dụng lao động. Ngoài ra, việc hình thành quỹ từ nhiều nguồn khác nhau cần được quản lý chặt chẽ và minh bạch, điều này đòi hỏi sự phối hợp mật thiết giữa các cơ quan quản lý, người sử dụng lao động, và người lao động. Một hiểu biết đầy đủ và chi tiết về các khía cạnh này sẽ giúp người lao động cảm thấy an tâm hơn với quỹ bảo hiểm thất nghiệp, thúc đẩy sự tham gia tích cực và từ đó góp phần nâng cao chất lượng an sinh xã hội. Nếu có thắc mắc khác liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp, bạn có thể truy cập Thủ tục pháp luật để cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết. 
Bài viết
Trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước, Hội đồng thành viên đóng vai trò quan trọng, tham gia vào việc quản lý và định hình chiến lược của các tổ chức này. Hội đồng này thường bao gồm Chủ tịch và các thành viên khác, và quyền lực của họ thường được cơ quan đại diện chủ sở hữu kiểm soát thông qua việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng và kỷ luật. Những quyết định của Hội đồng thành viên có thể có tác động sâu rộng đến hoạt động kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp nhà nước.Tuy nhiên, một vấn đề nổi lên trong quá trình xem xét tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên là khả năng của những người đã từng bị kỷ luật bởi Đảng. Chúng ta hãy tìm hiểu những quy định  liên quan vấn đề này.1. Điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên doanh nghiệp nhà nước là gì?Theo Điều 93 của Luật doanh nghiệp 2020, tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên được quy định như sau:Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 của Điều 17 của Luật doanh nghiệp 2020.Phải có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động của doanh nghiệp.Không được phép có quan hệ gia đình với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu; thành viên Hội đồng thành viên; Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của công ty; Kiểm soát viên công ty.Không được phép là người quản lý của doanh nghiệp thành viên.Trừ Chủ tịch Hội đồng thành viên, các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể kiêm nhiệm vị trí Giám đốc, Tổng giám đốc của công ty đó hoặc công ty khác mà không phải là doanh nghiệp thành viên, theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu.Không được cách chức từ vị trí Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp nhà nước.Các tiêu chuẩn và điều kiện khác có thể được quy định bởi Điều lệ công ty.    Như vậy, những quy định này nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp, tính minh bạch, và tính hiệu quả trong quản lý và điều hành của doanh nghiệp. Điều quan trọng là, việc đảm bảo không có quan hệ gia đình và không từng bị cách chức từ các vị trí quan trọng trong doanh nghiệp nhà nước giúp bảo vệ tính độc lập và khách quan của quyết định của Hội đồng thành viên. Tuy nhiên, ngoài những điều kiện cơ bản này, Điều lệ công ty cũng có thể quy định thêm các tiêu chuẩn và điều kiện khác để phù hợp với đặc thù cụ thể của từng doanh nghiệp.2. Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên doanh nghiệp nhà nước bao gồm những gì?Dựa vào Điều 92 của Luật doanh nghiệp 2020, quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên được phân rõ như sau:Hội đồng thành viên, thay mặt cho công ty, thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, cổ đông, và thành viên đối với công ty, đặc biệt khi công ty đóng vai trò làm chủ sở hữu hoặc sở hữu cổ phần, phần vốn góp.Hội đồng thành viên được ủy quyền với các quyền và nghĩa vụ cụ thể sau đây:Quyết định về các vấn đề liên quan đến việc sử dụng vốn nhà nước theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước để đầu tư vào hoạt động sản xuất và kinh doanh tại công ty.Quyết định về việc thành lập, tổ chức lại, giải thể các chi nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty.Đưa ra quyết định về kế hoạch sản xuất và kinh doanh hàng năm, xác định chủ trương phát triển thị trường, tiếp thị, và công nghệ của công ty.Tổ chức và quản lý hoạt động kiểm toán nội bộ và quyết định về việc thành lập đơn vị kiểm toán nội bộ cho công ty.Thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định tại Điều lệ công ty, Luật doanh nghiệp, và các quy định pháp luật khác có liên quan. Với vai trò đại diện cho công ty và các nhóm lợi ích khác nhau như chủ sở hữu, cổ đông, và thành viên, Hội đồng thành viên đảm bảo tính hiệu quả và quản lý đúng đắn của doanh nghiệp.Hội đồng thành viên được trao quyền quyết định quan trọng về việc sử dụng vốn nhà nước, tổ chức và phát triển công ty, kế hoạch sản xuất và kinh doanh, và cả việc kiểm toán nội bộ. Điều này đòi hỏi sự chuyên nghiệp, kiến thức, và sự thận trọng trong việc ra quyết định để đảm bảo sự phát triển bền vững của công ty và sự vững mạnh của hệ thống kinh tế. Các quyền và nghĩa vụ này cũng phải tuân theo Điều lệ của công ty và các quy định pháp luật liên quan khác để đảm bảo tính phù hợp và tuân thủ của mọi hoạt động doanh nghiệp.3. Có được làm thành viên hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước khi từng bị kỷ luật đảng không?Dựa trên Điều 94 của Luật doanh nghiệp 2020, các quy định về miễn nhiệm và cách chức thành viên Hội đồng thành viên được quy định như sau:Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:Không còn đáp ứng đủ tiêu chuẩn và điều kiện được quy định tại Điều 93 của Luật doanh nghiệp 2020.Đã nộp đơn xin từ chức và được chấp thuận bằng văn bản từ cơ quan đại diện chủ sở hữu.Có quyết định về việc điều chuyển, bố trí công việc khác hoặc giải ngũ.Không đủ khả năng, trình độ để tiếp tục đảm nhận các nhiệm vụ được giao.Không đủ sức khỏe hoặc không còn đủ uy tín để giữ chức vụ thành viên Hội đồng thành viên.Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể bị cách chức trong các tình huống sau:Công ty không hoàn thành các mục tiêu và chỉ tiêu kế hoạch hàng năm, không duy trì và phát triển vốn đầu tư theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu mà không có khả năng giải trình được nguyên nhân khách quan, hoặc nếu có giải trình, nhưng không được chấp thuận bởi cơ quan đại diện chủ sở hữu.Chịu án phạt từ Tòa án và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.Thực hiện không trung thực quyền và nghĩa vụ hoặc lạm dụng địa vị và chức vụ của họ, sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác, hoặc cung cấp thông tin không trung thực về tình hình tài chính và kết quả sản xuất, kinh doanh của công ty.    Do đó, theo quy định, không có hạn chế cụ thể đối với việc trở thành thành viên Hội đồng thành viên đối với những người đã từng bị kỷ luật đảng. Tuy nhiên, cần xem xét lại Điều lệ của công ty để kiểm tra xem liệu có sự hạn chế cụ thể nào liên quan đến trường hợp này hay không. Cần lưu ý thêm rằng trong trường hợp này, những người có quá khứ kỷ luật đảng phải đáp ứng yêu cầu không từng bị cách chức từ các vị trí quan trọng như Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp nhà nước.Kết luận:  Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2020, không có hạn chế cụ thể đối với việc trở thành thành viên Hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước đối với những người đã từng bị kỷ luật đảng. Tuy nhiên, điều này có thể phụ thuộc vào Điều lệ cụ thể của công ty và yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp. Điều quan trọng là đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ quy định của pháp luật trong quá trình tuyển dụng và bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị để đảm bảo quản lý hiệu quả và bền vững của doanh nghiệp nhà nước. Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan truy cập tại thủ tục pháp luật.    
Bài viết
Đăng ký bằng cách đi tới Link TTPL.VNNhấp vào tài khoản chọn đăng kýChọn Doanh nghiệpNếu bạn là Doanh nghiệp thường Hãy chọn Doanh nghiệpNếu bạn là công ty luật hãy chọn Công ty LuậtLưu ý: khi bạn chọn sẽ xuất hiện vành vàng ở loại hình bạn chọn, nếu không chọn sẽ gây lỗiĐiền thông tin theo hướng dẫnLưu ý: Email và số điện thoại phải có thực, tránh trường hợp mất tài khoản sau nàyĐăng nhập bằng tài khoản và mật khẩu đã dùngLưu ý: bạn cũng có thể dùng Số điện thoại và mật khẩu để đăng nhậpĐăng nhập vào sử dụng phần mềm quản lý công việcBạn có thể đăng nhập ngay bằng phần Dashboard tuy nhiên nếu muốn dùng tài khoản Pro (đầy đủ quyền) Hãy sử dụng nút mua ( Miễn phí)Hãy mua gói LGZ DIAMOND - Hiện tại đang miễn phí trọn đờiNhư vậy bạn đã tạo được một công ty hoàn chỉnh cho mình, Hãy thêm nhân viên và tiếp tục hoạt động miễn phí.Hotline:Hướng dẫn kỹ thuật: 0888889225Hướng dẫn chung: 0888889366  
Bài viết
Bình Luận án lệ số 24/2018/AL:Các quy định liên quan đến Án lệ số 24/2018/AL về “di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân” có thể kể đến các quy định sau:Thứ nhất, Điều 219 Sở hữu chung của vợ chồng (Bộ luật dân sự 2005):"1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.”Thứ hai,  Điều 223. Định đoạt tài sản chung (Bộ luật dân sự 2005)"1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật3. Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác.Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.4. Trong trường hợp một trong các chủ sở hữu chung từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.”Thứ ba, Điều 226. Chấm dứt sở hữu chung (Bộ luật dân sự 2005)"Sở hữu chung chấm dứt trong các trường hợp sau đây:1. Tài sản chung đã được chia;2. Một trong số các chủ sở hữu chung được hưởng toàn bộ tài sản chung;3. Tài sản chung không còn;4. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”Án lệ này đã đưa ra những điều kiện cần và đủ để xác định trường hợp nào thì di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân. Theo đó, việc người chồng hoặc vợ còn sống cùng với các thừa kế của người chết trước thống nhất phân chia toàn bộ nhà, đất của vợ chồng là hợp pháp khi có đủ các điều kiện sau:(1) Các bên thỏa thuận thống nhất phân chia nhà, đất;(2)Thỏa thuận phân chia không vi phạm quyền lợi của bất cứ thừa kế nào, không có ai tranh chấp;(3) Việc phân chia đã được thực hiện trên thực tế và được điều chỉnh trên sổ sách giấy tờ về đất đai.Các điều kiện nêu trên chính là điều kiện đảm bảo thỏa thuận phân chia thể hiện đúng ý chí của các bên, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên theo quy định của pháp luật, phù hợp với nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong giao dịch dân sự. Về mặt thủ tục, việc chuyển dịch về quyền tài sản thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi nhận. Án lệ đã khẳng định đối với trường hợp này, nhà, đất không còn là di sản thừa kế mà đã chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của các cá nhân. Không chỉ vậy, Án lệ đã chỉ ra đường lối áp dụng thống nhất pháp luật về tố tụng, theo đó trường hợp di sản thừa kế đã chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân thì người đã nhận phân chia tài sản chỉ có quyền khởi kiện đòi lại nhà, đất được chia đang bị người khác chiếm hữu, sử dụng bất hợp pháp mà không có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế là nhà, đất. Click vào đây để xem Nội dung Án lệ số 24/2018/AL 
Bài viết
Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sựMột luật sư cần những kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự trên thực tiễn ? Phân tích một số vụ án hình sự và các vấn đề pháp lý liên quan đến thực tiễn sẽ được luật sư LegalZone tư vấn, giải đáp, trích dẫn cụ thể:Nội dung chính bài viết1. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự1. Khái niệm về hồ sơ vụ án hình sự:2. Khái niệm Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:3. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ:4. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:4.1 Kỹ năng nghiên cứu bản cáo trạng:4.2 Kỹ năng nghiên cứu bản kết luận điều tra:4.3 Kỹ năng nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can:4.4 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng:4.5 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại4.6 Kỹ năng nghiên cứu biên bản đối chất4.7 Kỹ năng nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra …4.8 Kỹ năng nghiên cứu kết luận giám định:4.9 Kỹ năng nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo và các biên bản, tài liệu khác.5. Kỹ năng chuẩn bị luận cứ bào chữa cho bị cáoMỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý:1. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sựTrong quá trình phân tích vụ việc, nghiên cứu hồ sơ vụ án là khâu quan trọng để đi đến những lập luận hợp pháp có lợi nhất. Có những phương pháp nghiên cứu khác nhau cho từng loại hồ sơ tuỳ theo lĩnh vực : hồ sơ của vụ việc hành chính, dân sự, hình sự… Tuy nhiên, điển hình và tiêu biểu nhất vẫn là kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự1. Khái niệm về hồ sơ vụ án hình sự:Hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các văn bản, tài liệu được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập hoặc lập ra trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, được sắp xếp theo một trình tự nhất định phục vụ cho việc giải quyết vụ án và lưu trữ lâu dài.Thông thường hồ sơ vụ án hình sự được sắp xếp theo một trình tự nhất định, theo nhóm tài liệu, lấy thời gian thu thập làm căn cứ để sắp xếp theo thứ tự tài liệu thu thập trước để ở trên, tài liệu thu thập sau để ở dưới, cụ thể như sau:– Các văn bản về khởi tố vụ án, khởi tố bị can– Các văn bản về thủ tục trong việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn– Các tài liệu về kết quả điều tra không thuộc lời khai của những người tham gia tố tụng– Biên bản ghi lời khai của người tham gia tố tụng– Tài liệu về nhân thân bị can– Tài liệu về nhân thân người bị hại– Các tài liệu về đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra– Tài liệu kết thúc điều tra– Tài liệu về truy tố– Tài liệu trong giai đoạn xét xử– Các tài liệu của Toà án cấp trên khi huỷ án điều tra lại hoặc xét xử lại (nếu có)Việc nghiên cứu cách sắp xếp hồ sơ vụ án cho phép Luật sư nhìn nhận một cách tổng thể các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để có phương pháp nghiên cứu khoa học, hiệu quả và trích dẫn tài liệu, bút lục có trong hồ sơ đúng và chính xác. Mặt khác, luật sư phải nhớ thứ tự sắp xếp hồ sơ vụ án để khi kết thúc việc nghiên cứu hồ sơ, bàn giao lại hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng không bị thất lạc, mất thời gian tìm lại, đồng thời học cách sắp xếp tiểu hồ sơ của mình để tiện cho việc tra cứu, trích dẫn khi thực hiện bào chữa tại phiên toà.>>>>> Số điện thoại luật sư tư vấn miễn phí2. Khái niệm Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các họat động của Luật sư: xem xét, đọc, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhằm nắm vững bản chất vụ án, diễn biến của hành vi phạm tội, qua đó xác định sự thật khách quan của vụ án. Trên cơ sở đó, luật sư xác định những vấn đề cần trao đổi, đề xuất với cơ quan tiến hành tố tụng cũng như chuẩn bị kế hoạch, xác định phương án bào chữa hoặc phương án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ Luật sư cần phải nghiên cứu hồ sơ một cách tòan diện và đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tránh tư tưởng chủ quan chỉ nghiên cứu những tài liệu mà mình cho là quan trọng, còn các tài liệu khác thì bỏ qua. Tuỳ theo hồ sơ vụ án cụ thể, Luật sư có thể nghiên cứu hồ sơ theo thứ tự thời gian diễn ra, theo trình tự tố tụng hoặc theo từng tập tài liệu liên quan đến từng người tham gia tố tụng. Yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu đầy đủ, ghi chép, lập được hệ thống chứng cứ của vụ án để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch bào chữa, đề cương bào chữa hoặc luận cứ bảo vệ quyền lợi cho đương sự.3. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ:Phương pháp nghiên cứu hồ sơ là cách thức Luật sư có thể nghiên cứu hồ sơ vụ án theo trình tự tố tụng diễn ra theo thời gian bắt đầu từ quyết định khởi tố vụ án rồi mới nghiên cứu các tài liệu xác định về về hành vi phạm tội của bị can…Người bào chữa có thể nghiên cứu hồ sơ không theo trình tự tố tụng , phương pháp này bắt đầu từ việc nghiên cứu Cáo trạng của Viện kiểm sát tiếp đến là Kết luận điều tra và các tài liệu khác. Nghiên cứu theo phương pháp này cho phép nghiên cứu hồ sơ qua đó kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của các quyết dịnh tố tụng. Mỗi phương pháp có thế mạnh khác nhau, tuỳ theo từng hồ sơ vụ án, tính chất phức tạp, số lượng bị can, bút lục có trong hồ sơ của vụ án, thời gian vật chất dành cho việc nghiên cứu, vị trí tham gia tố tụng của người được trợ giúp pháp lý, người bào chữa có thể sử dụng một trong các phương pháp hoặc kết hợp các phương pháp nghiên cứu thích hợp để đạt hiệu quả cao.4. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:4.1 Kỹ năng nghiên cứu bản cáo trạng:Luật sư nghiên cứu bản cáo trạng để hiểu nội dung của vụ án, diễn biến hành vi phạm tội của bị can, yêu cầu giải quyết bồi thườngthiệt hại (nếu có) và quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát. Khi nghiên cứu bản cáo trạng, Luật sư cần ghi chép lại đầy đủ các hành vi phạm tội của bị can; tội danh, điều khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát viện dẫn để truy tố; các chứng cứ được Viện kiểm sát dùng làm căn cứ xác định tội phạm , người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị hại, đương sự. Thông qua nghiên cứu cáo trạng, luật sư cần rút ra được những điểm quan trọng liên quan đến việc bào chữa, bảo vệ.Cùng với việc nghiên cứu cáo trạng, Luật sư cần đọc biên bản giao nhận cáo trạng để tìm hiểu xem bị can có đồng ý với nội dung bản cáo trạng hay không? nếu không đồng ý thì ý kiến của bị can như thế nào, bị can có đưa ra được những chứng cứ để bác bỏ một phần hay toàn bộ nội dung quyết định truy tố hay không? Thông thường, những bị can đồng ý với nội dung bản cáo trạng thì ra phiên toà sẽ nhận tội, ít phản cung; những bị can không chấp nhận nội dung bản cáo trạng thì sẽ không nhận tội và thường thay đổi lời khai. Trường hợp bị can không đồng ý với nội dung bản cáo trạng Luật sư cần nghiên cứu kỹ các chứng cớ để xác định sự thật của vụ án và trao đổi với họ.4.2 Kỹ năng nghiên cứu bản kết luận điều tra:Luật sư nghiên cứu bản kết luận điều tra để hiểu rõvề diễn biến của tội phạm, các chứng cứ mà cơ quan điều tra dùng để hiểu rõ về diễn biến của tội phạm , các chứng cứ mà Cơ quan điều tra dùng để chứng minh tội phạm và quan điểm, ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của Cơ quan điều tra.Trong quá trình nghiên cứu bản kết luận điều tra, Luật sư cần so sánh, đối chiếu, ghi lại những hành vi của bị cáo có nêu trong cáo trạng nhưng không được đề cập trong kết luận điều tra ; những điểm mâu thuẫn giữa bản cáo trạng và kết luận điều tra; quan điểm, ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của cơ quan điều tra có lợi cho người được trợ giúp pháp lý mà mình bào chữa, bảo vệ.4.3 Kỹ năng nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can:Khi nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can, Luật sư cần làm rõ xem bị can có nhận những hành vi nêu trong cáo trạng hay không. trường hợp bị can nhận tội thì tìm hiểu tư tưởng, động cơ, mục đích, việc thực hiện hành vi phạm tội và sự ăn năn, hối cải của bị can như thế nào? Trên cơ sở đó xác định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo như hìan cảnh phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, động cơ, muc đích phạm tội, nhân thân của bị can. Trong trường hợp bị can không nhận tội, Luật sư nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can để nắm được các lý lẽ, chứng cứ mà bị can đưa ra để bào chữa cho mình.Khi nghiên cứu các biên bản hỏi cung, Luật sư cần ghi lại theo trình tự thời gian: các hình vi bị can nhận như trong cáo trạng (có trích dẫn bút lục); hành vi nào cáo trạng nêu nhưng bị can không thừa nhận, các lý lẽ bị can đưa ra để bào chữa, chứng minh cho mình không có những hành vi đó? Hành vi nào ban đầu bị can nhận tội nhưng sau đó không thừa nhận nữa (ghi rõ tội nhận tội ở biên bản hỏi cung nào, bút lục nào?).Khi nghiên cứu các biên bản hỏi cung, Luật sư cần kiểm tra về thủ tục tố tụng: xem biên bản hỏi cung đầu tiên có ghi phần giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can hay không; biên bản hỏi cung có bị tẩy xóa, sửa chữa hay viết thêm hay không? Nếu bị sửa chữa thì có chữ ký xác nhận của bị can hay không? Trong trường hợp biên bản hỏi cung ghi cả thái độ, cử chỉ của bị can trong lúc trả lời như bị can cúi đầu, im lặng, không trả lời, lý do bị can không ký vào biên bản…thì Luật sư cần ghi lại và lưu ý làm rõ nguyên nhân, trong nhiều trường hợp những cử chỉ, hành vi này thể hiện diễn biến tâm lý, đấu tranh tư tưởng của bị can khi khai báo hoặc bị can phản ứng việc làm sai trái của Điều tra viên.4.4 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng:Luật sư nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng để hiểu rõ sự việc phạm tội xảy ra có những người nào biết, nghiên cứu những xác nhận của họ về các tình tiết của sự việc như thế nào. Trên cơ sở đó, Luật sư sử dụng lời khai của những người làm chứng để bảo vệ cho bị cáo hoặc đương sự. Khi nghiên cứu bản ghi lời khai của người làm chứng trực tiếp hay gián tiếp biết về tình tiết của vụ án; mối quan hệ của người làm chứng với bị can, bị cáo, người bị hại như thế nào? Khi người làm chứng tiếp nhận các thông tin về tội phạm thì các điều kiện chủ quan (tinh thần, tuổi tác, nghề nghiệp, khả năng tiếp thu thông tin, nhận thức của người làm chứng…) và điều kiện khách quan ( không gian , thời gian, thời tiết, ánh sáng, âm thanh..nơi xảy ra vụ án) tác động ra sao? Những tình tiết trong lời khai của người làm chứng cần được sử dụng để bảo vệ cho bị can , bị cáo (ghi rõ số bút lục). Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa các lời khai của một người làm chứng teong các lần khai khác nhau hoặc mâu thuẫn giữa các lời khai của những người làm chứng thì phải tìm ra nguyên nhân, kiểm tra tính xác thực, trong trường hợp cần thiết phải đối chiếu với các lời khai, chứng cứ khác.4.5 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hạiLuật sư nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại để nắm vững diễn biến của tội phạm, các hành vi phạm tội của bị can, bị cáo đã thực hiện như thế nào? mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, quan điểm của người bị hại hoặc nhân thân của họ về việc giải quyết vụ án và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Khi nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại, cần chú ý so sánh, đối chiếu các lời khai của người bị hãi trong các lần khác nhau xem có phù hợp hay mâu thuẫn với nhau; đối chiếu giữa lời khai của người bị hại với lời khai của bị can, bị cáo thì Luật sư cần làm rõ mâu thuẫn trong lời khai của người bị hại với thực tế khách quan và với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nếu bảo vệ cho người bị hại, Luật sư cần nghiên cứu và ghi lại những tình tiết xac định hành vi phạm tội của bị can, bị cáo và các chứng cứ xác định về việc bồi thường thiệt hại là có cơ sở.4.6 Kỹ năng nghiên cứu biên bản đối chấtTrong hồ sơ vụ án có thể có nhiều biên bản đối chất giữa các bị can, bị cáo với nhau; biên bản đối chất giữa bị can và người làm chứng…Khi tham gia tố tụng, Luật sư cần nghiên cứu các biên bản này để có cơ sở đánh giá những lời khai còn mâu thuẫn. Nếu lời khai trong biên bản đối chất có lợi cho người được trợ giúp pháp lý thì cần ghi lại để sử dụng trong quá trình bảo vệ, bào chữa.4.7 Kỹ năng nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra …Nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra… nhằm kiểm tra xem các loại biên bản này có được thực hiện theo đúng trình tự và thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định hay không như có ghi trong thành phần người tham gia, ý kiến người chứng kiến hay không; những đồ vật cần niêm phong có chữ ký của chủ quản đồ vật hay không. Đối với hoạt động điều tra, thu thập vật chứng, Luật sư cần chú ý địa điểm và cách thức thu thập vật chứng, các đặc điểm riêng của vật chứng, quá trình thu thập vật chứng. Luật sư cần so sánh vật chứng với các chứng cứ khác xem có phù hợp hay không để xác định giá trị chứng minh nguồn chứng cứ này.4.8 Kỹ năng nghiên cứu kết luận giám định:Nghiên cứu kết luận giám định nhằm kiểm tra các điều kiện để đưa ra kết luận giám định có được bảo đảm hay không (vật chứng, số lượng, chất lượng đồ vật, tài liệu gửi đi giám định, thủ tục yêu cầu giám định…); các phương pháp được áp dụng để thực hiện giám định có cơ sở khoa học hay không. Luật sư cần so sánh kết luận giám định với các chứng cứ khác của vụ án để đánh giá độ chính xác của kết luận giám định. Nếu thấy kết quả giám định không có cơ sở tin cậy (thiếu cơ sở khoa học, không phù hợp với thực tiễn khách quan…) thì ghi lại và đề nghị với Tòa án yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại.4.9 Kỹ năng nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo và các biên bản, tài liệu khác.Luật sư cần nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo để hiểu rõ về nhân thân của họ; cần ghi tóm ắtt hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống của bị can, bị cáo. Đặc biệt khi bào chữ cho bị can, bị cáo phải chú ý ghi lại những điểm về nhân thân bị can, bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt để làm cơ sở đề nghị Toà án xem xét quyết định hình phạt. trường hợp luật sư bảo vệ cho người bị hại thì cần ghi lại những đặc điểm nhân thân bất lợi cho bị cáo như bị cáo có tiền án, tiền sự, những lần vi phạm pháp luật của bị cáo…Khi tham gia tố tụng, Luật sư cần nghiên cứu các biên bản, tài liệu khác như biên bản giao nhận cáo trạng, các biên bản xác minh của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; các nhận xét và đề nghị của các cơ quan đoàn thể; các đơn từ khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng. Luật sư cần nghiên cứu kỹ các tài liệu này nhằm tìm ra những chứng cứ có lợi cho thân chủ mà mình bảo vệ, bác bỏ những điểm mâu thuẫn, bất hợp lý để đề nghị Toà án bác bỏ, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ.5. Kỹ năng chuẩn bị luận cứ bào chữa cho bị cáoDù luật sư giỏi đến đâu chăng nữa, trước khi tham dự phiên tòa đều phải chuẩn bị đề cương chi tiết bài bào chữa, trong đó đặc biệt chú ý đến luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích cho bị cáo trên cơ sở những nhận định, đánh giá, buộc tội bì cáo trong hồ sơ vụ án và các tài liệu, chứng cứ, vật chứng có liên quan đến vụ án.Kết quả bào chữa phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị bài bào chữa. Nó giúp cho người bào chữa tự tin, giữ được tâm lý chủ động trong quá trình tranh tụng và lịp thời bổ sung thêm những lậun cứ mới phát sinh trong quá trình tranh tụng. Nếu không chuẩn bị tốt bài bào chữa, Luật sư sẽ rơi vào tình thế bị động, bào chữa tản mạn, dài dòng, lập luận không logic, chặt chẽ, thậm chí dùng những thuật ngữ không chính xác, bỏ sót những tình tiết có lợi cho bị cáo hoặc đương sự, không tập trung vào vấn đề mang tính bản chất nhằm gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.Để chuẩn bị bản luận cứ bào chữa tốt thì người bào chữa phải tổng hợp các tài liệu đã có trong hồ sơ, các tài liệu thu thập được sau khi nghiên cứu hồ sơ, các tài liệu do bị cáo và thân nhân của họ cung cấp; các tài liệu thu nhập được trong quá trình gặp người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án, các tài liệu đã xuất trình với cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị họ ch6áp nhận làm chứng cứ của vụ án và các văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, Luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hình sự,…mà người bào chữa sẽ sử dụng và viện dẫn khi bào chữa.Để xây dựng được một bài bào chữa ngắn gọn, xúc tích, lập luận chặt chẽ, logic và có sức thuyết phục, Luật sư phải tập trung trí tuệ phân tích các quan điểm, nhận định, đánh giá luận cứ buộc tội của Kiểm sát viên về diễn biến vụ án, đặc điểm phạm tội, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và các luận cứ buộc tội. Trên cơ sở đó, so sánh với nhận định, đánh giá, quan điểm của mình sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét hiện trường, tài liệu, chứng cứ, vật chứng có liên quan, tìm hiểu nhân thân bị cáo và tham khảo ý kiến cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quanhoặc biết vụ việc và đưa ra luận cứ của mình.Thông thường nội dung của bài bào chữa gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.– Phần mở đầu của bài bào chữa bao giờ cũng bắt đầu từ những lời thưa gửi xã giao, lịch thiệp: “Kính thưa Hội đồng xét xử; kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, thưa các quý vị…” thể hiện sự tôn trọng với tất cả mọi người. Sau đó, người bào chữa tự giới thiệu về bản thân mình, về tổ chức chủ quản, về lý do tham gia bào chữa, bảo vệ cho thân chủ. Ví dụ: Kính thưa Hội đồng xét xử, kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát, tôi là Nguyễn Văn A, trợ giúp viên pháp lý (Luật sư là cộng tác viên) của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đà Nẵng nhận nhiệm vụ bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý là bị cáo Nguyễn Văn B tại phiên toà sơ thẩm hôm nay.Có nhiều cách để mở đầu khác nhau nhưng nhìn chung, phần mở đầu phải giới thiệu để Hội đồng xét xử, những người tham gia phiên toà biết được người bào chữa, bảo vệ là ai, lý do tham gia bào chữa và bào chữa cho ai? Yêu cầu của phần mở đầu là phải gậy được sự chú ý cho ngừơi nghe, kích thích được sự quan tâm của tất cả những người có mặt ở phiên tòa và định hướng cho họ tiếp nhận những quan điểm, ý kiến tranh luận của Luật sư. Vì vậy, phần mở đầu cần ngắn gọn, rõ ràng, khúc triết, gây chú ý cho ngườ nghe ngay từ đầu.– Phần nội dung của bài bào chữa cần tập trung phân tích những nhận định, đánh giá, luận cứ buộc tội của cáo trạng và đưa ra những chứng cứ pháp lý chứng minh sự không đầy đủ, mâu thuẫn, không phù hợp với sự thật khách quan của vụ án để phủ nhận lời cáo buộc của Viện kiểm sát và gỡ tội cho bị cáo. Trong phần này phải nêu ra được các chứng cứ, phân tích được các tình tiết có lợi cho thân chủ, phải viện dẫn các căn cứ pháp luật theo hướng có lợi cho thân chủ để từ đó chứng minh cho định hướng bào chữa của mình. Trong trường hợp có tình tiết mới Luật sư thu thập được chứng cứ gỡ tội, giảm nhẹ tội thì sử dụng để bác bỏ luận cứ buộc tội của Viện kiểm sát. Để có luận cứ gỡ tội hoặc đề nghị giảm nhẹ tội, Luật sư phải nêu lên được điều kiện (nguyên nhân phạm tội), phân tích đặc điểm nhân cách của thân chủ lúc phạm tội dẫn đến động cơ phạm tội, làm rõ nguyên nhân dẫn đến bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và cấu trúc của hành vi phạm tội. Trong nhiều trường hợp, động cơ phạm tội quyết định hình thức lỗi là tình tiết định tội, định khung hình phạt, nhưng đồng thời cũng là những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Luật sư cần chú ý đề cập đến những vấn đề trên khi nó có tác dụng gỡ tội hoặc là tình tiết giảm nhẹ tội.– Phần kết luận của bài bào chữa cần ngắn gọn và biểu cảm, trong đó khẳng định quan điểm, nhận định cuối cùng của người bào chữa với những chứng cứ pháp lý rõ ràng và đưa ra những đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm, khoản, điều của các luật tương ứng để từ đó đưa ra những kết luận có lợi cho người được trợ giúp pháp lý cũng như việc giải quyết vần đề khác của vụ án. Cuối cùng, Luật sư thể hiện sự tin tưởng vào phán quyết công minh, bình đẳng, khách quan và đúng pháp luật của Hội đồng xét xử và chân thành cảm ơn.MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý:1. Khi chuẩn bị luận cứ bào chữa, sau mỗi ý phải để khoảng trống, cách dòng để có thể bổ sung thêm được những nội dung mới phát sinh tại Toà án, tránh phải sửa chữa, tẩy xoá trong bản bào chữa. Đây là kinh nghiệm thực tiễn có nhiều tiện ích nên người bào chữa cần lưu ý.2.Bài bào chữa dù soạn thảo cẩn thận đến đâu cũng không phải là hoàn hảo nhất vì nó được chuẩn bị trên cơ sở những gì đã có trong hồ sơ vụ án và những chứng cứ, tài liệu thu thập được. Nó có thể chưa đầy đủ hoặc thừa, vô dụng khi tại phiên toà phát sinh những tình tiết mới, sự kiện mới, chứng cứ mới hoặc bên buộc tội tự rút bỏ hoặc bổ sung thêm những chứng cứ buộc tội của mình. Vì vậy, luật sư cần phải tập trung cao độ chú ý lắng nghe khi Kiểm sát viên đọc bản luận tội, và những câu hỏi, trả lời, ý kiến tranh luận của những người tham gia phiên toà để kịp thời điều chỉnh quan điểm, nhận xét, đánh giá và đưa ra luận cứ gỡ tội phù hợp;3. Khi tranh tụng tại Toà án, Luật sư nên sử dụng đề cương chi tiết của bài bào chữa mà không nên đọc bài bào chữa chuẩn bị sẵn. Như vậy sẽ giúp cho luật sư tự tin và tự nhiên hơn, tự do, thoải mái hơn mà không phụ thuộc nhiều vào bài bào chữa. Đương nhiên là Luật sư phải thuộc bài bào chữa đã được chuẩn bị.4.Trước khi tham dự phiên toà, người bào chữa phải kiểm tra bản bào chữa, bài bảo vệ bằng cách đọc lại và rà soát lại nội dung, luận cứ bào chữa, đồng thời chuẩn bị tài liệu, chứng cứ cần thiết phục vụ bào chữa. Tài liệu, chứng cứ phục vụ bào chữa phải được sắp xếp khoa học, thuận tiện cho việc sử dụng tại phiên toà bằng cách tài liệu nào cần sử dụng trước thì để lên trên, cái nào sử dụng sau thì để xuống dưới, tráng trường hợp khi cần viện dẫn thì tìm mãi không thấy.