0888889366
Danh mục
LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Nguyễn Phương Thảo
10 ngày trước
timeline_post_file632efd384b69b-bnn.jpg.webp
VAY TIỀN NGÂN HÀNG SỬ DỤNG SAI MỤC ĐÍCH, CHỦ DOANH NGHIỆP Ở PHÚ YÊN BỊ BẮT
Một giám đốc bị bắt vì vay ngân hàng để trả nợ mà sử dụng không đúng với phương án kinh doanh, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.Ngày 18/9, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Yên xác nhận, vừa tống đạt quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Nguyễn Thành Hiếu, sinh năm 1978 – Giám đốc Công ty TNHH Thương Mại Sản xuất Xây dựng Hiếu Anh (Công ty Hiếu Anh), địa chỉ trụ sở tại huyện Bình Chánh, TP.HCM về tội Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 179 BLHS năm 1999.Theo kết quả điều tra ban đầu, từ ngày 15/02/2008 đến tháng 10/2009, Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu Nông thổ sản An Bình (Công ty An Bình) ký kết các hợp đồng tín dụng vay của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Phú Yên (BIDV Phú Yên), có cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm khoản vay, trong đó thế chấp 08 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng Nguyễn Thành Hiếu. Đến tháng 12/2009, Công ty An Bình mất khả năng thanh toán số tiền gốc và lãi còn lại, hàng hóa cầm cố không còn tồn kho, tài sản thế chấp không đủ pháp lý phát mãi thu hồi nợ, Công ty An Bình tự tan rã.Để thu hồi số nợ trên, BIDV Phú Yên đã tiến hành làm việc với Hiếu và đại diện Công ty An Bình đối chiếu công nợ giữa Công ty An Bình với Công ty Hiếu Anh, xác định Công ty Hiếu Anh còn nợ tiền nên Hiếu đồng ý trả nợ cho BIDV Phú Yên thay Công ty An Bình.Ngày 06/01/2010 và ngày 16/3/2010, BIDV Phú Yên đã ký 02 hợp đồng tín dụng cho Công ty Hiếu Anh vay tổng số tiền 40.000.000.000 đồng. Mặc dù Hiếu biết rõ phần lớn tiền vay tại 02 hợp đồng này được sử dụng để trả nợ thay Công ty An Bình, nên phương án kinh doanh không khả thi, không đáp ứng đầy đủ điều kiện vay vốn nhưng Hiếu vẫn thống nhất cùng với cán bộ, lãnh đạo BIDV Phú Yên lập hồ sơ vay nhằm giúp BIDV Phú Yên thu hồi nợ của Công ty An Bình số tiền 30.081.000.000 đồng, số tiền giải ngân còn lại Hiếu rút sử dụng không đúng theo theo phương án kinh doanh đã đăng ký vay và không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.Trước đó, 07 Lãnh đạo, cán bộ BIDV Phú Yên đã bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Phú Yên khởi tố, điều tra về cùng tội danh Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng theo khoản 3 Điều 179 BLHS năm 1999, gồm: Nguyễn Công - Giám đốc, Nguyễn Văn Tuyến - Phó Giám đốc, Nguyễn Duy Sinh - Phó Giám đốc, Nguyễn Phú Phong - Trưởng phòng Quan hệ khách hàng 1, Võ Hồng Phong - cán bộ Phòng Quan hệ khách hàng 1, Lê Tấn Đức - Trưởng phòng Quản lý rủi ro và Nguyễn Đại Hòa - Phụ trách phòng QTTD. Trên đây là bài viết của chúng tôi về tin tức pháp luật mới nhất.Công ty Luật Legalzone Hotline tư vấn: 088.888.9366 Email: Support@legalzone.vn Website: https://legalzone.vn/  Hệ thống: Thủ tục pháp luật Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội    
Lê Phương Thảo
20 ngày trước
timeline_post_file63213e7f0bf43-istockphoto-1380157840-170667a.jpg.webp
Chủ doanh nghiệp tư nhân từng phá sản có được làm giám đốc ngân hàng không?
Theo Khoản 1 Điều 33 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đươc bổ sung bởi Khoản 6 Điều 1 Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi 2017 quy định về những người không được đảm nhiệm chức danh giám đốc ngân hàng như sau:1. Những người sau đây không được là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) và chức danh tương đương của tổ chức tín dụng:a) Người thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều này;b) Người thuộc đối tượng không được tham gia quản lý, điều hành theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật về phòng, chống tham nhũng;c) Người đã từng là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Tổng giám đốc (Giám đốc), thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát của doanh nghiệp, Chủ nhiệm và các thành viên Ban quản trị hợp tác xã tại thời điểm doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản, trừ trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản vì lý do bất khả kháng;d) Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tại thời điểm doanh nghiệp bị đình chỉ hoạt động, bị buộc giải thể do vi phạm pháp luật nghiêm trọng, trừ trường hợp là đại diện theo đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấn chỉnh, củng cố doanh nghiệp đó;đ) Người đã từng bị đình chỉ chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Trưởng Ban kiểm soát, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức tín dụng theo quy định tại Điều 37 của Luật này hoặc bị cơ quan có thẩm quyền xác định người đó có vi phạm dẫn đến việc tổ chức tín dụng bị thu hồi Giấy phép;e) Người có liên quan của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) không được là thành viên Ban kiểm soát của cùng tổ chức tín dụng;g) Người có liên quan của Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên không được là Tổng giám đốc (Giám đốc) của cùng tổ chức tín dụng.h) Người phải chịu trách nhiệm theo kết luận thanh tra dẫn đến việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng ở khung phạt tiền cao nhất đối với hành vi vi phạm quy định về giấy phép, quản trị, điều hành, cổ phần, cổ phiếu, góp vốn, mua cổ phần, cấp tín dụng, mua trái phiếu doanh nghiệp, tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.Theo quy định trên người từng là chủ doanh nghiệp tư nhân bị phá sản thì sẽ không đủ điều kiện để được làm giám đốc ngân hàng.Trên đây là bài viết của chúng tôi về tin tức pháp luật mới nhất. Nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết, vui lòng liên hệ Công ty Luật Legalzone Hotline tư vấn: 088.888.9366 Email: Support@legalzone.vn Website: https://legalzone.vn/  Hệ thống: Thủ tục pháp luật Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội 
Lê Thị Hồng Tới
25 ngày trước
timeline_post_file631b4f7205b41-tai-chinh-2--1-.jpg.webp
Hơn 10.000 người bị lừa vay tiền ngân hàng lãi suất thấp
Hơn 10.000 người bị lừa vay tiền ngân hàng lãi suất thấpTHỪA THIÊN - HUẾ Lại Thị Ngọc Trang, 31 tuổi và Nguyễn Văn Trường, 20 tuổi, bị khởi tố về hành vi tổ chức đường dây giả danh cán bộ ngân hàng, lừa hơn 10.000 người muốn vay tiền.Các quyết định tố tụng được Công an thị xã Hương Trà ban hành ngày 8/9. Vụ án được phát hiện từ đơn trình báo của nữ tiểu thương 39 tuổi, ở Quảng Phú, huyện Quảng Điền.Chị cho hay có một người xưng nhân viên ngân hàng gọi điện thoại giới thiệu các gói vay vốn không cần thế chấp, lãi suất thấp, giải ngân nhanh. Tin lời, người phụ nữ đồng ý vay 40 triệu đồng để rồi bị lừa gần 43 triệu đồng.Xác định người mạo danh nhân viên ngân hàng đang ở TP HCM, thượng tá Nguyễn Tiến Dũng (Phó trưởng Công an  thị xã Hương Trà) vào TP HCM phối hợp với Công an TP HCM và các đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công an. Từ đây, nhà chức trách xác định nhóm lừa đảo đang ở trong khu dân cư Phong Phú, xã Phong Phú, huyện Bình Chánh.Trang là nghi phạm chính, khai đã thuê nhà và lập Công ty TNHH Kinh doanh đầu tư Hưng Thịnh, sau đó tuyển dụng nhân viên, hướng dẫn phương thức lừa đảo, trả lương, chi hoa hồng và tổ chức hoạt động lừa đảo. Nhóm này mua thông tin của mỗi khách hàng với giá từ 3.000 đến 10.000 đồng, sau đó phân công nhân viên giả danh người của ngân hàng gọi điện thoại giới thiệu các gói vay không cần thế chấp. Nếu khách hàng đồng ý vay, chúng yêu cầu gửi ảnh thẻ căn cước công dân hoặc chứng minh thư và hộ khẩu để làm hồ sơ xét duyệt.Gọi lại thông báo hồ sơ đã được duyệt, chúng yêu cầu khách hàng đóng tiền bảo hiểm khoản vay, giải thích tiền này sẽ hoàn lại khi giải ngân. Vài ngày sau đó, nhóm nghi phạm gọi lại thông báo chuẩn bị giải ngân, đề nghị nộp trước tiền trả góp tháng thứ nhất. Với nhiều trường hợp, đường dây này thông báo hồ sơ trục trặc để yêu cầu khách hàng nộp thêm phí hoặc nộp tiền trả góp tháng hai hay yêu cầu nộp thêm tiền hỗ trợ làm hồ sơ hoặc các chi phí khác.Bằng thủ đoạn này, từ tháng 10/2021 đến nay, trung bình mỗi tháng công ty thu khoảng 1,2 tỷ đồng. Tổng số nạn nhân ước tính hơn 10.000 người ở khắp cả nước, công an cho hay.
PHAN THỊ GIANG UYÊN
27 ngày trước
timeline_post_file6318257d023b0-y.jpg.webp
TÓM TẮT BẢN ÁN SỐ: 29/2017/KDTM-PT NGÀY: 04/5/2017 V/V: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG XÉT XỬ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Trong các ngày 03/5/2017 và 04/5/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 88/2016/TLPT-KDTM ngày 07/12/2017 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm 05/2016/KDTM- ST ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân quận NTL, TP Hà Nội bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2017/QĐXX-PT ngày 21/03/2017, Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2017/QĐPT- KDTM ngày 11/4/2017, Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2017/QĐPT- KDTM ngày 25/4/2017* Nội dung bản án:Ông Nguyễn Duy T và bà Đỗ Thị Q đã dùng khối tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo lãnh cho Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng E và Công ty Q (Hợp đồng tín dụng số 1701LAV201101190 ngày 14/11/2011) với số tiền vay là 3.100.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 14/01/2011 đến ngày 14/7/2012; tài sản đảm bảo là quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất, tại địa chỉ TT QL, phường QL, quận HBT, TP Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do UBNDTP Hà Nội cấp ngày 24/07/2002 đứng tên ông Nguyễn Duy T và bà Đỗ Thị Q. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng ngày 11/11/2011 tại Phòng công chứng số 3- TP Hà Nội. Đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 14/11/2011 tại Văn phòng đăng ký đất và nhà UBND quận HBT. Ông T và bà Q sẽ tự nguyện tuân thủ mọi quy định của pháp luật, tự nguyện cùng Công ty thanh toán khoản nợ nói trên. Ông bà đề nghị phía Ngân hàng cơ cấu lại khoản nợ để ông bà cùng Công ty có thời gian trả nợ. Tài sản đảm bảo cho khoản vay hiện do ông T, bà Q đang quản lý sử dụng, kể từ thời điểm thế chấp đến nay vẫn giữ nguyện hiện trạng. Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 05/2016/KDTM- ST ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân quận NTL đã xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, về việc “Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng TMCP E đối với Công ty CP Q. - Buộc Công ty CP Q phải thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP E, số tiền nợ gốc, tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng là 5.520.626.390 đồng. Trong đó tiền nợ gốc là 3.100.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh là 2.420.626.390 đồng. Trường hợp Bản án có hiệu lực pháp luật mà Công ty CP Q không trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ gốc và tiền lãi phát sinh trên theo Hợp đồng tín dụng thì Ngân hàng TMCP E có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án tiến hành kê biên phát mại tài sản đảm để thu hồi nợ, cụ thể khối tài sản là quyền sử dụng 58,70m2 đất ở, hình thức sử dụng riêng và toàn bộ tài sản trên đất tại địa chỉ TT QL, phường QL, quận HBT, TP Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do UBND TP Hà Nội cấp ngày 24/07/2002 đứng tên ông Nguyễn Duy T và bà Đỗ Thị Q. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng ngày 5 11/11/2011 tại Phòng công chứng Số 3- TP Hà Nội. Đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 14/11/2011 tại Văn phòng đăng ký đất và nhà UBND quận HBT. Bác các yêu cầu khác của các đương sự. Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.* kháng cáo phúc thẩm:Đại diện của bị đơn là Công ty Q trình bày: Công ty Q đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại Bản án, đặc biệt về cách tính lãi của Ngân hàng E là chưa đúng. Căn cứ vào bảng kê tính lãi Ngân hàng E xuất trình tại phiên tòa thì Ngân hàng đã không điều chỉnh lãi suất theo thỏa thuận mà hai bên đã ký kết tại Hợp đồng tín dụng, ví dụ như giai đoạn từ 08/12/2014 đến 23/5/2014, theo thông báo lãi suất của Ngân hàng E thì phải điều chỉnh lãi suất xuống 9%/năm nhưng Ngân hàng E vẫn áp mức lãi suất 10%/năm là ảnh hưởng để quyền lợi của Công ty Q. Hơn nữa, thực tế thì hiện nay Công ty Q đang gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình kinh doanh, đề nghị Ngân hàng E tạo điều kiện cho Công ty được cơ cấu lại khoản nợ và giảm tiền lãi để Công ty thu xếp trả nợ dần cho Ngân hàng. Về yêu cầu phát mại tài sản thế chấp là nhà đất đứng tên ông Nguyễn Duy T và bà Đỗ Thị Q: Công ty Q sẽ có trách nhiệm trả nợ, tuy nhiên do hiện nay Công ty đang rất khó khăn nên đề nghị Ngân hàng E tạo điều kiện cho Công ty được trả nợ dần và tạo điều kiện để ông T, bà Q có chỗ ở vì ông bà đã già và không có chỗ ở nào khác.* Nhận định của tòa án:Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn đề nghị tính lại các khoản lãi theo Hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi hai bên ký kết Hợp đồng tín dụng, Phụ lục hợp đồng các bên đã thoả thuận thời hạn vay, mức lãi suất, lãi phạt quá hạn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối nên có hiệu lực thi hành đối với các bên. Hợp đồng tín dụng hai bên ký kết thỏa thuận về lãi suất cụ thể như sau: lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 21%/năm; chu kỳ thay đổi lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ 01 tháng một lần, kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực. Lãi suất được điều chỉnh áp dụng cho toàn bộ dư nợ của hợp đồng này từ thời điểm điều chỉnh cho đến thời điểm điều chỉnh tiếp theo...; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Theo bảng kê tính lãi và các quyết định điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng E xuất trình, Hội đồng xét xử thấy: Mức lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn các bên thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật và có hiệu lực thi hành đối với các bên. Ngân hàng E đã xuất trình các Thông báo lãi suất điều chỉnh thay đổi theo từng thời thời kỳ (bút lục từ 168 đến 185). Tuy nhiên, theo bảng kê tính lãi Ngân hàng E xuất trình tại Tòa án thì giai đoạn từ ngày 31/03/2014 đến ngày 30/3/2015 mức lãi suất áp dụng tại thời điểm này của Ngân hàng E là 10%/năm; từ 31/3/2015 đến 23/5/2015 mức lãi suất là 10%/năm,nhưng theo Thông báo lãi suất số 5788/2014/EIB/TB- TGĐ ngày 08/12/2014 và Thông báo lãi suất số 1312/2015/EIB- TGĐ ngày 23/3/2015 của Ngân hàng E thì giai đoạn này cần điều chỉnh mức lãi suất nhưng Ngân hàng lại áp dụng mức lãi suất là 10%/năm cho cả hai giai đoạn trên là chưa đúng với Thông báo thay đổi lãi suất của Ngân hàng E, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Công ty Q. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần điều chỉnh mức lãi suất áp dụng đối với Công ty Q, cụ thể là từ ngày 08/12/2014 đến ngày 13/4/2015 áp dụng mức lãi suất 10%; từ ngày 14/4/2015 đến ngày 23/5/2015 áp dụng mức lãi suất 9%/năm. Các giai đoạn khác vẫn giữ nguyên mức lãi suất như bảng kê tính lãi Ngân hàng E đã xuất trình. Như vậy, yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại về lãi suất là có cơ sở để chấp 9 nhận, cần sửa Bản án sơ thẩm về phần lãi suất, cụ thể: - Tiền lãi trong hạn: 1.725.537.501 đồng. - Tiền lãi quá hạn: 689.922.222 đồng. Như vậy, tổng cộng số tiền nợ gốc, tiền lãi phát sinh Công ty Q phải trả cho Ngân hàng E là: 5.515.459.723 đồng. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định về cách tính lãi suất tại khoản 2 Điều 305, khoản 1 Điều 476, khoản 5 Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005 và Thông tư số 33/2012/TT- NHNN ngày 21/12/2012 của Ngân hàng nhà nước để điều chỉnh mức lãi suất áp dụng đối với Công ty Q, Hội đồng xét xử thấy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp Hợp đồng tín dụng, chịu sự điều chỉnh của luật chuyên ngành là Luật các tổ chức tín dụng nên không áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự về tính lãi suất trong vụ án này. Hơn nữa, theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Thông tư số 33/2012/TTNHNN ngày 21/12/2012 đã quy định: “Lãi suất áp dụng đối với các hợp đồng tín dụng được ký kết trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành được tiếp tục thực hiện theo hợp đồng tín dụng đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng”. Ngân hàng E và Công ty Q ký kết Hợp đồng tín dụng ngày 14/11/2011, do đó Thông tư số 33/2012/TT- NHNN có hiệu lực ngày 24/12/2012 không áp dụng trong trường hợp này. Như vậy, đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận. Về yêu cầu kê biên, phát mại tài sản bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng, trong trường hợp Công ty Q không thanh toán được nợ hoặc thanh toán không đầy đủ, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tài sản bảo đảm cho khoản vay bao gồm quyền sử dụng 58,70m2 đất ở, hình thức sử dụng riêng và toàn bộ tài sản trên đất tại địa chỉ TT QL, phường QL, quận HBT, TP Hà Nội. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở do UBNDTP Hà Nội cấp ngày 24/07/2002 đứng tên ông Nguyễn Duy T và bà Đỗ Thị Q. Hợp đồng thế chấp đó được công chứng ngày 11/11/2011 tại Phòng công chứng Số 3- TP Hà Nội. Đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 14/11/2011 tại Văn phòng đăng ký đất và nhà UBND quận HBT. Tài sản đảm bảo cho khoản vay hiện ông T và bà Q đang quản lý, sử dụng, kể từ khi thế chấp cho đến nay khối tài sản vẫn giữ nguyên hiện trạng. Xét hợp đồng thế chấp tài sản đảm bảo cho khoản vay được ký kết giữa Ngân hàng E, Công ty Q với vợ chồng ông Nguyễn Duy T và bà Đỗ Thị Q là tự nguyện. Các tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của người thế chấp. Hợp đồng được lập tại Phòng công chứng Số 3-TP Hà Nội đã tuân thủ đúng 10 theo quy định của pháp luật. Các tài sản thế chấp đã được đăng ký bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, nên Hợp đồng thế chấp là hợp pháp. Như vậy, yêu cầu xử lý về tài sản đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng của Ngân hàng E trong trường hợp Công ty Q không thanh toán được nợ hoặc thanh toán không đầy đủ là có căn cứ nên được chấp nhận. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, sửa một phần Bản án sơ thẩm về cách tính lãi. Về án phí: do sửa Bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không chịu án phí phúc thẩm.* Nội dung pháp lý liên quan:- Các điều 293, 294, 307 và 308 Bộ luật tố tụng dân sự; - Các điều 122, 318, 322, 717 và 719 Bộ luật dân sự năm 2005; - Các điều 91 và 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; - Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án. Trên đây là bài viết của Công ty luật Legalzone về bản án số: 29/2017/KDTM-PT Ngày: 04/5/2017 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. Mọi thắc mắc xin liên hệ Công ty luật LegalzoneHotline tư vấn: 088.888.9366 Email: Support@legalzone.vn Website: https://legalzone.vn/  Hệ thống: Thủ tục pháp luật Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội. 
PHAN THỊ GIANG UYÊN
41 ngày trước
timeline_post_file63059fec5cec0-vay-t.jpg.webp
TRIỆT PHÁ BĂNG NHÓM CHUYÊN CHO VAY LÃI NẶNG Ở LÂM ĐỒNG
Chiều 23/8, băng nhóm chuyên cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự quê tỉnh Hà Nam đã bị Công an tỉnh Lâm Đồng khởi tố, bắt tạm giam để phục vụ công tác điều tra. Các đối tượng gồm Vũ Văn Ninh (SN 1998), Phan Hữu Vương (SN 1992), Vũ Văn Trọng (SN 1996), Nguyễn Văn Thông (SN 1992), Vũ Quang Điệp (SN 1992), Trần Đình Khải (SN 1992), Đỗ Đại Thành (SN 1990), Vũ Mạnh Thắng (SN 1996), và Đỗ Văn Hải (SN 1993), tất cả đều có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Hà Nam, tạm trú tại phường 4, TP Đà Lạt.Theo điều tra ban đầu, để lôi kéo được nhiều người vay tiền với lãi suất cao, các đối tượng trên thường xuyên nhắn tin, đăng bài với nội dung cho vay tiền, thủ tục giải ngân nhanh gọn lên các nền tảng mạng xã hội, nhất là Zalo và facebook. Thậm chí, nhóm này còn tới các địa điểm đông người để mời chào cho vay tiền.Điều kiện để được vay tiền là người vay chỉ cần cung cấp hình ảnh về các giấy tờ chứng minh thông tin cá nhân như sổ hộ khẩu, giấy phép lái xe, CCCD… sau đó chúng sẽ đến tận nhà để xác minh và giải ngân ngay. Người vay chọn trả góp cả gốc và lãi hằng ngày hoặc trả lãi theo ngày bằng hình thức trực tiếp và qua chuyển khoản ngân hàng cho tới khi trả xong cả gốc lẫn lãi. Khi người vay “sập bẫy”, dù chọn hình thức trả cả gốc và lãi theo ngày, hay chỉ lãi theo ngày, thì nhóm này vẫn thu 10% phí dịch vụ.  Qua điều tra ban đầu, cơ quan Công an xác định nhóm này cho nhiều người vay tiền lãi suất rất cao, lên tới hơn 500%/năm. Đặc biệt, trong số những người vay tiền có nhiều người khi không thể trả được nợ cũ đã tiếp tục vay mới để trả nợ khiến số dư nợ lớn nhanh không kiểm soát. Hằng ngày, nhiều gia đình đã vay tiền bị nhóm này tới uy hiếp, gây sức ép đòi nợ khiến không ít cặp vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thậm chí phải bỏ trốn khỏi nhà để tránh khỏi sự “khủng bố” của nhóm cho vay lãi nặng này.Xác định đây là nhóm cho vay lãi nặng được tổ chức rất chuyên nghiệp, ảnh hưởng tới ANTT và cuộc sống của nhiều gia đình, Giám đốc Công an tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo Phòng Cảnh sát hình sự phối hợp với Công an các huyện, thành phố khẩn trương vào cuộc điều tra. Do các đối tượng khi cho vay không ký kết hợp đồng mà chỉ thỏa thuận qua tin nhắn, cuộc gọi nên quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của lực lượng chức năng gặp rất nhiều khó khăn. Hơn nữa, một số nạn nhân vì sợ ảnh hưởng đến uy tín, công việc làm ăn nên không muốn hợp tác với cơ quan điều tra. Tuy nhiên, với quyết tâm cao, các trinh sát đã từng bước thu thập đủ tài liệu, chứng cứ để xử lý băng nhóm cho vay lãi nặng trên.Bị cơ quan điều tra triệu tập làm việc, các đối tượng khai nhỏ giọt, chỉ thừa nhận một số lần cho vay qua hợp đồng có ký cả 2 bên. Tuy nhiên, với những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, đến nay cơ quan điều tra đã làm rõ gần 40 người vay tiền của nhóm trên, số tiền cả gốc và lãi lên tới hàng trăm triệu đồng.  Trên đây là bài viết của chúng tôi về tin tức pháp luật mới nhất. Nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết, vui lòng liên hệ Công ty Luật Legalzone Hotline tư vấn: 088.888.9366 Email: Support@legalzone.vn Website: https://legalzone.vn/  Hệ thống: Thủ tục pháp luật Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội  
PHAN THỊ GIANG UYÊN
43 ngày trước
timeline_post_file6302e53091046-ii.jpg.webp
BIẾN TƯỚNG CỦA TÍN DỤNG ĐEN: ÉP CHỤP ẢNH KHOẢ THÂN CHO VAY NẶNG LÃI
Trước hiện trạng nhiều người vay lãi nặng phải chấp nhận thế chấp ảnh, video khoả thân kèm theo giấy tờ tuỳ thân cho chủ nợ - thủ đoạn mới nhằm khống chế con nợ, các bộ ngành đã có cảnh báo.    Thủ đoạn của tội phạm cho vay lãi nặngVừa qua, Phòng Cảnh sát hình sự (Công an TP.Hà Nội) thông tin đã phối hợp với Cục Cảnh sát hình sự (Bộ Công an) triệt phá đường dây cho vay lãi nặng qua app và đòi nợ thuê có quy mô xuyên quốc gia. Đường dây này liên quan đến gần 300 nghi phạm, trong đó có các đối tượng người nước ngoài.Nếu "con nợ" không thanh toán được tiền gốc như cam kết, số tiền sẽ được nhân lên, "lãi mẹ đẻ lãi con" lên tới 1.570% - 2.190%/năm. Khi người vay không thanh toán được, các đối tượng sẽ cho bộ phận đòi nợ được phân cấp khác nhau nhắn tin, gọi điện nhắc nhở, đe dọa, khủng bố tinh thần từ "con nợ" đến người thân của họ và toàn bộ các mối quan hệ trong danh bạ điện thoại mà "con nợ" cung cấp trước đó.Thậm chí, các đối tượng còn cắt ghép hình ảnh của "con nợ" rồi tung lên mạng xã hội nhằm bôi nhọ uy tín, hạ danh dự, làm nhục để thúc ép "con nợ", hoặc người nhà phải trả tiền, gây bức xúc trong dư luận.Ngày 17.8, Công an tỉnh Đắk Lắk đã bắt tạm giam đối tượng Bùi Thanh Nguyên (21 tuổi, trú tại phường Tân Lợi, TP.Buôn Ma Thuột) để điều tra, làm rõ về hành vi “Cưỡng đoạt tài sản”. Nguyên cho một cô bé 14 tuổi vay 45 triệu đồng và ép nạn nhân thế chấp bằng 3 đoạn clip và một ảnh nóng. Khi không trả được tiền do lãi cao, cô bé bị Nguyên gửi số clip, ảnh này cho gia đình. Hành vi của Nguyên bị phát hiện khi gia đình tố cáo công an.Cảnh báo trước biến tướng của tín dụng đenTiến sĩ - luật sư Đặng Văn Cường (Đoàn Luật sư Hà Nội) cho biết, theo Bộ luật Dân sự, thế chấp tài sản là một trong những biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tài sản thế chấp thường là vật hoặc quyền tài sản, phải có các thuộc tính là có thể quản lý, sử dụng, định đoạt.Ảnh, video khoả thân là thông tin cá nhân thuộc về quyền nhân thân chứ không phải quan hệ tài sản. Bởi vậy, việc thế chấp cho các khoản vay lãi nặng bằng hình này không được xác định là biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự một cách hợp pháp. Đây chỉ là thủ đoạn uy hiếp tinh thần của người vay, buộc trả nợ.Trung tướng Trần Ngọc Hà - Cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự, Bộ Công an - nhận định, các đối tượng hoạt động tín dụng đen thường lập các doanh nghiệp núp bóng, cho vay trực tuyến, vay qua ứng dụng hoặc lập các tài khoản, hội nhóm trên mạng xã hội (Zalo, Facebook)... len lỏi, tiếp cận, mời chào số lượng lớn người có nhu cầu vay tiền.   Các đối tượng này thu thêm nhiều khoản phí, tiền phạt trái pháp luật; lập các hợp đồng mua bán, giao nhận tiền, tài sản khống; ép người đi vay thực hiện khống các hành vi vi phạm pháp luật nhằm gây bất lợi về pháp lý cho người vay; một số hợp đồng vay tiền tuy số tiền vay nhỏ, thời gian vay ngắn nhưng lãi suất gấp nhiều lần. Khi khách hàng cài đặt ứng dụng vay và để lại thông tin cá nhân, sẽ có đối tượng liên hệ, mời chào vay tiền và cài đặt các ứng dụng vay khác. Các ứng dụng này có khả năng truy cập thu thập danh bạ, lịch sử tin nhắn, cuộc gọi, thông tin tài khoản mạng xã hội… của người vay để sử dụng khi đòi nợ hoặc cho những mục đích trái pháp luật khác.Trước những biến tướng của tín dụng đen đang len lỏi vào công nhân lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, mới đây, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng có cảnh báo về tình trạng cho vay lãi nặng với những chiêu thức ngày càng tinh vi, được quảng cáo công khai, rộng rãi như dịch vụ hỗ trợ tài chính, cầm đồ, vay nhanh, trả gọn...Theo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, hoạt động “tín dụng đen” biến tướng dưới mọi hình thức như khuyến mãi, hoa hồng, huy động vốn để đầu tư, ủy thác đầu tư trái phiếu… với lãi suất cao. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cảnh báo về tình trạng cho vay lãi nặng hoành hành với những chiêu thức ngày càng tinh vi và khẳng định, đó là những hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của nhân dân, trong đó có công nhân lao động. Nghiêm trọng hơn, các đối tượng liên quan đến “tín dụng đen” còn có thủ đoạn bôi nhọ, xâm phạm đời tư, đe dọa cán bộ công đoàn nhằm gây sức ép, đòi nợ công nhân lao động.Trước tình hình đó, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đề nghị các cấp Công đoàn thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, phương tiện thông tin cơ sở, mạng xã hội… đẩy mạnh tuyên truyền để công nhân lao động biết, cảnh giác và tố giác; không để “tín dụng đen” tiếp cận công nhân lao động. Trên đây là bài viết của chúng tôi về tin tức pháp luật mới nhất. Nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết, vui lòng liên hệ Công ty Luật Legalzone Hotline tư vấn: 088.888.9366 Email: Support@legalzone.vn Website: https://legalzone.vn/  Hệ thống: Thủ tục pháp luật Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội 
Đỗ Quyên
125 ngày trước
timeline_post_file6297237480b37-pasted-image-0.jpg.webp
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng - khách hàng cá nhân
Tóm tắt bản án số 10/2018/KDTM-ST ngày 25/10/2018 về tranh chấp hợp đồng tín dụngNội dung vụ ánNgày 26/4/2017 ông N có ký hợp đồng tín dụng vay từng lần số tiền 500 triệu trong 60 tháng để mua xe ô tô tải.Lãi suất cho vay trong 12 tháng đầu là 11%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Và có tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu THACO; biển số 83C-051.11.Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, N còn nợ ngân hàng tiền vốn gốc là 375,5 triệu và 9,9 triệu tiền lãi. Vậy nên, tổng số tiền ngân hàng yêu cầu N phải trả là 385,4 triệu. Trong trường hợp N không thanh toán được khoản nợ thì ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo là xe ô tô.Nhận định của tòa ánChấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng: buộc ông N có trách nhiệm trả tiền vốn và tiền lãi 385,4 triệu còn nợ cho ngân hàng. Trường hợp ông N không thanh toán số tiền trên thì ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp.Yêu cầu ông N tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán hết nợ.Luận cứ vụ ánCăn cứ Khoản 1 Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005; Căn cứ Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 xác định nghĩa vụ trả nợ của ông N đối với Ngân hàng.Trên đây là thông tin của chúng tôi về bản án số 10/2018/KDTM-ST, để biết thêm thông tin chi tiết và được hướng dẫn thực hiện vui lòng liên hệ Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà NộiEmail: Support@legalzone.com Hotline: 0888889366 
Đỗ Quyên
144 ngày trước
timeline_post_file627e35eb4c8d0-6038_28815141913chotjpg.jpg.webp
Bản án về tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tóm tắt bản án số 02/2022/KDTM-ST, ngày 21/3/2022 về tranh chấp hợp đồng tín dụngNội dung vụ ánÔng S ký hợp đồng vay vốn 1 tỷ 8 thời hạn 12 tháng với Ngân hàng để bổ sung vốn lưu động cho hoạt động sản xuất, kinh doanh cao lanh. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn.Tính đến ngày xét xử 21/3/2022 S còn nợ ngân hàng 179 triệu gốc; 440 triệu lãi quá hạn; 7,6 triệu chậm trả lãi.Ông S đảm bảo khoản vay bằng  2 GCNQSDĐ ở xá Long Phước.Ngân hàng khởi kiện yêu cầu S thanh toán đầy đủ khoản nợ gốc và tiền lãi. Trường hợp ông S không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị cho phát mại tài sản đảm bảo.Nhận định của Tòa ánChấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng về nghĩa vụ thanh toán nợ đối với ông S.Yêu cầu ông S tiếp tục trả tiền lãi của nợ gốc kể từ ngày 22/3/2022 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận.Chấp nhận đề nghị phát mại tài sản thế chấp nếu ông S không trả được nợ.Luận cứ vụ ánCăn cứ Điều 91, 95 Luật Tổ chức tín dụng 2010 cần xác định nghĩa vụ thanh toán của ông S đối với ngân hàng.Trên đây là thông tin của chúng tôi về bản án số 02/2022/KDTM-ST, để biết thêm thông tin chi tiết và được hướng dẫn thực hiện vui lòng liên hệ Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà NộiEmail: Support@legalzone.comHotline: 0888889366
Đỗ Quyên
146 ngày trước
timeline_post_file627b455f71bf4-vay-tien-theo-gpkd.jpg.webp
Bản án về hợp đồng tín dụng
Tóm tắt bản án số 05/2022/KDTM-ST ngày 30/3/2022 về hợp đồng tín dụngNội dung vụ ánDo nhu cầu vay vốn nên công ty D đã ký 2 hợp đồng vay vốn với ngân hàng N: từng lần trung dài hạn 1 tỷ 3 và vay theo hạn mức 2 tỷ 1.Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ngân hàng có nhận thế chấp các tài sản sau: quyền sử dụng đất: diện tích 202,4 m2; Cửa hàng xăng dầu gắn liền với quyền sử dụng đất có diện tích 836,9 m2; 1 xe ô tô con nhãn hiệu HINO.Do công ty D đã vi phạm về nghĩa vụ thanh toán nên phía ngân hàng N yêu cầu D phải thanh toán khoản tiền nợ gốc hơn 3,1 tỷ; tiền lãi trong hạn hơn 312 triệu và lãi quá hạn hơn 94 triệu.Nhận định Tòa ánCông nhận 2 bản hợp đồng vay vốn đúng quy định và có hiệu lực pháp luật.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện yêu cầu thanh toán nợ gốc và tiền lãi của ngân hàng N.Chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo và tiếp tục tính lãi cho đên khi thanh toán hết nợ đối với công ty D của ngân hàng N.Buộc phía công ty D chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí thẩm định tại chỗ.Luận cứ vụ ánCắn cứ  khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng 2010 cần xác định nghĩa vụ thanh toán của công ty D.Trên đây là thông tin của chúng tôi về bản án số 05/2022/KDTM-ST, để biết thêm thông tin chi tiết và được hướng dẫn thực hiện vui lòng liên hệ.Địa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà NộiEmail: Support@legalzone.com Hotline: 0888889366
Bài viết được xem nhiều nhất
timeline_post_file60b5ae152557b-z2525705382890_4823d01a4c2e2134a94faa33ef20bc2f.jpg.webp
KHỦNG HOẢNG TRUYỀN THÔNG - ẢNH HƯỞNG – BÀI HỌC XỬ LÝ  KHỦNG HOẢNG Khủng hoảng truyền thông có thể xảy ra với các thương hiệu bất kỳ lúc nào nhất là trong thời đại mạng xã hội đang bùng nổ. Việc kiểm soát khủng hoảng cho các thương hiệu cần có những chiến lược xử lý và phương pháp giải quyết nhanh chóng. Đặc biệt để lấy lại niềm tin của khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải có động thái rõ ràng và tích cực. Bở vậy, khủng hoảng truyền thông luôn là “bóng đen” đối với các doanh nghiệp. Vậy khủng khoảng truyền thông là gì? Nó được hình thành như thế nào ? Có ảnh hưởng ra sao ?Khủng hoảng truyền thông là gì?Khủng hoảng truyền thông là cụm từ tiếng Việt được dịch ra từ chữ crisis. Theo các giáo trình, khủng hoảng truyền thông là những sự kiện xảy ra ngoài tầm kiểm soát của công ty khi có thông tin bất lợi về công ty hay sản phẩm. Sự bất lợi này đe dọa đến việc tiêu thụ sản phẩm hoặc làm giảm uy tín của công ty.Theo định nghĩa giáo khoa, “khủng hoảng truyền thông là bất kỳ một sự kiện ngoài ý muốn nào mang mối đe dọa nghiêm trọng đến uy tín của công ty hoặc niềm tin của các bên liên quan. Sự kiện có thể là một hành động vi phạm lòng tin, một sự thay đổi trong môi trường cạnh tranh, cáo buộc bởi các nhân viên hoặc những người khác, một nghị định đột ngột của chính phủ, lỗ hổng trong sản phẩm, hoặc bất kỳ tác động tiêu cực nào khác” hay nói một cách đơn giản, “khủng hoảng là bất kỳ một sự kiện nào có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của công ty đối với công chúng của nó”.Ba yếu tố chung cho một cuộc khủng hoảng: Mối đe dọa đối với tổ chứcYếu tố bất ngờThời gian quyết định ngắnVenette  lập luận rằng “khủng hoảng là một quá trình biến đổi trong đó hệ thống cũ không còn có thể được duy trì”. Do đó, yếu tố thứ tư của khủng hoảng là sự cần thiết phải thay đổi. Nếu không cần thay đổi, sự kiện có thể được mô tả chính xác hơn là sự cố hoặc sự cố.Các loại khủng hoảng truyền thôngBất kỳ một sự việc nào cũng có mối quan hệ biện chứng giữa “nguyên nhân – kết quả”. Đúng vậy, các cuộc khủng hoảng truyền thông không tự nhiên sinh ra mà nó có thể xuất phát từ các xung đột chính, cơ bản như:Xung đột lợi ích: Một nhóm các cá nhân hoặc nhóm có mâu thuẫn với các tập đoàn về những lợi ích nhất định từ đó dẫn đến các hoạt động chống phá để mang lợi ích về phe mình. Các hoạt động chủ yếu của xung đột này là tẩy chay. Xung đột này, trên thị trường khốc liệt hiện nay thì thường xuyên xảy ra.Cạnh tranh không công bằng: Công ty hoặc tổ chức đối thủ có các động thái vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nhằm chống phá, bôi nhọ, hạ nhục danh tiếng của công ty kia. Tuy các hoạt động này đã được giới hạn nhưng vẫn còn đó mà cụ thể là hành động bắt nạt trên mạng.“Một con sâu làm rầu nồi canh”: Một cá nhân đại diện trong công ty, tổ chức có hành vi phạm tội, gây rúng động trong cộng đồng, khiến cộng đồng mất niềm tin và quay lưng với tổ chức. Trường hợp này cũng rất hay xảy ra ví dụ như vụ việc của Agribank.Khủng hoảng liên đới: Đối tác của công ty mình bị vướng vào vòng lao lý, từ đấy có một số tin đồn thất thiệt trên mạng xã hội nhắm vào làm bôi nhọ danh tiếng công ty khi đánh đồng công ty với những việc làm sai trái của đối tác.Khủng hoảng tự sinh: Các hoạt động truyền thông, sản phẩm hay dịch vụ vô tình có những lỗi hoặc phốt dẫn đến sự bất bình và lan truyền rộng rãi. Đây là lý do thường xuyên và phổ biến trong các doanh nghiệp. Ví dụ: vụ chai nước có ruồi của công ty Tân Hiệp Phát.Khủng hoảng chồng khủng hoảng: Là khi công ty, tổ chức xử lý truyền thông không khéo, không có thái độ thành khẩn sửa chữa lỗi lầm dẫn đến sự phẫn nộ sâu sắc hơn từ cộng đồng. Khủng hoảng này thường xảy ra khi công ty không có một chiến lược giải quyết khủng hoảng quy củ, cẩn thận.Và kết quả của những loại xung đột cộng thêm nhiều gia vị của truyền thông đã tạo nên những cuộc khủng hoảng truyền thông. Khủng hoảng truyền thông vừa là cơ hội, cũng vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp. Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng, tính chất của cuộc khủng hoảng, có thể chia thành các loại khủng hoảng truyền thông như sau:Khủng hoảng âm ỉLà những khủng hoảng hay vấn đề một nhóm người đã có với công ty, tổ chức nhưng những vấn đề này quá nhỏ hoặc nó chưa đủ sức lan truyền rộng ra cộng đồng. Nhưng càng về lâu về dài, những vấn đề lớn dần và phát sinh khủng hoảng rộng lớn. Khi khủng hoảng phát sinh, doanh nghiệp rất khó giải quyết vì sự chậm trễ trong thay đổi không mang lại giá trị tích cực đến khách hàng. Khi phát sinh các nguy cơ âm ỉ, doanh nghiệp nên có sự đánh giá suy xét từ đó chặn đứng các nguy cơ có thể có.Khủng hoảng bất chợtLà những khủng hoảng bất chợt xuất hiện mà không có cảnh báo hay dự đoán như một chai nước bị kém chất lượng hay nhân viên phạm tội, những khủng hoảng này lỗi không hoàn toàn do công ty và cách giải quyết nên là thành thật xin lỗi, giải quyết hậu quả bằng tất cả khả năng.Khủng hoảng đa kênhKhủng hoảng đa kênh (Omni-channel) chứa nhiều khả năng gây hại nhất vì nó thu hút sự chú ý của nhiều kênh truyền thông. Nếu một thương hiệu đang đối phó với một tình huống cực đoan, chẳng hạn như cáo buộc quấy rối nơi làm việc, thu hồi sản phẩm hoặc các hành vi không phù hợp tại công ty, thì nó có thể phải đón nhận phản hồi tiêu cực trên phương tiện truyền thông xã hội và trên các phương tiện truyền thông truyền thống.Chuẩn bị đối phó bằng cách có một kế hoạch quản lý khủng hoảng mạnh mẽ thường xuyên được áp dụng và cập nhật. Trong những tình huống như thế này, một phản ứng nhanh chóng và xác thực có thể tạo ra sự khác biệt lớn. Đảm bảo rằng tất cả các tin nhắn được đăng không chỉ trên trang web của công ty mà còn trên bất kỳ kênh xã hội nào đang nhận được phản hồi tiêu cực. Và mặc dù tính nhất quán trong thông điệp của công ty là chìa khóa, từ ngữ nên được chau chuốt để thể hiện thái độ chân thành.Với các mức độ, phương thức khủng hoảng khác nhau như vậy, thì liệu khủng hoảng truyền thông  tất cả đều là xấu, hay nó chính là một bàn đạp thể hiện sự đẳng cấp, khốn khéo của con người và là cơ hội cho các doanh nghiệp chuyển mình, vươn lên?Ảnh hưởng của khủng hoảng truyền thôngNền kinh tế phát triển càng năng động, quyền con người được đề cao, sức mạnh truyền thông ngày càng lớn, tất cả đều có 2 mặt: tích cực và tiêu cực.  Khủng hoảng truyền thông là bất kì một chuyện xấu gì xảy đến với doanh nghiệp hoặc tổ chức được lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội truyền thông, làm ảnh hưởng đến danh tiếng từ đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động, kinh doanh của các đối tượng bị khủng hoảng tác động đến.Khủng hoảng truyền thông thường kéo theo các cảm xúc tiêu cực không cần thiết mà hệ quả mang lại rất nặng nề:Làm lu mờ phán đoán chính xác.Tổn hại đến các đối tác của tổ chức bị khủng hoảng.Có tính lan truyền cao.Tính chính trực và danh tiếng của công ty cũng sẽ bị ảnh hưởng rõ nét phụ thuộc vào hành động của họ. Việc giải quyết kịp thời các khủng hoảng truyền thông là một bài toán khó của mọi ban ngành tổ chức. Khi gặp phải khủng hoảng, các cấp lãnh đạo, phòng ban nên có sự đối thoại nhanh chóng, rõ ràng để từ đó có thể giải quyết hiệu quả khủng hoảng, đặc biệt là khủng hoảng truyền thông xã hội. Các ngành nghề dễ bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng có thể kể đến thương mại điện tử, mạng xã hội, ngành thời trang,..Ví dụ, Những năm vừa qua, đã không ít các thương hiệu thiết sót trong việc xử lý khủng hoảng truyền thông. Như sự việc đáng tiếc của hãng Boeing để xảy ra hai vụ tai nạn nghiêm trọng đối với máy bay 737 Max 8 mới của mình, hãng phải chấp nhận mất doanh thu và thu nhập trên mỗi cổ phần đã giảm hơn 40% so với năm 2018. Hay trường hợp của Taco Bell xử trí khi nhân viên làm ảnh hưởng xấu đến thương hiệu trên Facebook…Khủng hoảng truyền thông là điều mà mọi doanh nghiệp đều không muốn xảy ra. Trong việc xử lý khủng hoảng, sẽ không có một quy trình chuẩn nào cả. Vì trong quá trình diễn ra khủng hoảng, sự việc biến đổi không ngừng. Nên cái doanh nghiệp cần chính là sự chuẩn bị. Và áp dụng linh hoạt các nguyên tắc xử lý khủng hoảng truyền thông. Sao cho phù hợp với từng tình huống, diễn biến tình hình bấy giờ.Tuy nhiên, cũng không thể nói hoàn toàn, khủng hoảng truyền thông đều có tác động xấu. Bởi lẽ, khủng hoảng cũng có thể là chất xúc tác có tác dụng kích thích tính năng động sáng tạo, huy động tối đa tiềm lực trí tuệ của con người, cộng đồng và xã hội. Chỉ cần, kịp thời đưa ra nhưng giải pháp, chiến lược phù hợp để xử lý thì tất cả có thể biến thành cơ hội hành động kêu gọi một cách thông minh, thì đương nhiên sẽ biến “nguy thành an” biến “ khó khăn thành cơ hội”. Điển hình như: KFC Xử lý khủng hoảng truyền thông tốt có thể giúp bạn biến bê bối thành một chiến lược độc đáo và thu về những phản hồi tích cực.Như vậy, thực tế đã chứng minh, có nhiều doanh nghiệp đã thật sự thất bại, điêu đứng trên bờ vực phá sản,…vì khủng khoảng truyền thông, nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp trở mình trên đường đua một cách ngoại mục.Các giải pháp xử lý khủng hoảng truyền thôngNhanh chóng đánh giá vấn đề gây khủng hoảngĐiều đầu tiên khi có những dấu hiệu khủng hoảng truyền thông là lập tức chúng ta phải tiếp cận và đánh giá vấn đề trong thời gian ngắn nhất. Trong đó, đặt ra các câu hỏi là một cách hiệu quả để nhìn nhận vấn đề một cách trực quan nhất.Vấn đề này có ảnh hưởng đến uy tín và danh tiếng của tổ chức, doanh nghiệp? Nó có ảnh hưởng đến bộ máy cấp cao hay không? Mức độ nghiêm trọng của vấn đề truyền thông nằm mà doanh nghiệp bạn đang gặp phải nằm ở khoảng nào ?Phản hồi với các đối tác, khách hàngThực tế, tốc độ phản hồi khách thực sự rất quan trọng khi khủng hoảng truyền thông xảy ra. Sự im lặng và thụ động sẽ biến mọi tình huống trở nên tệ hại hơn và nhận được nhiều sự giận dữ hơn. Hãy luôn trong tư thế sẵn sàng nhận các phàn nàn từ phía các đối tác, khách hàng và phản hồi ngay lập tức. Nếu bạn chưa thể có câu trả lời ngay, hãy ước tính một khoảng thời gian về phía khách hàng để họ cảm nhận rằng chúng ta thực sự quan tâm đến vấn đề họ đang mắc phải.Có thái độ tích cực và trung thựcChúng ta không nên che giấu và không rõ ràng với truyền thông, mạng xã hội khi có khủng hoảng truyền thông xảy ra. Lên tiếng trên mạng xã hội, đưa ra thông cáo, lời xin lỗi trình bày rõ ràng vấn đề chúng ta đang mắc phải và đưa ra phương hướng giải quyết chính là phương pháp để trấn an khách hàng, đối tác đồng thời nhận được sự thông cảm của dư luận.Như CMO Will McInnes của Brandwatch từng nói: “Chiến dịch có thể sẽ sai. Các thông điệp được kiểm tra trong nhóm sẽ không hiệu quả. Nhân viên sẽ không hành động đúng. Nhưng người tiêu dùng sẽ chấp nhận lỗi lầm khi nhận được những phản hồi phù hợp.”Xây dựng quy trình bài bản đề phòng khủng hoảng truyền thôngNgười ta vẫn thường nói: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh.” Cách tốt nhất để xử lý khủng hoảng truyền thông là tiêu diệt triệt để những lối mòn có thể dẫn đến khủng hoảng truyền thông trước khi nó xảy ra. Có những cách để ngăn chặn khủng hoảng truyền thông như:Xây dựng một đội ngũ thiết kế và quản lý web chuyên nghiệp để đăng tải và cập nhập thông tin kịp thờiKiểm soát chặt chẽ những thông tin phát tán trên mạng xã hội.Cẩn thận kiểm tra tất cả những sản phẩm truyền thông (viral videos, photos…) trước khi tạo chiến dịch truyền thông.Không nên quảng cáo quá xa vời thực tế, lố lăng về chất lượng doanh nghiệp.Có rất nhiều phương pháp xử lý khủng hoảng truyền thông, sự lựa chọn phương pháp giải quyết phù hợp là rất quan trọng nó quyết định đến sự thành bại. Dưới đây là một số tài liệu cần biết về khủng hỏang truyền thông của các thương hiệu lớn và phương thức xử lý, bài học rút ra rất hữu ích: Ngày thứ 2 đen tối và cơn ác mộng của người làm truyền thông: Tải về05 ví dụ về khủng hoảng truyền thông và bài học rút ra: Tải về10 bài học điển hình về xử lý khủng hoảng truyền thông: Tải vềCơ chế lan truyền của khủng hoảng truyền thông: Tải vềDomino-s Pizza- Dội nước dập tắt khủng hoảng truyền thông, thay vì im lặng chờ chết: Tải vềKhi nhân viên làm xấu hình ảnh thương hiệu trên facebook đừng xử trí như Taco Bell: Tải vềNestle và Bài học xử lý khủng hoảng trên mạng xã hội: Tải vềSocial Listening- khủng hoảng truyền thông của Agribank ảnh hưởng như thế nào ? Tải vềSocial Listening- Vì đâu BaBy Care gặp phải khủng hoảng truyền thông: Tải về Tổng hợp các cuộc khủng hoảng truyền thông: Tải vềTrên đây là các thông tin tư vấn của Legalzone về phương án quản lý doanh nghiệp hiệu quả. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và sử dụng dịch vụ.
timeline_post_file61dd529d379fb-Thiết-kế-không-tên--18-.png.webp
Nguồn vốn xã hội hóa là gì? Đặc điểm của nguồn vốn xã hội hóa như thế nào? Cùng Legalzone tìm hiểu qua bài viết dưới đây. Khái nhiệm nguồn vốn xã hội hóaNguồn vốn xã hội hóa là gì?Nguồn vốn xã hội hóa được hiểu là những qui định phi chính thức, những chuẩn mực và các mối quan hệ lâu dài giúp thúc đẩy các hành động tập thể và cho phép mọi người thực hiện các hoạt động hợp tác kinh doanh cùng có lợi.Đặc điểm nguồn vốn xã hội hóaĐây là một loại hình vốn vậy nên có các đặc tính như:Tính sinh lợiThuộc tính sinh lợi cho biết vốn xã hội phải có khả năng sinh ra một nguồn lợi nào đó cả về mặt vật chất và tinh thần.Tính có thể hao mònTính hao mòn là thuộc tính hệ quả của tính sinh lợi, một điểm khác biệt quan trọng của vốn xã hội với các loại vốn khác là ngày càng sử dụng càng tăng.Cũng chính vì vậy mà vốn xã hội có thể bị suy giảm và triệt tiêu nếu không được sử dụng có thể bi phá hoại một cách vô tình hay cố ý khi vi phạm qui luật tồn tại và phát triển của loại hình vốn này.Tính sở hữuLà loại hình vốn nên vốn xã hội cũng sẽ thuộc sở hữu của một cộng đồng xã hội nào đó. Là một loại hình vốn nên nó có thể được đo lường, tích lũy và chuyển giao.Tính có thể đo lường tích lũy, chuyển giao.Một đặc điểm khác nữa của vốn xã hội là nó được làm tăng lên trong quá trình chuyển giao.Vốn xã hội có tính hai mặt:Nó có thể hướng đến sự phát triểnThiên về tính bảo tồn, kìm hãm sự phát triển.Vốn xã hội phải thuộc về một cộng đồng nhất định. Và là sự chia sẻ những giá trị chung, những qui tắc và ràng buộc chung của cộng đồng đó.Vai trò của vốn xã hội đối với tăng trưởng kinh tếNguồn vốn xã hội hoánguon von xa hoiNhững tác động của vốn xã hội đến tăng trưởng kinh tế cũng được xem xét từ nhiều khía cạnh.Vốn xã hội có thể tác động tới tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh trực tiếp và gián tiếp khác nhau.– Kênh 1: vốn xã hội có thể thay thế các thể chế chính thức một cách hiệu quả.Vốn xã hội cho dù đó là vốn xã hội co cụm vào nhau hay vốn xã hội vươn ra ngoài bao hành sự tin tưởng lẫn nhau và các chuẩn mực phi chính thức có thể thay thế cho các thể chế chính thức để điều chỉnh các giao dịch kinh tế và do vậy giảm thiểu các chi phí -Kênh 2: vốn xã hội tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa mọi người thúc đẩy sự lưu chuyển, lan tỏa của các nguồn lực, thông tin, các ý tưởng và công nghệ.– Kênh 3: vốn xã hội tạo điều kiện cho sự phát triển của các hoạt động đổi mới, sáng tạo.– Kênh 4: vốn xã hội có tác động tích cực làm gia tăng vốn con người.Tuy nhiên, không phải vốn xã hội luôn có vai trò tích cực đối với tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh những lợi ích mà vốn xã hội đem lại, sự tồn tại của vốn xã hội luôn kèm theo những chi phí mà các cá nhân và xã hội phải chi trả.Không phải trong mọi trường hợp vốn xã hội luôn ưu việt hơn các thể chế chính thức. Khi mà tiến bộ công nghệ có thể giúp giảm chi phí thiết lập, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thể chế chính thức.Sự phát triển kinh tế thường đi song song với sự cải thiện đời sống về mặt vật chất. Nhưng một vùng đất nào đó rất giàu có về vật chất thuần túy mà thiếu vắng vốn xã hội. Các nhà nghiên cứu về nguồn vốn xã hội trong tương quan kinh tế đều đồng ý với nhau rằng:Một nền kinh tế lành mạnh trong một đất nước có kỷ cương và văn hiến không thể nào thiếu vắng nguồn vốn xã hội. Kẻ thù dai dẳng nhất của quá trình tích lũy, phát triển nguồn vốn xã hội là tham nhũng. Bởi vậy, vốn xã hội và tham nhũng có mối quan hệ nghịch chiều với nhau. Nạn tham nhũng càng bành trướng, vốn xã hội càng co lại. Khi tham nhũng trở thành “đạo hành xử” hàng ngày thì cũng là lúc vốn xã hội đang trên đà phá sản.Nếu chỉ có ánh sáng mới có khả năng quét sạch hay đuổi dần bóng tối. Tương tự như thế, vốn xã hội được tích lũy càng cao, nạn tham nhũng càng có hy vọng bị đẩy lùi dần vào quá khứ.Giống và khác giữa XHH và PPPMột số điểm tương đồng Chủ trương thu hútXuất phát từ việc nguồn vốn nhà nước hạn hẹp, không bảo đảm các công trình, dịch vụ cơ bản.Về lĩnh vực:XHH bắt nguồn từ lĩnh vực y tế. Đến nay đã điều chỉnh cả lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề, thể dục thể thao, văn hoá, môi trường.Một số mô hình PPP xuất phát từ lĩnh vực kết cấu hạ tầng như nhà máy điện, cấp nước. Đến nay đã bao gồm lĩnh vực như y tế, giáo dục, thể thao, văn hoá… theo thông lệ quốc tế.Về chủ thểBên cạnh các cơ sở ngoài công lập, chủ trương XHH còn điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ sở sự nghiệp công lập với đối tác liên doanh, liên kết.Hình thức đầu tư PPP cũng có chủ thể là khu vực công và khu vực tư, thực hiện hợp đồng đối tác trong thời gian dài.       Sự tương đồng giữa 2 hình thức dẫn đến sự lúng túng khi lựa chọn giữa đầu tư XHH và đầu tư PPP.Một số điểm khác biệtnguồn vốn đầu tư công chưa xử lý quan ngại về rủi ro có thể xảy ra trong triển khai dự án. Đầu tư PPP có cơ sở là hợp đồng, xác định rõ cơ chế xử lý và giảm thiểu rủi ro. Nhưng thiếu nguồn lực nhà nước tham gia nên chưa hấp dẫn nhà đầu tư.Về mức độ cam kết, chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và nhà đầu tư:Chính sách XHH chỉ đề cập về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư. Không quy định một cách chính thức về việc chia sẻ trách nhiệm với nhà đầu tư.PPP yêu cầu sự cam kết của Nhà nước ở mức độ cao hơn. Ngoài các ưu đãi, hỗ trợ, cơ chế bảo đảm đầu tư cũng được quy định trong hợp đồng để giảm thiểu rủi ro trong quá trình đầu tư.Về minh bạch hoá:Hoạt động liên doanh liên kết, các dự án, đề án liên doanh, liên kết được minh bạch hoá theo quy chế nội bộ, chưa thực sự hướng tới sự giám sát rộng rãi và độc lập.Điều này xuất phát từ thực trạng chung là thiếu cơ chế khuyến khích sự tham gia giám sát, đánh giá của các đơn vị độc lập, người sử dụng dịch vụ.Dự án PPP được công khai hoá, minh bạch hoá từ danh mục dự án đến các bước lựa chọn nhà đầu tư tại Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và trang web của các bộ, địa phương.Về quy trình lựa chọn nhà đầu tư, đối tác tư nhân, giữa hai hình thức cũng có những khác biệt nhất định. Trên đây là một số thông tin giải đáp thắc mắc nguồn vốn xã hội hóa là gì. Hãy liên hệ với chúng tôi khi bạn cần hỗ trợ. Bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua hotline 0888889366. Hoặc fanpage Công ty Luật Legalzone.
timeline_post_file60ef9501df581-Barry-Callebaut-Offices-Chocolate-Academy-Istanbul-_-Office-Snapshots-570x570.jpg.webp
Đây là những thông tin về cơ bản nhưng hầu như không nhiều người hiểu rõ được. Dù hàng ngày đang ngồi làm những công việc tại văn phòng của mình. Điều này cũng dễ vì cơ bản thì kiến thức này cũng không có gì gọi là quan trọng lắm đối với mọi người.Tuy nhiên, Công ty Luật Legalzone cũng vẫn sẽ chia sẻ đến bạn những thông tin chi tiết nhất về khái niệm chức năng để bạn tham khảo qua và hiểu rõ hơn về hình thức này để bạn có thêm nguồn kiến thức hữu ích cho mình nhé.Khái niệm văn phòng là gì?Khái niệm văn phòng đó là được xem như một thuật ngữ để chỉ về một khu vực hoặc vị trí trong một tòa nhà gần giống vậy, đây sẽ là nơi mà mọi người sẽ cùng ngồi làm việc với nhau. Đồng thời đây cũng là một những phần quan trọng của mỗi doanh nghiệp với các loại hình văn phòng được nhắc đến như: văn phòng diện hoặc văn phòng chi nhánh của doanh nghiệp đó.Ngoài ra thì nếu chúng ta hiểu theo một nghĩa khác thì đó là một nơi làm việc của một cá nhân hoặc tập thể và được cung cấp đầy đủ các vật dụng cần thiết để nhằm đáp ứng cho nhu cầu tất yếu của công việc khi thực hiện. Đó là một trong những thông tin để giải đáp cho câu hỏi văn phòng là gì? mà bạn có thể tham khảo qua.Những chức năng chính của văn phòngVăn phòng được hình thành đối với cá nhân thì đó là lúc thực hiện trang trí, bổ sung các vật dụng cần thiết đáp ứng nhu cầu của mình. Đối với doanh nghiệp thì thực hiện những hình thức đăng ký kinh doanh và có địa chỉ cụ thể cho nơi đó.Chức năng chính của văn phòng khi nhắc đến sẽ là:+ Nơi để mọi người có thể thực hiện toàn quyền hoạt động và sử dụng để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của công việc và duy trì hoạt động tại đây.+ Nơi thực hiện các hoạt động cần thiết như: hội họp, gặp khách hàng….+ Tiếp nhận thông tin, lưu trữ hồ sơ, tiếp nhận thư từ văn bản….Đó là những chức năng mà hình thức văn phòng thường được sử dụng để đáp ứng một cách trọn vẹn nhất đến cá nhân, doanh nghiệp khi sử dụng.Có những loại hình văn phòng nào?Tuỳ vào mục đích sử dụng mà thị trường hiện tại đang có những hình thức và loại hình văn phòng như sau:+ Văn phòng làm việc truyền thốngĐổi mới loại hình văn phòng này thì có lẽ cũng đã không còn xa lạ gì đối với mọi người nữa rồi. Bạn có thể thoải mái hoạt động và phát triển tại đây và có đầy đủ cơ sở vật chất sử dụng cần thiết mà mình muốn.+ Loại hình văn phòng ảoĐối với hình thức này thì sẽ dành cho các doanh nghiệp dùng để đăng ký kinh doanh, tất cả các hoạt động nhận và gửi thư đều sẽ được thực hiện tại đây. Hoặc những vấn đề liên quan mà khi hoạt động sẽ không có sự khác biệt quá về lợi ích so với văn phòng truyền thống.+ Văn phòng chia sẻHình thức này tương tự với văn phòng ảo, tuy nhiên điểm khác ở đây là nhiều doanh nghiệp sẽ cùng sử dụng chung một văn phòng và tất nhiên là các nhân viên làm việc tại đây đều làm chung với nhau. Hình thức này giúp tiết kiệm chi phí đáng kể, nhất là đối với những doanh nghiệp mới hoạt động.Trên đây là bài viết của Công ty Luật Legalzone. Liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 0888889366 hoặc Fanpage để được tư vấn và hỗ trợ. Bạn có thể tham khảo các thủ tục pháp luật khác trên trang Thủ tục pháp luật của chúng tôi hoàn toàn miễn phí.
timeline_post_file60b997b6442b8-tra-cuu-ma-so-thue.jpg.webp
Mã số thuế doanh nghiệp và mã số thuế, mã số BHXH là một?Theo Điều 29 Luật Doanh nghiệp 2020, mã số doanh nghiệp là dãy số được tạo bởi Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, được cấp cho doanh nghiệp khi thành lập và được ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp có một mã số duy nhất và không được sử dụng lại để cấp cho doanh nghiệp khác.Mã số doanh nghiệp được dùng để thực hiện nghĩa vụ về thuế, thủ tục hành chính và quyền, nghĩa vụ khác. Thêm vào đó, việc cấp mã số doanh nghiệp được thực hiện tự động theo phương thức điện tử trên Hệ thống đăng ký thuế của Tổng cục Thuế (khoản 1 Điều 2 Thông tư 127/2015/TT-BTC).Trường hợp các doanh nghiệp thành lập trước ngày 01/07/2015, có mã số doanh nghiệp và mã số thuế khác nhau không bắt buộc phải làm thủ tục thay đổi.Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 8 Nghị định 01/2021/NĐ-CP, mỗi doanh nghiệp được cấp một mã số duy nhất gọi là mã số doanh nghiệp. Mã số này đồng thời là mã số thuế và mã số đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp.Như vậy, mã số doanh nghiệp chính là mã số thuế và mã số đơn vị tham gia BHXH của doanh nghiệp đó.Cách tra cứu mã số thuế doanh nghiệp đơn giảnCách tra cứu mã số thuế doanh nghiệp thứ nhấtBước 1: Truy cập vào TNCNONLINE.COM.VN chọn Tra cứu MSTTra cứu mã số thuế Bước 2: Chọn mục doanh nghiệpBước 3: Điền Chứng minh thư/Hộ chiếu của người đại diện theo pháp luật hoặc Mã số doanh nghiệp (mã số trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp).Bước 4: Điền dãy chữ và số màu đỏ trong hình chữ nhật bên dưới vào ô Xác nhận thông tin.Bước 5: Bấm vào ô Tìm kiếm.Thông tin Doanh nghiệp nộp thuế chi tiết (Ảnh minh họa)Cách tra cứu này sẽ cung cấp cả ngày cấp mã số thuế doanh nghiệp nếu bạn cần thông tin này.Cách tra cứu mã số thuế doanh nghiệp thứ haiBước 1: Truy cập vào trang của Tổng cục Thuế tại địa chỉ: http://www.gdt.gov.vn/wps/portalBước 2: Chọn Dịch vụ côngTrang chủ Tổng cục Thuế Việt Nam (Ảnh minh họa)Bước 3: Chọn Tra cứu thông tin người nộp thuếBước 4: Nhập 01 trong 04 yêu cầu: Mã số thuế/Tên tổ chức cá nhân nộp thuế/Địa chỉ trụ sở kinh doanh/Số chứng minh thư người đại diện (Không cần phải nhập đầy đủ cả 4 thông tin).Sau đó nhập Mã xác nhận (Dãy chữ số và ký tự bên cạnh ô Mã xác nhận)Bước 5: Nhấn vào Tra cứu, chờ và nhận kết quảBước 6: Bấm vào tên doanh nghiệp để xem thông tin chi tiếtCả hai cách tra cứu mã số thuế doanh nghiệp trên đây đều rất đơn giản, dễ làm, chỉ cần vài cú nhấp chuột là bạn đã có đầy đủ các thông tin thuế của doanh nghiệp mình cần.Nếu có vướng mắc về các quy định liên quan đến luật doanh nghiệp, bạn đọc vui lòng liên hệ Legalzone  để được hỗ trợ chi tiết.
timeline_post_file60ab4d3e15f73-quang-cao-tren-bao-dien-tu.jpg.webp
Quảng cáo trên báo điện tửThứ hai, 24/5/2021, 00:54 (GMT+7)Đã lưu“Không cho phép thời gian chờ tắt hoặc mở quảng cáo vượt quá 1,5 giây” trên báo điện tử là quy định hiệu lực từ 1/6 tới.Quy định này, tại Nghị định 38/2021 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá và quảng cáo, có vẻ hợp lý với bạn đọc, nhưng chưa hợp lý với doanh nghiệp.Họ sẽ chuyển quảng cáo từ báo chí sang nền tảng như YouTube. Vì ở đây, quảng cáo của họ được kéo dài 5 giây hoặc hơn, thậm chí có thể "bắt" người dùng xem hết với những video quảng cáo ngắn. Hay với các nền tảng OTT hoặc game, quảng cáo đang không bị các quy định pháp lý theo luật Việt Nam khống chế.Người bị thiệt là báo chí và nhà quảng cáo, doanh nghiệp trong nước. Người hưởng lợi là các ông lớn như Google, Facebook, nhà phát hành game và ứng dụng OTT.Tổng doanh thu của báo điện tử Việt Nam mỗi năm chỉ trên 4.000 tỷ đồng, trong khi tổng chi phí quảng cáo trực tuyến khoảng 14.500 tỷ đồng. Phần chênh lệch hơn 10.000 tỷ đồng đang rơi vào túi "người ngoài" là các tập đoàn xuyên biên giới. Quy định pháp lý như Nghị định 38 mới đây càng khiến miếng bánh đã bé dễ bị chia thêm cho các ông lớn hơn.Tôi bắt đầu nghiên cứu cơ chế thu hút quảng cáo trên báo chí năm 1994, khi còn làm việc tại một số tòa soạn báo. Như một quy luật, các nhà quảng cáo sẵn lòng bỏ tiền vào nơi họ tin rằng có lượng bạn đọc nhất định thuộc phân khúc họ muốn tiếp cận. Họ sẽ trả tiền cao hơn nữa, nếu được đảm bảo xuất hiện ở trang báo có nội dung quan trọng, hấp dẫn mà bạn đọc của họ không bao giờ bỏ qua. Ví dụ, trang 3, trang 5 hoặc trang đầu của những chuyên mục quan trọng như "tài chính - ngân hàng", "thời sự", "pháp lý"...Tôi cũng đã áp dụng cơ chế tương tự để bán quảng cáo trên một số tạp chí của mình sau đó. Các thương hiệu xa xỉ từng giành giật nhau những vị trí tốt nhất mà họ tin rằng bạn đọc - người có khả năng chi trả cho sản phẩm của họ - sẽ nhìn thấy đầu tiên. Nếu không, ít nhất họ cũng muốn quảng cáo của mình nằm bên tay phải của những "bài đinh" nửa đầu cuốn tạp chí.Không chỉ trên báo in, thời kỳ đầu của báo điện tử, khoảng 15 năm trước, việc chiếm được vị trí trên đầu hoặc có logo trên trang chủ rất quan trọng, vì người đọc kiểu gì cũng phải đi qua "mặt tiền" để vào "nhà" đọc tin. Sau này, bạn đọc trải nghiệm nội dung theo link bài báo được gợi ý, chia sẻ trên mạng xã hội. Người đọc "đi" thẳng vào bài viết qua link, không nhất thiết phải qua trang chủ.Dĩ nhiên, nhà quảng cáo khôn khéo sẽ chọn xuất hiện ở ngay bài báo, với nhiều hình thức sáng tạo, dựa trên thuật toán xác định người đang đọc có phải đối tượng mình muốn tiếp cận không. Lý do rất đơn giản và tất yếu: quảng cáo phải xuất hiện ở đâu khách hàng của họ có thể nhìn thấy, khi lật trang báo hoặc lướt web theo dòng chảy nội dung.Nhưng từ ngày Nghị định 38 hiệu lực tới đây, các hành vi tưởng như hiển nhiên này bị coi là vi phạm Luật Quảng cáo, sẽ bị phạt rất nặng. Trên báo in, quảng cáo không được phép xuất hiện ở trang nội dung, đồng thời quảng cáo theo ngữ cảnh trên báo điện tử bị cấm. "Được nằm cạnh nội dung" - yếu tố tiên quyết để nhà quảng cáo bắt tay với báo chí - bị khóa lại.Thực ra, quảng cáo xen với nội dung đã bị cấm từ Luật Quảng cáo 2012. Ngay khi nó ra đời, các nhà chuyên môn đã chỉ ra những bất cập và lạc hậu của nhiều điều khoản trong luật, không theo kịp sự biến chuyển vũ bão của công nghệ truyền thông.Trên thế giới, với báo chí miễn phí tương tự như ở Việt Nam, quảng cáo được phép xen kẽ với bài nội dung và tuỳ biến dựa theo đối tượng đọc báo. Người ta sáng tạo nhiều cách để tránh gây phản cảm cho bạn đọc. Ví dụ như các video, box hình ảnh tĩnh và động, lời gợi ý thân thiện ngay trên thân bài viết. Các bài viết hay phụ trương doanh nghiệp trả tiền được ghi rõ "nội dung được tài trợ". Người đọc hoàn toàn thoải mái trong việc nhấp chuột vào hay bỏ qua. Nếu không muốn bị quảng cáo làm phiền, bạn có thể đặt báo in hay trả tiền mua nội dung báo online theo tháng, quý hoặc năm.Tôi nhận ra rằng, trong nỗ lực bảo vệ quyền của bạn đọc, các nhà lập pháp nước ta đã quên mất quyền của người bỏ tiền quảng cáo, quyền của doanh nghiệp - người mang lại nguồn thu chính cho báo chí, và là một phần của thị trường truyền thông. Họ bị tước bỏ dần các công cụ tiếp cận khách hàng thông qua sản phẩm truyền thông chính thống. Quyền được phát triển mạnh mẽ của báo chí - những người phục vụ nhu cầu thông tin cho xã hội - đang bị gạt sang bên lề.Báo in đang khó khăn, bạn đọc mỗi ngày một rời xa. Mô hình thu phí người đọc mới chỉ manh nha ở một, hai báo điện tử. Cho tới bây giờ, quảng cáo vẫn là nguồn thu gần như duy nhất đối với hầu hết cơ quan báo chí, để báo chí có thể tiếp tục miễn phí cho bạn đọc.Các doanh nghiệp đương nhiên vẫn phải bán hàng. Họ, dù không muốn, sẽ buộc phải chuyển dịch ngân sách quảng cáo lẽ ra dành cho báo chí sang các kênh khác. Doanh thu của báo điện tử hiện chỉ chiếm 20% - 25% tổng thị trường quảng cáo trực tuyến, với sự siết chặt này, sẽ càng thêm khó.Thay đổi trên thực ra còn bất lợi cho nhà nước. Việc quảng bá sản phẩm khó khăn hơn sẽ cản trở sự phát triển chung của kinh tế - xã hội. Báo chí vốn là kênh uy tín để doanh nghiệp tiếp cận khách hàng. Đặc biệt, trong đại dịch Covid-19, các doanh nghiệp, vì giãn cách, có nhu cầu sử dụng kênh báo chí nhiều hơn để tiếp cận công chúng. Những rào cản mới sẽ khiến việc quảng bá sản phẩm, dịch vụ khó khăn hơn. Nhà quảng cáo không được sử dụng kênh báo chí hiệu quả sẽ chuyển sang các nền tảng khác mà việc thu thuế hiện là vấn đề nan giải với chính phủ.Bộ Thông tin - Truyền thông cũng thấy rõ thị phần quảng cáo trực tuyến trong nước ngày càng bị co hẹp bởi sự cạnh tranh bất bình đẳng, không chung một luật chơi với các nền tảng xuyên biên giới. Cơ quan này đang nỗ lực nhiều cách để cải thiện sự công bằng trên bức tranh quảng cáo số Việt Nam. Trong bối cảnh đó, việc Nghị định 38 ra đời với một số quy định bóp nghẹt quảng cáo trên báo chí vô hình trung càng tạo thêm lợi thế cho các Big Tech.Trong câu chuyện này, chính độc giả cũng bị ảnh hưởng. Họ có thể phải chấp nhận quảng cáo kém tin cậy bởi mạng xã hội không chịu trách nhiệm về sự chính xác của thông tin được quảng cáo như báo chí chính thống. Và điều quan trọng nữa, động lực phát triển một trong những ngành kinh tế sáng tạo: ngành xuất bản và nội dung số, sẽ bị suy giảm đáng kể.Người đọc có quyền chặn quảng cáo, nếu muốn. Họ có thể từ chối đọc, xem một kênh báo chí quá nhiều quảng cáo. Họ cũng có cả quyền không trả tiền cho người làm nội dung nếu không thích. Nhưng báo chí và doanh nghiệp thì không được pháp luật bảo hộ những quyền tương tự.Với Nghị định trên, tôi không bình luận về mức độ và hình thức xử phạt, vì nó được đặt ra với mục tiêu ngăn chặn vi phạm. Nhưng tôi chắc chắn việc áp dụng sẽ là bước lùi trong tiến trình đổi mới sáng tạo truyền thông theo xu hướng chung của thế giới.Lê Quốc Vinh
timeline_post_file60decbef97581-giay-khai-sinh.jpg.webp
Hiện nay, vấn đề bị sai thông tin trên giấy khai sinh rất nhiều khách hàng đang gặp phải và gửi câu hỏi về cho Legalzone. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giải đáp về "thay đổi thông tin trên giấy khai sinh"Giấy khai sinh là gì?Giấy khai sinh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân khi được đăng ký khai sinh; nội dung Giấy khai sinh bao gồm các thông tin cơ bản về cá nhân theo quy định.Thứ nhất, về điều kiện thay đổi, cải chính giấy khai sinh:– Đối với người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi): việc thay đổi họ, chữ đệm, tên phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện trong Tờ khai. Bởi lẽ, đây là đối tượng chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Với người từ đủ 9 tuổi trở lên thì việc thay đổi phải được sự đồng ý của người đó.– Chỉ được thực hiện việc cải chính hộ tịch này khi có căn cứ để cho rằng sự sai sót thông tin trên giấy khai sinh là do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc người yêu cầu đăng ký hộ tịch.Thứ hai, về thẩm quyền thay đổi, cải chính thông tin trên giấy khai sinh:Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch 2014 ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2014:Việc chỉnh sửa, cải chính thông tin của cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch (như giấy khai sinh)Chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch.Việc cải chính hộ tịch nói chung và cải chính thông tin trên giấy khai sinh nói chung sau khi đáp ứng các điều kiện luật định để cải chính còn phải thực hiện đúng thẩm quyền.Thẩm quyền cải chính thông tin trên giấy khai sinh cũng giống thẩm quyền cải chính hộ tịch được quy định tại Điều 7 Luật hộ tịch 2014. Theo đó, thẩm quyền thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyện tùy theo độ tuổi của người có thông tin cần cải chính. Cụ thể được quy định như sau:Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền cải chính đối với người chưa đủ 14 tuổi ở trong nước;Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền cải chính đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên ở trong nước;Đối với người Việt Nam định cự ở nước ngoài thì thẩm quyền thuộc về cơ quan đại diện.Như vậy, nếu có nhu cầu cải chính thông tin thì tùy vào từng trường hợp thì bạn phải nộp hồ sơ cải chính đúng thẩm quyền để có thể được giải quyết.Thứ ba, thủ tục tay đổi, cải chính thông tin trên giấy khai sinh: Về hồ sơ thay đổi thông tin trên giấy khai sinh:Người yêu cầu cải chính thông tin trên giấy khai sinh chuẩn bị hồ sơ cải chính bao gồm:– Tờ khai theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư 15/2015/TT-BTP;– Bản chính giấy khai sinh;– Một số giấy tờ làm căn cứ để thay đổi thông tin như: Sổ hộ khẩu, Hộ chiếu,…Về trình tự, thủ tục thay đổi thông tin trên giấy khai sinh:Thủ tục cải chính hộ tịch được thực hiện theo quy định tại  Điều 28 Luật hộ tịch 2014. Cụ thể như sau:Nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền.Thời hạn:Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ.công chức tư pháp – hộ tịch sẽ ghi nội dung thay đổi, cải chính vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch nếu thấy việc cải chính thông tin trên giấy khai sinh đáp ứng đủ điều kiện:Có cơ sởĐủ điều kiệnĐúng thẩm quyềnPhù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan,Công chức tư pháp-hộ tịch báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.Trường hợp phức tạp, cần phải xác minh thêmThời hạn giải quyết được kéo dài thêm nhưng không quá 03 ngày làm việc.Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.Trên đây là bài viết của Legalzone về thủ tục cải chính, thay đổi thông tin trên giấy khai sinh. Liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chi tiết. Hotline 0888889366. Hoặc bạn có thể gửi tin nhắn cho chúng tôi qua Fanpage Công ty Luật Legalzone.
timeline_post_file60c02a54a3e5f-vay-dai-han-la-gi.jpg.webp
Ngày 29/7/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 20/CT-TTg về việc lập kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 – 2025.Theo đó, căn cứ vào các nguyên tắc, mục tiêu, định hướng đầu tư công giai đoạn 2021 – 2025, các Bộ, ngành và địa phương lựa chọn danh mục và bố trí vốn kế hoạch đầu tư trung hạn của từng nguồn vốn trong từng ngành, lĩnh vực theo thứ tự ưu tiên.Vậy vốn trung hạn là gì? Legalzone  sẽ giải đáp trong bài viết dưới đâyNguồn vốn đầu tư trung hạnđầu tư trung hạn là gì? Bao gồm những nguồn vốn nào?Theo quy định hiện hành tại Nghị định 77/2015/NĐ-CP thì các nguồn vốn đầu tư công trung hạn và ngắn hạn bao gồm:Vốn đầu tư nguồn ngân sách nhà nước, bao gồm: vốn đầu tư của ngân sách trung ương cho Bộ, ngành trung ương; vốn bổ sung có mục tiêu của ngân sách trung ương cho địa phương; vốn đầu tư trong cân đối ngân sách địa phương.Vốn đầu tư nguồn công trái quốc gia là khoản vốn do Nhà nước vay trực tiếp của người dân bằng một chứng chỉ có kỳ hạn để đầu tư cho các mục tiêu phát triển của đất nước.Vốn đầu tư nguồn trái phiếu Chính phủ là khoản vốn trái phiếu Chính phủ do Bộ Tài chính phát hành để thực hiện một số chương trình, dự án quan trọng trong phạm vi cả nước.Vốn đầu tư nguồn trái phiếu chính quyền địa phương là khoản vốn trái phiếu có kỳ hạn từ 01 năm trở lên, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành hoặc ủy quyền phát hành để đầu tư một số dự án quan trọng của địa phương.Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, gồm: vốn viện trợ không hoàn lại, vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi của Chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế, các tổ chức liên Chính phủ hoặc liên quốc gia.Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là các khoản vốn do Ngân hàng phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay để đầu tư các dự án thuộc đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư và tín dụng chính sách xã hội.Vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, gồm:Vốn đầu tư từ nguồn thu xổ số kiến thiết đến trước thời điểm Luật ngân sách nhà nước sửa đổi năm 2015 có hiệu lực;Khoản phí, lệ phí được để lại đầu tư của Bộ, ngành trung ương và địa phương;Tiền lãi dầu khí của nước chủ nhà từ hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí (PSC), lợi nhuận được chia từ liên doanh dầu khí và tiền đọc tài liệu dầu khí;Nguồn thu của đơn vị sự nghiệp công lập để lại cho đầu tư;Vốn đầu tư từ nguồn thu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước được thu lại hoặc trích lại để đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội thuộc nhiệm vụ ngân sách nhà nước của Bộ, ngành trung ương và địa phương;Nguồn thu của tổ chức tài chính, bảo hiểm xã hội được trích lại để đầu tư dự án kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của Bộ, ngành trung ương và địa phương;Nguồn thu từ chuyển mục đích, chuyển quyền sử dụng đất của Bộ, ngành trung ương và địa phương chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước để đầu tư dự án kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội.Khoản vốn vay của chính quyền cấp tỉnh được hoàn trả bằng nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương và thu hồi vốn từ các dự án đầu tư bằng các khoản vốn vay này, bao gồm:Khoản huy động vốn trong nước của chính quyền cấp tỉnh theo quy định của Luật ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vay từ nguồn vốn nhàn rỗi của Kho bạc Nhà nước và huy động từ các nguồn vốn vay trong nước khác để đầu tư kết cấu hạ tầng;Vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài do Chính phủ cho vay lại.Thứ tự ưu tiên bố trí vốn kế hoạch đầu tư trung hạnVốn trung hạn là gì? Thứ tự ưu tiên bố trí vốn kế hoạch đầu tư trung hạn là gì– Dự án đã hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng nhưng chưa bố trí đủ vốn;– Vốn đối ứng cho dự án sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đai của các nhà tài trợ nước ngoài;– Vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo phương thức đối tác công tư;– Dự án chuyển tiếp thực hiện theo tiến độ được phê duyệt;– Dự án dự kiến hoàn thành trong kỳ kế hoạch;– Các dự án khởi công mới nếu có các điều kiện: Chương trình, dự án cần thiết, có đủ điều kiện được bố trí vốn kế hoạch; Sau khi đã bố trí đủ vốn để thanh toán nợ đọng xây dựng cơ bản;Bảo đảm bố trí đủ vốn để hoàn thành chương trình, dự án theo tiến độ đầu tư đã được phê duyệt.Ngoài ra, còn cần phải tiếp tục ưu tiên các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho các vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng thường xuyên bị thiên tai, bão lũ…Đặc biệt, không bố trí vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách Nhà nước vào các lĩnh vực, dự án mà các thành phần kinh tế khác có thể đầu tư.Các nguồn vốn đầu tư công trung hạn và ngắn hạn bao gồm những nguồn vốn theo quy định tại Điều 3 Nghị định 77/2015/NĐ-CP kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm.Nguyên tắc bố trí vốn đầu tư công trung hạnTheo quy định hiện hành tại Nghị định 77/2015/NĐ-CP thì nguyên tắc bố trí vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm cho chương trình, dự ánCác nguyên tắc quy định tại Điều 54 của Luật Đầu tư công.Bố trí đủ vốn chuẩn bị đầu tư trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm cho các dự án do cấp mình quản lý để:Lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư;Lập, thẩm định, quyết định đầu tư dự án đầu tư công.Việc bố trí vốn kế hoạch cho chương trình, dự án khởi công mới theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 77/2015/NĐ-CP và các nguyên tắc sau đây:Chương trình, dự án có đủ điều kiện được bố trí vốn kế hoạch theo quy định tại Điều 10 và Điều 27 của Nghị định 77/2015/NĐ-CP;Sau khi đã bố trí vốn hoàn trả các khoản ứng trước vốn đầu tư công (nếu có).Nguyên tắc bố trí vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm cho chương trình, dự án được quy định tại Điều 6 Nghị định 77/2015/NĐ-CP kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm.Trên đây là một số thông tin giải đáp cho thắc mắc vốn trung hạn là gì. Hãy liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất