0888889366
Danh mục
LUẬT BẢO HIỂM TIỀN GỬI
Nguyễn Phương Thảo
148 ngày trước
Bài viết
Bảo hiểm tiền gửi và quyền lợi của người gửi tiết kiệm
Tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng vẫn luôn đóng vai trò quan trọng như một nguồn dự trữ tiền tệ chính. Thu hút tiền gửi, cả tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, ở mức cao đóng một vai trò quan trọng vì nó không chỉ giúp ngân hàng duy trì sự ổn định tài chính mà còn cung cấp cơ hội cho việc phát hành trái phiếu và các hoạt động tài chính khác. Tuy nhiên, không phải lúc nào ngân hàng cũng có thể duy trì hoạt động gửi tiền trong một khoản thời gian dài. Đặc biệt, trong các tình huống khi ngân hàng không còn khả năng trả tiền cho khách hàng, các tổ chức tín dụng buộc phải tham gia bảo hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiết kiệm. 1. Bảo hiểm tiền gửi là gì? Theo Điều 4 của Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012, định nghĩa bảo hiểm tiền gửi như sau:"Bảo hiểm tiền gửi là sự đảm bảo hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi gặp tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản."Trong khuôn khổ này, có một số đối tượng chính liên quan đến bảo hiểm tiền gửi:– Người được bảo hiểm tiền gửi: Đây là cá nhân đã gửi tiền và có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.– Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi: Đây là các tổ chức tín dụng, bao gồm cả chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài, được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và có khả năng nhận tiền gửi từ cá nhân.– Tổ chức bảo hiểm tiền gửi: Đây là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động với mục tiêu không vì lợi nhuận và chịu trách nhiệm thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi. Nhiệm vụ của tổ chức này là đảm bảo sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng và bảo đảm tính an toàn và lành mạnh của hoạt động ngân hàng.Bảo hiểm tiền gửi đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính.Trách nhiệm của ngân hàng trong việc tham gia bảo hiểm tiền gửiHiện nay, tham gia bảo hiểm tiền gửi đã trở thành một nghĩa vụ bắt buộc đối với hầu hết các tổ chức tín dụng và chi nhánh của các ngân hàng nước ngoài nhận tiền gửi từ cá nhân. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ tiền gửi của khách hàng và xây dựng lòng tin thông qua việc tham gia bảo hiểm tiền gửi, từ đó giảm thiểu các tác động tiêu cực của các rủi ro không đáng có.Cần lưu ý rằng các ngân hàng chính sách không bắt buộc tham gia bảo hiểm tiền gửi, vì chúng thuộc sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tuy nhiên, quan điểm của Ngân hàng Nhà nước rất rõ ràng và mạnh mẽ, rằng họ sẽ sử dụng mọi biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.Nhà nước cũng áp dụng các chính sách quản lý và sử dụng để đảm bảo tính bền vững và tăng trưởng của nguồn vốn của tổ chức bảo hiểm tiền gửi.Vì vậy, người dân cần giữ lòng bình tĩnh, vì việc rút tiền gửi trước hạn có thể gây ra những thiệt hại không đáng có và có thể gây khó khăn và nguy hiểm cho cả hệ thống ngân hàng. Điều này đã được quy định tại Điều 6 và Điều 7 Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012.Quyền lợi của khách hàng khi ngân hàng phá sảnKhi một ngân hàng đối diện với nguy cơ phá sản và mất khả năng chi trả, quyền lợi của khách hàng tiền gửi được đảm bảo thông qua các quy định và biện pháp được thiết lập để bảo vệ họ.Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm theo dõi và phát hiện kịp thời các tình huống có khả năng mất khả năng chi trả và thanh toán của các ngân hàng. Khi có nguy cơ như vậy, tổ chức tín dụng phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước về tình hình, nguyên nhân, biện pháp đã và dự kiến áp dụng để khắc phục tình trạng đó. Đồng thời, họ cũng phải đưa ra các đề xuất và kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước.Ngân hàng Nhà nước, Bảo hiểm tiền gửi và các ngân hàng thương mại khác có thể cung cấp khoản vay đặc biệt để hỗ trợ tính thanh khoản của ngân hàng đang gặp khó khăn. Khoản vay đặc biệt này được ưu tiên trả trước các khoản nợ khác, bao gồm cả các khoản nợ có tài sản đảm bảo từ các ngân hàng. Điều này đảm bảo rằng các ngân hàng thương mại có sự yên tâm để cung cấp vay đặc biệt để hỗ trợ hệ thống tài chính.Điều quan trọng khác là, khác với các doanh nghiệp thông thường, Luật Phá sản năm 2014 quy định mở thủ tục phá sản cho tổ chức tín dụng khi đã có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán. Trong trường hợp này, khoản tiền gửi cũng được xem xét và ưu tiên chi trả dưới thủ tục phá sản theo các quy định ưu tiên phá sản được quy định tại Điều 101 Luật Phá sản năm 2014.Nguyên tắc thực hiện bảo hiểm tiền gửiMặc dù bảo hiểm tiền gửi đảm bảo an toàn cho khoản tiền gửi của khách hàng, tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp tiền gửi đều được bảo hiểm hoàn toàn. Hiện tại, Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 quy định hai trường hợp tiền gửi được bảo hiểm và không được bảo hiểm như sau:1. Tiền gửi được bảo hiểm: Bao gồm tiền gửi của cá nhân tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi dưới các hình thức sau:  - Tiền gửi có kỳ hạn.  - Tiền gửi không kỳ hạn.  - Tiền gửi tiết kiệm.  - Chứng chỉ tiền gửi.  - Kỳ phiếu.  - Tín phiếu và các hình thức tiền gửi khác theo quy định Luật Các tổ chức tín dụng 2010.2. Tiền gửi không được bảo hiểm:  - Tiền gửi của cá nhân tại tổ chức tín dụng mà họ sở hữu trên 5% vốn điều lệ của chính tổ chức tín dụng đó.  - Tiền gửi của cá nhân tại tổ chức tín dụng mà họ là thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính tổ chức tín dụng đó; tiền gửi tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài của cá nhân là Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó.  - Tiền mua các giấy tờ có giá trị vô danh do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phát hành.Dưới các quy định này, tiền gửi của khách hàng thông thường vẫn được bảo hiểm và được chi trả, và chỉ các trường hợp đặc biệt như các cá nhân có liên quan trực tiếp đến tổ chức tín dụng mới không được bảo hiểm. Do đó, bạn có thể hoàn toàn yên tâm với số tiền gửi tiết kiệm của mình, vì có bảo hiểm tiền gửi và sự bảo đảm từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với số tiền đó trong bất kỳ tình huống nào. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào liên quan đến Quyền và lợi ích của mình khi gửi tiết kiệm, bạn có thể truy cập trang Thủ tục pháp luật để biết thêm thông tin. 
Nguyễn Diễm Quỳnh
151 ngày trước
Bài viết
Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi của tổ chức theo quy định phải bao gồm những tài liệu nào?
Trong bất kỳ nền kinh tế nào, hệ thống ngân hàng và tổ chức tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ tiền gửi của người dân và doanh nghiệp. Để đảm bảo tính ổn định của hệ thống tài chính và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, pháp luật và thủ tục liên quan đến bảo hiểm tiền gửi của tổ chức được thiết lập và tuân theo một cách nghiêm ngặt. Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi của tổ chức là một phần quan trọng trong quá trình đảm bảo rằng các tổ chức tài chính thực hiện các quy định và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến việc bảo hiểm tiền gửi. Bài viết sẽ tìm hiểu những tài liệu gì sẽ có trong hồ sơ này.I. Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi của tổ chức theo quy định phải bao gồm những tài liệu nào?Căn cứ Điều 4 Quy định về cấp và thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi ban hành kèm theo Quyết định 185/2006/QĐ-BHTG3 quy định về hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi như sau:“Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửiHồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi của tổ chức phải tham gia bảo hiểm tiền gửi gửi Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam gồm Phiếu đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi theo Mẫu số 01 đính kèm Văn bản này kèm theo các văn bản sau:1. Bản chính Quyết định thành lập và giấy phép hoạt động ngân hàng hoặc giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp;2. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh;3. Bản chính Điều lệ tổ chức và hoạt động;4. Bản chính danh sách Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc (Giám đốc) và Ban kiểm soát được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc phê chuẩn;5. Bản chính Báo cáo tài chính của năm gần nhất có xác nhận của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền hoặc đã được kiểm toán (nếu đã hoạt động từ một năm trở lên). Riêng đối với báo cáo tài chính của Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở sẽ do Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở tự chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của báo cáo;6. Bản chính Điều lệ hoặc Quy chế tổ chức và hoạt động của đơn vị chủ quản mà tổ chức phải tham gia bảo hiểm tiền gửi là thành viên.Trường hợp một hoặc một số văn bản trên không có đủ bản chính để gửi kèm Phiếu đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức phải tham gia bảo hiểm tiền gửi phải gửi bản sao có công chứng.”Như vậy, hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi của tổ chức phải tham gia bảo hiểm tiền gửi bao gồm phiếu đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi kèm theo các văn bản sau đây:1. Bản chính Quyết định thành lập và giấy phép hoạt độngMột tổ chức tài chính phải cung cấp bản chính của Quyết định thành lập và giấy phép hoạt động ngân hàng hoặc giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp. Điều này xác nhận rằng tổ chức được phép thực hiện các hoạt động tài chính và đáp ứng các yêu cầu pháp luật.2. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanhGiấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là một tài liệu quan trọng xác nhận rằng tổ chức hoạt động hợp pháp và đã đăng ký với cơ quan quản lý.3. Bản chính Điều lệ tổ chức và hoạt độngĐiều lệ tổ chức và hoạt động cung cấp thông tin về cách tổ chức hoạt động và quy định các quyền và nghĩa vụ của thành viên trong tổ chức.4. Bản chính danh sách Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc (Giám đốc) và Ban kiểm soátThông tin về thành viên của Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc (Giám đốc) và Ban kiểm soát được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc phê chuẩn. Điều này giúp đảm bảo tính chất lương và đạo đức của lãnh đạo tổ chức.5. Bản chính Báo cáo tài chính của năm gần nhấtBản chính của báo cáo tài chính của năm gần nhất, có xác nhận của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền hoặc đã được kiểm toán (nếu đã hoạt động từ một năm trở lên). Báo cáo tài chính này giúp xác định tình hình tài chính của tổ chức.6. Bản chính Điều lệ hoặc Quy chế tổ chức và hoạt độngThông tin về Điều lệ hoặc Quy chế tổ chức và hoạt động của đơn vị chủ quản mà tổ chức phải tham gia bảo hiểm tiền gửi là thành viên.Trong trường hợp một hoặc một số văn bản trên không có đủ bản chính để gửi kèm Phiếu đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi, tổ chức phải tham gia bảo hiểm tiền gửi phải gửi bản sao có công chứng.II. Đơn vị nào tiếp nhận Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi?Căn cứ khoản 2 Điều 5 Quy định về cấp và thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi ban hành kèm theo Quyết định 185/2006/QĐ-BHTG3 quy định về việc hướng dẫn, tiếp nhận Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi như sau:“Hướng dẫn, tiếp nhận Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi1. Hướng dẫn lập Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửiPhòng Giám sát I, Phòng Giám sát II Trụ sở chính Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (sau đây gọi là Phòng Giám sát I, Phòng Giám sát II) và Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam chịu trách nhiệm hướng dẫn các tổ chức phải tham gia bảo hiểm tiền gửi lập Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi.2. Tiếp nhận Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửia. Phòng Giám sát I thực hiện việc tiếp nhận Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi của các Ngân hàng Thương mại;b. Phòng Giám sát II thực hiện việc tiếp nhận Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi của Quỹ tín dụng nhân dân và các Tổ chức tài chính khác.”Theo đó, đơn vị có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi phụ thuộc vào loại tổ chức tài chính:Phòng Giám sát I thực hiện việc tiếp nhận Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi của các Ngân hàng Thương mại.Phòng Giám sát II thực hiện việc tiếp nhận Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi của Quỹ tín dụng nhân dân và các Tổ chức tài chính khác.III. Tổng giám đốc Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có cần gặp gỡ thành viên của tổ chức trước khi ra quyết định cấp lần đầu Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi hay không?Căn cứ khoản 2 Điều 6 Quy định về cấp và thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi ban hành kèm theo Quyết định 185/2006/QĐ-BHTG3 quy định về thủ tục cấp lần đầu Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi như sau:“Thủ tục cấp lần đầu Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi1. Kiểm tra Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửiTrong phạm vi 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ Hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi hợp lệ của tổ chức phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, Phòng Giám sát I hoặc Phòng Giám sát II kiểm tra lại và lập Tờ trình kèm Hồ sơ trình Tổng giám đốc Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam xem xét ra Quyết định cấp Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi cho Tổ chức đó.2. Trong trường hợp cần thiết, Tổng giám đốc Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thực hiện việc gặp gỡ, phỏng vấn một số thành viên quản trị - điều hành của tổ chức phải tham gia bảo hiểm tiền gửi trước khi ra quyết định cấp Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi.”Như vậy, chỉ trong trường hợp cần thiết thì Tổng giám đốc Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam mới thực hiện việc gặp gỡ, phỏng vấn một số thành viên quản trị - điều hành của tổ chức phải tham gia bảo hiểm tiền gửi trước khi ra quyết định cấp Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi. Việc gặp gỡ và phỏng vấn thành viên của tổ chức có thể xảy ra nếu Tổng giám đốc Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam quyết định rằng điều này là cần thiết để đánh giá sự tuân thủ và tính trung thực của tổ chức trong quá trình đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi.Kết luậnHồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi của tổ chức là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự chuẩn bị và tuân thủ mọi quy định pháp luật. Việc cung cấp đầy đủ và chính xác các văn bản trong hồ sơ này giúp đảm bảo rằng tổ chức thực hiện các thủ tục bảo hiểm tiền gửi một cách hợp pháp và an toàn. Nhớ rằng nơi tiếp nhận hồ sơ đăng ký tham gia bảo hiểm tiền gửi có thể khác nhau tùy thuộc vào loại tổ chức, do đó, tổng giám đốc Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có thể yêu cầu gặp gỡ thành viên của tổ chức trước khi ra quyết định cấp lần đầu Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp cần thiết. Với quy trình này, pháp luật đảm bảo rằng hệ thống tài chính hoạt động một cách bảo mật và ổn định, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền.
Nguyễn Diễm Quỳnh
151 ngày trước
Bài viết
Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi có bị thu hồi khi tổ chức quyết định sáp nhập chi nhánh không?
Trong lĩnh vực pháp luật và thủ tục tài chính, việc sáp nhập, hợp nhất, hoặc chia tách chi nhánh của một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là một quá trình phức tạp. Một trong những vấn đề quan trọng cần xem xét là việc thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp này. Bài viết dưới đây sẽ trình bày quy định về việc thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi khi tổ chức quyết định sáp nhập chi nhánh của mình, theo quy định của Điều 14 trong Quyết định 185/2006/QĐ-BHTG3.I. Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi có bị thu hồi khi tổ chức quyết định sáp nhập chi nhánh không?Căn cứ Điều 14 Quy định về cấp và thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi ban hành kèm theo Quyết định 185/2006/QĐ-BHTG3 quy định như sau:“Điều 14. Thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi ra quyết định giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia tách chi nhánh hoặc điểm giao dịch của mìnhTrường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi quyết định giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia tách chi nhánh hoặc điểm giao dịch của mình thì Tổ chức này có trách nhiệm nộp lại Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi của các chi nhánh hoặc điểm giao dịch nêu trên cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam để lưu tại Hồ sơ tham gia bảo hiểm tiền gửi.Nếu tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi muốn sử dụng toàn bộ hoặc một số bản Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi từ việc giải thể, hợp nhất, sáp nhập chi nhánh hoặc điểm giao dịch trên thì phải có văn bản đề nghị và nêu cụ thể tên, địa điểm chi nhánh (hoặc điểm giao dịch), số lượng sử dụng bản Nội dung trên.”Theo đó, trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi quyết định sáp nhập chi nhánh của mình, tổ chức phải đảm bảo nộp lại Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi của các chi nhánh bị sáp nhập cho Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam để lưu tại Hồ sơ tham gia bảo hiểm tiền gửi.Nếu tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi muốn sử dụng toàn bộ hoặc một số bản Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi từ việc sáp nhập chi nhánh thì phải có văn bản đề nghị và nêu cụ thể tên, địa điểm chi nhánh, số lượng sử dụng bản Nội dung trên.II. Quyết định thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi phải được gửi cho những đơn vị nào?Căn cứ khoản 1 Điều 15 Quy định về cấp và thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi ban hành kèm theo Quyết định 185/2006/QĐ-BHTG3 quy định như sau:“Công bố Quyết định chấm dứt bảo hiểm tiền gửi và thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi1. Quyết định chấm dứt bảo hiểm tiền gửi và thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi được gửi trực tiếp cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và các phòng liên quan tại Trụ sở chính Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước nơi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đóng Trụ sở chính và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.2. Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về chấm dứt bảo hiểm tiền gửi, thực hiện theo chỉ đạo của Tổng giám đốc Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.3. Phòng Giám sát I hoặc Phòng Giám sát II chịu trách nhiệm thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi và lưu tại hồ sơ theo quy định của pháp luật và của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.”Như vậy, quyết định thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi được gửi trực tiếp cho các đơn vị sau đây:(1) Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi,(2) Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam(3) Các phòng liên quan tại Trụ sở chính Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam,(4) Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước nơi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đóng Trụ sở chính(5) Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.III. Trách nhiệm thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi thuộc về cơ quan nào?Căn cứ khoản 3 Điều 15 Quy định về cấp và thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi ban hành kèm theo Quyết định 185/2006/QĐ-BHTG3 quy định như sau:“Công bố Quyết định chấm dứt bảo hiểm tiền gửi và thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi1. Quyết định chấm dứt bảo hiểm tiền gửi và thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi được gửi trực tiếp cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và các phòng liên quan tại Trụ sở chính Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước nơi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đóng Trụ sở chính và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.2. Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về chấm dứt bảo hiểm tiền gửi, thực hiện theo chỉ đạo của Tổng giám đốc Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.3. Phòng Giám sát I hoặc Phòng Giám sát II chịu trách nhiệm thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi, Nội dung của việc bảo hiểm tiền gửi và lưu tại hồ sơ theo quy định của pháp luật và của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.”Theo quy định trên, trách nhiệm thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi thuộc về Phòng Giám sát I hoặc Phòng Giám sát II. Cơ quan này còn có trách nhiệm lưu Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi đó tại hồ sơ theo quy định của pháp luật và của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam.Kết luậnTrong quá trình sáp nhập chi nhánh, việc thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi là một phần quan trọng để đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong quản lý tài chính và pháp luật. Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải tuân thủ các quy định và trách nhiệm tương ứng để đảm bảo sự hợp pháp và hiệu quả trong quá trình này.
Nguyễn Phương Thảo
151 ngày trước
Bài viết
Quy định pháp luật về hoạt động Bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi là một khía cạnh quan trọng trong hệ thống tài chính của mỗi quốc gia, đảm bảo sự an toàn và tin cậy cho tiền gửi của người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về khái niệm này và quy định liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi, chúng ta cần tìm hiểu sâu hơn về nó. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu "Bảo hiểm tiền gửi là gì?" và đi sâu vào những quy định liên quan đến hoạt động này.1. Bảo hiểm tiền gửi là gì?Theo Điều 4 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012: “Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản”.Bảo hiểm tiền gửi là một hình thức đảm bảo tiền gửi của người dân và doanh nghiệp. Trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, chẳng hạn ngân hàng, gặp khó khăn hoặc phá sản và không còn khả năng trả lại tiền gửi cho người gửi, thì bảo hiểm tiền gửi sẽ đảm bảo trả lại một phần hoặc toàn bộ số tiền gửi cho người đó, trong giới hạn được quy định.Để hiểu rõ hơn:- "Người được bảo hiểm tiền gửi" là cá nhân hoặc tổ chức có số tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.- "Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi" bao gồm các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng được nhận tiền gửi của cá nhân.2. Một số quy định về hoạt động bảo hiểm tiền gửi2.1. Tiền gửi được bảo hiểm- Theo Điều 18 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012, tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi được thực hiện bằng đồng Việt Nam, do cá nhân gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, và bao gồm các hình thức sau:Tiền gửi có kỳ hạn.Tiền gửi không kỳ hạnTiền gửi tiết kiệm.Chứng chỉ tiền gửi.Kỳ phiếu.Tín phiếu.Và các hình thức tiền gửi khác theo quy định của Luật về các tổ chức tín dụng, ngoại trừ các loại tiền gửi được miễn bảo hiểm theo quy định tại Điều 19 của Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012.- Theo Điều 19 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012, tiền gửi không được bảo hiểm bao gồm:Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân nắm giữ trên 5% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng đó.Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân đang là thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), hoặc Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tín dụng đó.Tiền gửi tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài của cá nhân đang giữ chức vụ Tổng giám đốc (Giám đốc) hoặc Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó.Tiền mua các giấy tờ có giá trị vô danh do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phát hành.2.2. Phí bảo hiểm tiền gửiCác quy định về phí bảo hiểm tiền gửi được quy định trong Điều 20 của Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012, bao gồm các điểm sau:– Khung phí bảo hiểm tiền gửi được quy định bởi Thủ tướng Chính phủ, dựa trên đề nghị từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.– Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ xác định mức phí bảo hiểm tiền gửi cụ thể cho từng tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, dựa trên kết quả đánh giá và phân loại của các tổ chức này, dựa trên khung phí bảo hiểm tiền gửi.– Phí bảo hiểm tiền gửi được tính dựa trên số tiền trung bình của tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.– Phí bảo hiểm tiền gửi được tính và nộp định kỳ hàng quý trong năm tài chính. Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải nộp phí bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi trước ngày 20 của quý tiếp theo.– Phí bảo hiểm tiền gửi sẽ được ghi nhận và tích hợp vào các chi phí hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.2.3. Nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm tiền gửiĐiều 22, 23, 24, 27 của Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 quy định về vấn đề trả tiền bảo hiểm tiền gửi như sau: Thời điểm phát sinh trách nhiệm trả tiền bảo hiểm tiền gửi:Nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm bắt đầu tính từ thời điểm Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản thông báo chấm dứt kiểm soát đặc biệt, chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán, hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán đối với tổ chức tín dụng là thành viên trong chương trình bảo hiểm tiền gửi, và tổ chức tín dụng đó vẫn trong tình trạng phá sản. Thời điểm khác là khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra thông báo xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài là tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi không thể chi trả tiền gửi cho người gửi.Thời hạn thanh toán tiền bảo hiểm tiền gửi:Trong vòng 60 ngày, tính từ thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải thanh toán tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm tiền gửi.Giới hạn thanh toán tiền bảo hiểm tiền gửi:- Giới hạn thanh toán tiền bảo hiểm tiền gửi là số tiền tối đa mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi trả cho mọi khoản tiền gửi của một cá nhân tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm.- Quy định về giới hạn thanh toán tiền bảo hiểm tiền gửi hiện nay được thể hiện trong Quyết định 32/2021/QĐ-TTg, với giới hạn tối đa là 125.000.000 đồng (một trăm hai mươi lăm triệu đồng), bao gồm cả số tiền gốc và lãi, mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi trả cho mỗi cá nhân tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm.Xử lý số tiền gửi vượt giới hạn thanh toán tiền bảo hiểm tiền gửi:Số tiền gửi của người được bảo hiểm tiền gửi, bao gồm cả số tiền gốc và lãi, nếu vượt quá giới hạn thanh toán tiền bảo hiểm tiền gửi, sẽ được xử lý trong quá trình giải quyết tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, tuân thủ quy định của pháp luật.Kết luậnNhững quy định này đảm bảo tính minh bạch, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và đồng thời đảm bảo ổn định trong hệ thống tài chính của quốc gia. Để biết thêm chi tiết về các quy định và thủ tục pháp luật liên quan đến bảo hiểm tiền gửi, bạn có thể truy cập Thủ tục pháp luật để cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết.
Nguyễn Diễm Quỳnh
153 ngày trước
Bài viết
Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi như thế nào?
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 quy định rất rõ về việc bảo hiểm tiền gửi của cá nhân và tổ chức tín dụng. Mục đích của việc này là đảm bảo tính ổn định và an toàn của hệ thống tài chính. Bài viết này sẽ điểm qua những trường hợp tiền gửi không được bảo hiểm và những ai chịu ảnh hưởng từ quy định này.I. Tiền gửi không được bảo hiểm trong trường hợp nào?Theo Điều 19 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 quy định về tiền gửi không được bảo hiểm như sau:“Tiền gửi không được bảo hiểm1. Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là người sở hữu trên 5% vốn điều lệ của chính tổ chức tín dụng đó.2. Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính tổ chức tín dụng đó; tiền gửi tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài của cá nhân là Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó.3. Tiền mua các giấy tờ có giá vô danh do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phát hành.”Căn cứ theo quy định trên, các trường hợp mà tiền gửi không được bảo hiểm gồm:(1) Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là người sở hữu trên 5% vốn điều lệ của chính tổ chức tín dụng đó: Điều này áp dụng khi một cá nhân sở hữu một phần lớn vốn của tổ chức tín dụng. Trong trường hợp này, tiền gửi của cá nhân đó tại tổ chức tín dụng đó sẽ không được bảo hiểm.(2) Tiền gửi tại tổ chức tín dụng của cá nhân là thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính tổ chức tín dụng đó; tiền gửi tại chi nhánh ngân hàng nước ngoài của cá nhân là Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của chính chi nhánh ngân hàng nước ngoài đó: Điều này áp dụng khi các cá nhân nắm giữ các vị trí quan trọng trong tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ví dụ như là thành viên của các cơ quan quản lý hoặc điều hành của tổ chức đó. Trong trường hợp này, tiền gửi của họ tại tổ chức tín dụng đó cũng sẽ không được bảo hiểm.(3) Tiền mua các giấy tờ có giá vô danh do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phát hành: Điều này áp dụng cho trường hợp cá nhân mua các giấy tờ có giá trị vô danh do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phát hành. Trong trường hợp này, tiền gửi của họ trong các loại giấy tờ này sẽ không được bảo hiểm.Những trường hợp này được quy định để đảm bảo rằng tiền gửi của các cá nhân có liên quan trực tiếp đến quản lý hoặc sở hữu tổ chức tín dụng không được bảo hiểm, đồng thời tăng cường tính minh bạch và sự an toàn của hệ thống tài chính.II. Tổ chức nào phải tham gia bảo hiểm tiền gửi?Theo Điều 6 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 quy định về tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi như sau:“Tham gia bảo hiểm tiền gửi1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi của cá nhân phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.2. Ngân hàng chính sách không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi.”Theo đó, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi của cá nhân phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, trừ trường hợp của ngân hàng chính sách.III. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi như thế nào?Theo Điều 12 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012 quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi như sau:“Quyền và nghĩa vụ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi1. Nộp hồ sơ đề nghị cấp Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi.2. Được cấp Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi.3. Nộp phí bảo hiểm tiền gửi đầy đủ và đúng thời hạn.4. Yêu cầu tổ chức bảo hiểm tiền gửi chi trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm tiền gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm.5. Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật.6. Cung cấp thông tin về tiền gửi được bảo hiểm cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi theo định kỳ hoặc theo yêu cầu của tổ chức bảo hiểm tiền gửi.”Căn cứ trên quy định tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có các quyền và nghĩa vụ sau đây:1. Quyền:Được cấp Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi;Yêu cầu tổ chức bảo hiểm tiền gửi chi trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm tiền gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm;Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật.2. Nghĩa vụNộp hồ sơ đề nghị cấp Chứng nhận tham gia bảo hiểm tiền gửi;Nộp phí bảo hiểm tiền gửi đầy đủ và đúng thời hạn;Cung cấp thông tin về tiền gửi được bảo hiểm cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi theo định kỳ hoặc theo yêu cầu của tổ chức bảo hiểm tiền gửi.Kết luậnLuật Bảo hiểm tiền gửi 2012 đã quy định rất rõ về việc bảo hiểm tiền gửi của cá nhân và tổ chức tín dụng. Việc này nhằm bảo đảm tính ổn định và an toàn của hệ thống tài chính. Việc nắm rõ những trường hợp tiền gửi không được bảo hiểm và quyền nghĩa vụ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người dân và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính.
Nguyễn Diễm Quỳnh
158 ngày trước
Bài viết
Phương pháp nào được sử dụng để quản lý thời giờ làm việc của người lao động tại Trụ sở chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam?
Thời giờ làm việc và việc quản lý nó là một phần quan trọng của cuộc sống công việc hàng ngày tại bất kỳ tổ chức nào. Bài viết này sẽ đi sâu vào cách Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thực hiện quản lý thời giờ làm việc của người lao động tại Trụ sở chính bằng cách sử dụng máy chấm công vân tay và các quy định liên quan. Hãy cùng tìm hiểu về hệ thống quản lý thời giờ hiện đại này và tại sao nó quan trọng trong môi trường công việc.I. Phương pháp nào được sử dụng để quản lý thời giờ làm việc của người lao động tại Trụ sở chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam?Việc quản lý thời giờ làm việc của người lao động được quy định tại khoản 1 Điều 13 Nội quy lao động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 900/QĐ-BHTG năm 2016 như sau:“Trật tự nơi làm việc1. BHTGVN thực hiện quản lý thời giờ làm việc của người lao động tại Trụ sở chính bằng máy chấm công theo phương pháp lấy vân tay. Người lao động thuộc Trụ sở chính BHTGVN khi bắt đầu ngày làm việc và khi kết thúc ngày làm việc phải tuân thủ quy định này. Đối với các Chi nhánh, Văn phòng đại diện thuộc BHTGVN, việc quản lý thời giờ làm việc do Giám đốc Chi nhánh, Trưởng Văn phòng quyết định sau khi báo cáo cấp có thẩm quyền và phải thông báo cho toàn thể người lao động trong đơn vị biết để thực hiện.”Theo đó, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã thực hiện quản lý thời giờ làm việc của người lao động tại Trụ sở chính bằng phương pháp máy chấm công vân tay. Điều này đòi hỏi người lao động phải sử dụng dấu vân tay của họ để đăng ký thời gian vào và ra khỏi cơ quan. Việc này giúp tổ chức nắm bắt chính xác thời gian làm việc của mỗi người và đảm bảo tính chính xác trong tính lương và quản lý thời gian.Phương pháp này không chỉ tiết kiệm thời gian mà còn ngăn ngừa việc gian lận trong việc ghi nhận thời gian làm việc. Bằng cách sử dụng dấu vân tay, việc đặt lịch làm việc và theo dõi thời gian trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết.II. Khi kết thúc ngày làm việc, người lao động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có được ở lại phòng làm việc không?Người lao động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được quy định tại khoản 4 Điều 13 Nội quy lao động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 900/QĐ-BHTG năm 2016 như sau:“Trật tự nơi làm việc...4. Kết thúc ngày làm việc, người lao động không được tự ý ở lại phòng làm việc, trường hợp người lao động làm thêm giờ, phải có sự chấp thuận của người sử dụng lao động. Người lao động không được sinh hoạt cá nhân, ăn, ngủ, nghỉ tại trụ sở cơ quan khi kết thúc ngày làm việc (trừ lực lượng bảo vệ đang thực thi nhiệm vụ).”Theo quy định, sau khi hoàn thành giờ làm việc, người lao động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam không được tự ý ở lại văn phòng làm việc. Trong trường hợp người lao động phải làm thêm giờ, điều này chỉ có thể thực hiện khi nhận được sự chấp thuận từ người sử dụng lao động. Hơn nữa, người lao động không được phép thực hiện các hoạt động cá nhân như ăn, ngủ, hoặc nghỉ tại nơi làm việc sau khi đã kết thúc giờ làm việc, trừ trường hợp của lực lượng bảo vệ đang thực hiện nhiệm vụ.III. Người lao động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam không được đến nơi làm việc trong tình trạng nào?Người lao động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được quy định tại Điều 13 Nội quy lao động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 900/QĐ-BHTG năm 2016 như sau:“Trật tự nơi làm việc...6. Người lao động không được đến nơi làm việc trong tình trạng say rượu, bia, không được tổ chức nấu ăn (trừ các đơn vị có bếp ăn tập thể), hút thuốc lá, uống rượu, bia tại nơi làm việc.”Theo quy định, người lao động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam không được tham gia vào các hoạt động như uống rượu, bia, hoặc ở trong tình trạng say sỉn tại nơi làm việc. Các hoạt động như nấu ăn, hút thuốc lá, và uống rượu, bia tại nơi làm việc cũng không được phép, trừ khi có sự cho phép cụ thể từ các đơn vị có bếp ăn tập thể.Kết luậnViệc quản lý thời giờ làm việc của người lao động tại Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam bằng phương pháp máy chấm công vân tay là một bước tiến hiện đại giúp đảm bảo tính chính xác và trật tự trong công việc. Quy định cụ thể về thời giờ làm việc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự và hiệu suất làm việc tại tổ chức này.
Đoàn Trà My
199 ngày trước
Bài viết
TIỀN KHÔNG ĐỦ TIÊU CHUẨN LƯU THÔNG LÀ GÌ?
Tiền tệ đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế và giao dịch hàng ngày. Tuy nhiên, để đảm bảo tính minh bạch, bền vững và tránh nguy cơ tác động tiêu cực đến nền kinh tế, cần có các tiêu chuẩn lưu thông tiền cụ thể. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về khái niệm "tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông", cùng với cách tìm hiểu chi tiết và thủ tục liên quan tại Thủ Tục Pháp Luật.Tiền Không Đủ Tiêu Chuẩn Lưu Thông: Khái Niệm và Ảnh HưởngTheo khoản 1 Điều 3 Thông tư 25/2013/TT-NHNN thì tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông là các loại tiền giấy (tiền cotton và tiền polymer), tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước phát hành, đang lưu hành nhưng bị rách nát, hư hỏng hay biến dạng theo quy định về tiêu chuẩn tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông được quy định tại Thông tư 25/2013/TT-NHNN.Khái Niệm "Tiền Không Đủ Tiêu Chuẩn Lưu Thông": Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông là thuật ngữ dùng để chỉ các loại tiền tệ hoặc giấy bạc không đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn và giá trị để có thể lưu thông một cách bình thường trong nền kinh tế. Điều này có thể do tiền bị giả mạo, bị hỏng hoặc không đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn.Ảnh Hưởng Của Tiền Không Đủ Tiêu Chuẩn Lưu Thông: Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông có thể gây ra những tác động tiêu cực đáng kể đến nền kinh tế và người dân. Những hệ lụy có thể bao gồm:Tạo Ra Sự Bất An Trong Giao Dịch: Người dân và doanh nghiệp sẽ không an tâm khi tiến hành các giao dịch tài chính với loại tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông.Gây Ra Hiện Tượng Lạm Phát: Việc lưu thông tiền không đủ tiêu chuẩn có thể tạo ra tình trạng tăng giá đột ngột và lạm phát.Giảm Độ Tin Cậy Về Tiền Tệ: Tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông có thể làm giảm độ tin cậy của người dân đối với loại tiền đó.Tiêu chuẩn tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thôngTiêu chuẩn tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông theo Điều 4 Thông tư 25/2013/TT-NHNN như sau:"- Tiền rách nát, hư hỏng do quá trình lưu thông (nhóm nguyên nhân khách quan):+ Tiền giấy bị thay đổi màu sắc, mờ nhạt hình ảnh hoa văn, chữ, số; nhàu, nát, nhòe, bẩn, cũ; rách rời hay liền mảnh được can dán lại nhưng còn nguyên tờ tiền;+ Tiền kim loại bị mòn, han gỉ, hư hỏng một phần hoặc toàn bộ hình ảnh, hoa văn, chữ, số và lớp mạ trên đồng tiền.- Tiền rách nát, hư hỏng do quá trình bảo quản (nhóm nguyên nhân chủ quan):+ Tiền giấy bị thủng lỗ, rách mất một phần; tiền được can dán; cháy hoặc biến dạng do tiếp xúc với nguồn nhiệt cao; giấy in, màu sắc, đặc điểm kỹ thuật bảo an của đồng tiền bị biến đổi do tác động của hóa chất (như chất tẩy rửa, axit, chất ăn mòn...); viết, vẽ, tẩy xóa; đồng tiền bị mục hoặc biến dạng bởi các lý do khác nhưng không do hành vi hủy hoại;+ Tiền kim loại bị cong, vênh, thay đổi định dạng, hình ảnh thiết kế do tác động của ngoại lực hoặc nhiệt độ cao; bị ăn mòn do tiếp xúc với hóa chất.- Tiền bị lỗi kỹ thuật do quá trình in, đúc của nhà sản xuất như giấy in bị gấp nếp làm mất hình ảnh hoặc mất màu in, lấm bẩn mực in và các lỗi khác trong khâu in, đúc.3. Tuyển chọn tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông"Tuyển chọn tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông theo Điều 5 Thông tư 25/2013/TT-NHNN như sau:"- Trong quá trình thu, chi tiền mặt với khách hàng, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, đơn vị thu đổi phải thực hiện tuyển chọn, phân loại và thu hồi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông.- Trong quá trình kiểm đếm, giao nhận tiền mặt với các đơn vị thu đổi, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước nếu phát hiện tiền rách nát, hư hỏng do quá trình bảo quản lẫn trong bó tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông thì thực hiện thu, đổi.- Trong quá trình nhận tiền mặt của các đơn vị thu đổi, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước có quyền kiểm tra xác suất các bó tiền giao nhận;Trường hợp tỷ lệ tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông lớn hơn 5% trong tổng số các bó tiền đủ tiêu chuẩn lưu thông được kiểm tra thì từ chối nhận toàn bộ số tiền của đơn vị nộp, đồng thời yêu cầu đơn vị tuyển chọn lại."Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển và thị trường ngày càng mở rộ, việc duy trì và thúc đẩy tiêu chuẩn tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông đã trở thành một yếu tố quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của một quốc gia. Việc xây dựng và duy trì hệ thống tiền tệ có giá trị ổn định và đủ tiêu chuẩn lưu thông không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế mà còn tác động sâu sắc đến cuộc sống của cả cộng đồng.Tiêu chuẩn tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông thể hiện mức độ ảnh hưởng của tiền tệ đối với sự mua sắm, đầu tư và hoạt động kinh doanh. Không đủ tiêu chuẩn lưu thông của tiền tệ có thể gây ra những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế như lạm phát, biến động giá cả, và không đồng nhất trong thương mại quốc tế. Điều này làm mất đi sự tin cậy vào tiền tệ, dẫn đến sự bất ổn trong việc giao dịch kinh tế và cản trở quá trình phát triển.Việc duy trì tiêu chuẩn tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông đòi hỏi sự quan tâm và can thiệp chủ động từ các cơ quan quản lý tài chính và ngân hàng trung ương. Cần thiết phải thiết lập chính sách tiền tệ phù hợp, quản lý tài chính hiệu quả và thực hiện các biện pháp kiểm soát lạm phát để đảm bảo rằng giá trị tiền tệ được bảo tồn và duy trì trong tương lai.Ngoài ra, việc tạo ra môi trường thị trường cạnh tranh, khuyến khích đầu tư và phát triển công nghiệp là một phần quan trọng của việc duy trì tiêu chuẩn tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Sự ổn định về tiền tệ cùng với việc tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp phát triển sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo ra các cơ hội việc làm.Tóm lại, tiêu chuẩn tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Quá trình duy trì và thúc đẩy tiêu chuẩn này yêu cầu sự quan tâm và hành động chủ động từ các cơ quan chính phủ và ngân hàng trung ương. Chỉ thông qua sự cân nhắc kỹ lưỡng và thực hiện các biện pháp cụ thể, chúng ta có thể tạo ra môi trường kinh doanh ổn định, thúc đẩy tăng trưởng và bảo vệ lợi ích của toàn bộ cộng đồng.Quy định về đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thôngQuy định về đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông theo Điều 6 Thông tư 25/2013/TT-NHNN như sau:- Đối với tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 4 Thông tư 25/2013/TT-NHNN, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, đơn vị thu đổi có trách nhiệm thực hiện việc thu, đổi ngay cho khách hàng có nhu cầu, không hạn chế số lượng, không yêu cầu thủ tục giấy tờ.- Đối với tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư 25/2013/TT-NHNN, khách hàng nộp hiện vật cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, đơn vị thu đổi. Các đơn vị nhận và xét đổi theo các điều kiện sau:+ Tiền rách nát, hư hỏng không phải do hành vi hủy hoại;+ Trường hợp tờ tiền bị cháy, thủng, rách mất một phần thì diện tích còn lại phải bằng hoặc lớn hơn 60% so với diện tích tờ tiền cùng loại;Nếu được can dán thì phải có diện tích tối thiểu bằng 90% so với diện tích tờ tiền cùng loại và đảm bảo nguyên gốc, nguyên bố cục một tờ tiền (mặt trước, mặt sau; trên, dưới; bên phải, bên trái), đồng thời nhận biết được các yếu tố bảo an;Đối với tiền polymer bị cháy hoặc biến dạng co nhỏ lại do tiếp xúc với nguồn nhiệt cao, thì diện tích còn lại tối thiểu phải bằng 30% so với diện tích tờ tiền cùng loại và còn giữ nguyên bố cục một tờ tiền;Đồng thời nhận biết được ít nhất hai trong các yếu tố bảo an như: yếu tố hình ẩn trong cửa sổ nhỏ, mực không màu phát quang, phát quang hàng số sêri, dây bảo hiểm, yếu tố IRIODIN, chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh.Căn cứ điều kiện xét đổi được quy định, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, đơn vị thu đổi thực hiện đổi cho khách hàng.Nếu không đủ điều kiện được đổi, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh, Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước, đơn vị thu đổi trả lại cho khách hàng và thông báo lý do.Trường hợp các tờ tiền chưa xác định được điều kiện đổi và cần giám định, khách hàng phải có giấy đề nghị đổi tiền.Tìm Hiểu Chi Tiết và Thủ Tục Tại Thủ Tục Pháp LuậtĐể tìm hiểu chi tiết về tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông, cùng với các thủ tục liên quan, bạn có thể truy cập Thủ Tục Pháp Luật. Trang web này cung cấp thông tin đầy đủ về quy định pháp luật liên quan đến tiền tệ, tiêu chuẩn lưu thông và cách thức xác định tính chất của tiền tệ.Tổng KếtTiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông là một vấn đề quan trọng có thể ảnh hưởng đến sự ổn định và bền vững của nền kinh tế. Việc hiểu rõ về khái niệm này và thực hiện các thủ tục liên quan là vô cùng quan trọng để đảm bảo tính minh bạch và an toàn trong giao dịch tài chính. Thủ Tục Pháp Luật là nguồn thông tin đáng tin cậy để bạn nắm rõ về quy định pháp luật, cách thức xác định tính chất của tiền tệ và bảo vệ quyền lợi của mình trong lĩnh vực tiền tệ.
Bài viết được xem nhiều nhất
Bài viết
(mới)Những mẫu bản kiểm điểm đảng viên dành cho cán bộ, giáo viên, sinh viên,.. luôn được bạn đọc chú ý. Đây là thời điểm để mọi người nhìn nhận lại những gì mình đã và chưa làm được. Qua đó cho mình thêm động lực để phấn đấu hơn nữa. Hãy cùng nhau theo dõi ngay trong bài viết mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân của Legalzone - hệ thống thủ tục pháp luậtMẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân Bản kiểm điểm Đảng viên sẽ gồm có các phần chính sau:Ưu điểm, kết quả đạt được về tư tưởng chính trị;Phẩm chất đạo đức, lối sống;Y thức tổ chức kỷ luật;Tác phong, lề lối làm việc;Về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao;Về việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm.Cụ thể: Hạn chế, khuyết điểm đảng viên về tư tưởng chính trị; phẩm chất đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc; về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.Hạn chế khuyết điểm đảng viên về việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm và nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm.Kết quả khắc phục những ưu khuyết điểm của đảng viên đã được cấp có thẩm quyền kết luận hoặc được chỉ ra ở các kỳ kiểm điểm trước.Tại phần này cần kiểm điểm rõ:Từng ưu khuyết điểm đảng viên (đã được khắc phục; đang khắc phục, mức độ khắc phục; chưa được khắc phục)Những khó khăn, vướng mắc (nếu có)Trách nhiệm của cá nhân.Giải trình, nhận xét ưu khuyết điểm của đảng viên những vấn đề được gợi ý kiểm điểm (nếu có).Giải trình từng vấn đề được gợi ý kiểm điểm, nêu nguyên nhân.Xác định trách nhiệm của cá nhân đối với từng vấn đề được gợi ý kiểm điểm.Làm rõ trách nhiệm của cá nhân đối với những ưu điểm khuyết điểm của đảng viên (nếu có).Phương hướng, biện pháp khắc phục những ưu khuyết điểm của đảng viên. Tự nhận mức xếp loại chất lượng.Legalzone cung cấp cho bạn đọc 02 mẫu bản tự kiểm kiểm cá nhân tham khảo sau đây:Mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhânBẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂNHọ và tên: ………………… Sinh ngày: …………………………………Ngày vào Đảng: ……………… Chính thức ngày ………………………… Chức vụ Đảng: …………………………………………………………..Chức vụ chính quyền(đoàn thể): ………………………………………….Đơn vị công tác: ………………………………………………………Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: ………………………………………..I. Ưu điểm, kết quả công tác 1. Về tư tưởng chính trị– Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi luôn kiên định đối với đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.– Chấp hành nghiêm túc quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực để bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.– Luôn có ý thức tuyên truyền, vận động người thân, gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.– Xác định ý thức tích cực, tự giác tự học, tự nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác qua các lớp tập huấn, các lớp bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp…– Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng thực hiện cuộc vận động“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” của bản thân.Trong quá trình công tác, bản thân luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.2. Về phẩm chất đạo đức, lối sống.– Bản thân tôi luôn có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu.- Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong ngành. Luôn có ý thức giữ gìn tư cách, đạo đức tính tiên phong của người đảng viên trong tác chuyên môn.- Không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và những điều Đảng viên không được làm theo quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị.– Bản thân tôi luôn thực hiện tự phê bình và phê bình trung thực và thẳng thắn, giữ gìn đoàn kết trong Đảng trên cơ sở cương lĩnh và điều lệ Đảng, phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động chỉ đạo chuyên môn và luôn luôn xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ.-  Trong cuộc sống thường ngày sinh hoạt với địa phương, tôi đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tin tưởng, tham gia tích cực mọi hoạt động ở nới cư trú.3. Về thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao:– Bản thân luôn thực hiện đúng qui chế chuyên môn, đảm bảo tính khoa học.– Làm việc có trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. – Luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.– Luôn phối kết hợp tốt với các đồng nghiệp, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. -Trong công tác xây dựng Đảng, đoàn thể tôi luôn có ý thức tuyên truyền, tham gia xây dựng chi bộ, các đoàn thể trong cơ quan trong sạch, vững mạnh.4. Về tổ chức kỷ luật:– Bản thân tôi luôn thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, chấp hành sự phân công điều động, luân chuyển của tổ chức.- Bản thân luôn vận động gia đình chấp hành nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các luật và nghị định của Nhà nước về phòng chống ma tuý, chống tiêu cực ……– Bản thân tôi luôn thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng và đóng đảng phí theo quy định.- Tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt chi bộ, quán triệt sâu sắc các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và ngành đề ra.– Tham gia đầy đủ các buổi hội họp, học nghị quyết do chi bộ và Đảng bộ tổ chức; đóng Đảng phí đầy đủ, kịp thời.– Thực hiện tốt quy chế, nội quy của tổ chức Đảng cũng như của cơ quan đơn vị, có tinh thần gương mẫu chấp hành và lãnh đạo thực hiện tốt quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú- Ý thức lắng nghe, tiếp thu và tự sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng.– Thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở; có tinh thần tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền.- Luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao; thái độ phục vụ nhân dân tốt; có ý thức đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, gây phiền hà nhân dân.II. Khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân– Chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy kết quả chưa cao– Đôi khi còn chưa linh hoạt, trong giải quyết công việc với đồng nghiệp, với học sinh– Tuy có ý thức trong công tác tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt nhưng vẫn còn chưa mạnh dạn.– Đôi lúc chưa chủ động trong tổ chức thực hiện một số hoạt động. Trong công việc đôi lúc còn chưa mạnh dạn, thẳng thắn góp ý cho đồng nghiệp– Chưa cương quyết trong xử lí vi phạm, làm việc còn mang tính cả nểIII. Phương hướng và biện pháp khắc phục, sửa chữa yếu kém– Tuyệt đối chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.- Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong Đảng và cơ quan.– Không ngừng tu dưỡng đạo đức, tự học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị,chuyên môn nghiệp vụ, mạnh dạn hơn nữa trong việc tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị được giao.– Tiếp tục đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, luôn có ý thức tự phê bình và phê bình, tránh tư tưởng nể nang, nâng cao vai trò tiên phong của người đảng viên.Biện pháp khắc phục:– Trong thời gian tới sẽ phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm trên để bản thân được hoàn thiện hơn.– Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những hành động và việc làm cụ thể trong thực hiện công việc và nhiệm vụ được giaoXem thêm: Thủ tục thành lập trung tâm ngoại ngữ tại Hà NộiLink dowload các biểu mẫu miễn phíBẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂNBẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂN 2BẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁN BỘTải ngay mẫu Bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân tại phần ảnh tại bài viết hoặc tại phần bình luận của bài viết bạn nhé IV. Tự nhận mức xếp loại chất lượng Đảng viên, cán bộ, công chức:Mức 2: Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.Người viết bản kiểm điểmMẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân số 2ĐẢNG BỘ Xà.......CHI BỘ TRƯỜNG .........***ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ........, ngày...tháng...năm 2019BẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂNHọ và tên: ............. .............. Sinh ngày: ........... ................ ........... ............Ngày vào Đảng: ............... .............. Chính thức ngày .............. .............. Chức vụ Đảng: ........... ............ ............... .............. ................ ................. Chức vụ chính quyền(đoàn thể): .............. ................. .................. ............ Đơn vị công tác: ............ ............... ................ ................... ................. Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: .................... .................... .................... Ưu điểm, kết quả công tácVề tư tưởng chính trị- Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi luôn kiên định đối với đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.- Chấp hành nghiêm túc quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực để bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.- Luôn có ý thức tuyên truyền, vận động người thân, gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.- Xác định ý thức tích cực, tự giác tự học, tự nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác qua các lớp tập huấn, các lớp bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp...- Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", cuộc vận động "Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo" của bản thân. Trong quá trình công tác, bản thân luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.Về phẩm chất đạo đức, lối sống.- Bản thân tôi luôn có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu.Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong ngành.Luôn có ý thức giữ gìn tư cách, đạo đức tính tiên phong của người đảng viên trong tác chuyên môn.Không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và những điều Đảng viên không được làm theo quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị.- Bản thân tôi luôn thực hiện tự phê bình và phê bình trung thực và thẳng thắn, giữ gìn đoàn kết trong Đảng trên cơ sở cương lĩnh và điều lệ Đảng, phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động chỉ đạo chuyên môn và luôn luôn xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ. Trong cuộc sống thường ngày sinh hoạt với địa phương, tôi đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tin tưởng, tham gia tích cực mọi hoạt động ở nới cư trú.Về thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao:- Bản thân luôn thực hiện đúng qui chế chuyên môn, đảm bảo tính khoa học.- Làm việc có trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao- Luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.- Luôn phối kết hợp tốt với các đồng nghiệp, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao-Trong công tác xây dựng Đảng, đoàn thể tôi luôn có ý thức tuyên truyền, tham gia xây dựng chi bộ, các đoàn thể trong cơ quan trong sạch, vững mạnh.>>Tham khảo bài viết: Bộ luật Dân sự 2015: Điểm nổi bật và ý nghĩa trong bối cảnh pháp luật hiện đạiVề tổ chức kỷ luật:- Bản thân tôi luôn thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, chấp hành sự phân công điều động, luân chuyển của tổ chức. Bản thân luôn vận động gia đình chấp hành nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các luật và nghị định của Nhà nước về phòng chống ma tuý, chống tiêu cực ......- Tham gia đầy đủ các buổi hội họp, học nghị quyết do chi bộ và Đảng bộ tổ chức; đóng Đảng phí đầy đủ, kịp thời.- Thực hiện tốt quy chế, nội quy của tổ chức Đảng cũng như của cơ quan đơn vị, có tinh thần gương mẫu chấp hành và lãnh đạo thực hiện tốt quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú; ý thức lắng nghe, tiếp thu và tự sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng.- Luôn có thái độ cầu thị trong việc nhận và sửa chữa khắc phục khuyết điểm.- Thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở; có tinh thần tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền.- Luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao; thái độ phục vụ nhân dân tốt; có ý thức đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, gây phiền hà nhân dân.Khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân- Chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy kết quả chưa cao. - Chưa dành thời gian thích hợp để nghiên cứu, tìm hiểu sâu về Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết, quy định của Đảng; pháp luật, chính sách của Nhà nước.- Trách nhiệm cá nhân trong việc phối kết hợp với các đoàn thể khác trong trường có lúc chưa đạt hiệu quả cao nhất.- Đôi lúc chưa chủ động trong tổ chức thực hiện một số hoạt động. Trong công việc đôi lúc còn chưa mạnh dạn, thẳng thắn góp ý cho đồng nghiệp- Chưa cương quyết trong xử lí vi phạm, làm việc còn nể nang tình cảm trong công tác phê bình và tự phê bình.III. Phương hướng và biện pháp khắc phục, sửa chữa yếu kém- Tuyệt đối chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.- Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong Đảng và cơ quan.- Không ngừng tu dưỡng đạo đức, tự học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ- Mạnh dạn hơn nữa trong việc tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị được giao.- Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống- Luôn có ý thức tự phê bình và phê bình, nâng cao vai trò tiên phong của người đảng viên.Biện pháp khắc phục:- Trong thời gian tới sẽ phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm trên để bản thân được hoàn thiện hơn.- Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những hành động và việc làm cụ thể trong thực hiện công việc và nhiệm vụ được giao. Tự nhận mức xếp loại chất lượng Đảng viên, cán bộ, công chức:Mức 2: Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.     NGƯỜI TỰ KIỂM ĐIỂM(Ký, ghi họ tên) ĐÁNH GIÁ PHÂN LOẠI CHẤT LƯỢNG ĐẢNG VIÊNNhận xét, đánh giá của chi ủy:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ...............Chi bộ phân loại chất lượng:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ..........................., ngày...tháng...năm....T.M CHI ỦYBí thưĐảng ủy (chi ủy cơ sở) phân loại chất lượng:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ................................., ngày...tháng...năm...     T.M ĐẢNG ỦYTrên đây là một số thông tin về mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân bạn đọc tham khảo. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ. Hoặc bạn có thể tra cứu các thủ tục qua trang Thủ tục pháp luật của chúng tôi. 
Bài viết
[MỚI]Địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệpTừ 2021, tên địa điểm kinh doanh phải bao gồm cả tên doanh nghiệp. Đây là nội dung mới được Quốc hội đề cập đến tại Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14. Quy định mới về tên địa điểm kinh doanhCụ thể, Điều 40 Luật Doanh nghiệp 2020 nêu rõ:Tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệp kèm theo cụm từ “Chi nhánh” đối với chi nhánh, cụm từ “Văn phòng đại diện” đối với văn phòng đại diện, cụm từ “Địa điểm kinh doanh” đối với địa điểm kinh doanh.Hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không yêu cầu với địa điểm kinh doanh mà chỉ quy định tên chi nhánh, văn phòng đại diện phải mang tên doanh nghiệp kèm cụm từ “chi nhánh” với chi nhánh, cụm từ “văn phòng đại diện” với văn phòng đại diện.  Quy định mới về tên địa điểm kinh doanhNgoài ra, Điều 41 Luật 2020 cũng có quy định cụ thể với tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh gồm:– Phải được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và các ký hiệu;– Phải được viết hoặc gắn tại trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh. Trong đó, tên chi nhánh, văn phòng đại diện được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên tiếng Việt của doanh nghiệp trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu… do chi nhánh, văn phòng đại diện phát hành.Hồ sơ thành lập địa điểm kinh doanh* Thành phần hồ sơTheo Quyết định 1523/QĐ-BKHĐT, hồ sơ thành lập địa điểm kinh doanh bao gồm:– Thông báo lập địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp theo mẫu tại Phụ lục II-11 Nghị định 122/2020/NĐ-CP.– Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động theo Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc các giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương chưa thực hiện bổ sung, cập nhật thông tin đăng ký doanh nghiệp để được cấp đăng ký doanh nghiệp thay thế nội dung đăng ký kinh doanh trong Giấp phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương thì ngoài các giấy tờ nêu trên, doanh nghiệp phải nộp kèm theo:+ Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đầu tư;+ Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký thuế;+ Giấy đề nghị bổ sung, cập nhật thông tin đăng ký hoạt động đối với địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động theo giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.Lưu ý: Trường hợp không phải Chủ sở hữu hoặc Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trực tiếp đến nộp hồ sơ: người được ủy quyền phải nộp văn bản uỷ quyền kèm bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân:– Đối với công dân Việt Nam: Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực.– Đối với người nước ngoài: Hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị thay thế còn hiệu lực.* Số lượng hồ sơ: 01 bộTrình tự thủ tục lập địa điểm kinh doanhBước 1: Nộp hồ sơCó 02 cách thức để nộp hồ sơ, cụ thể:Cách 1: Nộp hồ sơ trực tiếp tại bộ phận một cửa Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt địa điểm kinh doanh hoặc chi nhánh.Cách 2: Đăng ký qua mạng tại Cổng thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp bằng chữ ký số công cộng hoặc sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh . Đối với Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phải đăng ký qua mạng.Bước 2: Tiếp nhận và giải quyết hồ sơBước 3: Nhận kết quả* Thời hạn giải quyết: 03 ngày làm việc* Lệ phí giải quyết:– 50.000 đồng/lần đối với hồ sơ nộp trực tiếp tại bộ phận một cửa Phòng Đăng ký kinh doanh.– Miễn lệ phí đối với hồ sơ đăng ký qua mạng điện tử.Trên đây là bài viết tham khảo về một số quy định mới về hộ kinh doanh từ năm 2021. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ.
Bài viết
Bảo hiểm thất nghiệp là một cơ chế quan trọng, giúp hỗ trợ người lao động trong những giai đoạn khó khăn khi họ mất việc làm. Tuy nhiên, để đảm bảo hoạt động hiệu quả và bền vững của quỹ bảo hiểm thất nghiệp, việc xác định mức đóng cũng như hiểu rõ nguồn hình thành của quỹ này là vô cùng quan trọng. Bài viết sau đây sẽ phân tích và giải đáp những thắc mắc liên quan đến mức đóng và nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, giúp người đọc có cái nhìn sâu rộng và đầy đủ hơn về vấn đề này.Bảo hiểm thất nghiệp là gì?Trong bối cảnh kinh tế phức tạp, bảo hiểm thất nghiệp trở thành một giải pháp hỗ trợ quan trọng, giúp giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho người lao động.Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ giúp bù lại một phần thu nhập cho những người mất việc, đồng thời hỗ trợ họ trong việc đào tạo nghề và tìm kiếm cơ hội làm việc mới, dựa trên việc đóng góp vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp (theo khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm 2013).Nhờ vào sự hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp, nhiều người lao động đã tìm ra cách giải quyết vấn đề việc làm, khẳng định vị thế của mình trên thị trường lao động và đóng góp vào sự ổn định và phát triển của xã hội.Mức đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp được xác định như nào?Mức đóng góp và trách nhiệm trong việc đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp (BHTN) được quy định cụ thể theo Khoản 1 Điều 57 của Luật Việc làm năm 2013. Theo đó:- Mỗi người lao động cần đóng 1% từ tiền lương hàng tháng của mình.- Người sử dụng lao động cũng phải đóng 1% từ quỹ lương hàng tháng dành cho nhân viên đang tham gia BHTN.- Nhà nước cam kết hỗ trợ thêm tối đa 1% từ quỹ lương hàng tháng cho việc đóng góp BHTN, với ngân sách được đảm bảo bởi chính phủ trung ương.Tổng cộng, mức đóng góp vào Quỹ BHTN là 3%, với 1% từ người lao động, 1% từ người sử dụng lao động, và 1% từ sự hỗ trợ của nhà nước.Quỹ BHTN hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:- Đóng góp từ người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ từ nhà nước.- Lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư của Quỹ BHTN.- Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật, bao gồm tiền lãi từ việc trễ hạn đóng góp BHTN và các khoản thu hợp pháp khác.Quỹ BHTN được sử dụng cho các mục đích sau:- Thanh toán trợ cấp thất nghiệp.- Hỗ trợ đào tạo, cập nhật kỹ năng nghề nghiệp để giữ việc làm cho người lao động.- Hỗ trợ học nghề.- Hỗ trợ tư vấn và giới thiệu việc làm.- Chi trả bảo hiểm y tế cho người nhận trợ cấp thất nghiệp.- Chi phí quản lý BHTN theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.- Đầu tư để bảo toàn và phát triển Quỹ.Phương thức đóng tiền vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp?Cách thức đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp (BHTN) diễn ra hàng tháng theo các quy định sau:- Người sử dụng lao động cần đóng góp vào BHTN theo tỷ lệ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 57 của Luật Việc làm 2013. Họ cũng cần trích một phần từ lương của nhân viên theo tỷ lệ quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 57 của cùng một luật, để đóng góp vào Quỹ BHTN.- Sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho Quỹ BHTN tuân theo nguyên tắc đảm bảo số dư quỹ hàng năm ít nhất bằng hai lần tổng chi cho các chế độ BHTN và chi phí quản lý của năm trước. Tuy nhiên, mức hỗ trợ không vượt quá 1% quỹ lương hàng tháng dành cho BHTN của những người đang tham gia. Cách thức chuyển kinh phí như sau:Vào quý IV mỗi năm, Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ dựa trên dự toán thu-chi BHTN được phê duyệt để xác định kinh phí hỗ trợ cho Quỹ BHTN của năm trước, tuân theo quy định tại Khoản 1 của Điều này. Số kinh phí này sẽ được gửi đến Bộ Tài chính để chuyển vào Quỹ BHTN một lần.Trong vòng 10 ngày làm việc kể từ khi nhận báo cáo quyết toán từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đã được Hội đồng Quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam chấp thuận, Bộ Tài chính sẽ thẩm định và quyết định kinh phí hỗ trợ cho Quỹ BHTN năm trước. Nếu kinh phí mà Bộ Tài chính đã cấp nhiều hơn số tiền cần hỗ trợ theo quy định tại Khoản 1 của Điều này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải trả lại phần chênh lệch cho ngân sách nhà nước. Ngược lại, nếu số tiền cấp ít hơn, Bộ Tài chính sẽ báo cáo cấp có thẩm quyền để phê duyệt kinh phí hỗ trợ bổ sung trong năm tiếp theo.Kinh phí hỗ trợ Quỹ BHTN đều được bảo đảm bởi ngân sách trung ương, từ nguồn chi đảm bảo xã hội đã được Quốc hội quyết định.Kết luận Mức đóng góp phải được xác định một cách hợp lý để đảm bảo quỹ có đủ kinh phí hoạt động và cùng lúc đó, không tạo áp lực tài chính quá lớn lên người lao động và người sử dụng lao động. Ngoài ra, việc hình thành quỹ từ nhiều nguồn khác nhau cần được quản lý chặt chẽ và minh bạch, điều này đòi hỏi sự phối hợp mật thiết giữa các cơ quan quản lý, người sử dụng lao động, và người lao động. Một hiểu biết đầy đủ và chi tiết về các khía cạnh này sẽ giúp người lao động cảm thấy an tâm hơn với quỹ bảo hiểm thất nghiệp, thúc đẩy sự tham gia tích cực và từ đó góp phần nâng cao chất lượng an sinh xã hội. Nếu có thắc mắc khác liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp, bạn có thể truy cập Thủ tục pháp luật để cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết. 
Bài viết
Trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước, Hội đồng thành viên đóng vai trò quan trọng, tham gia vào việc quản lý và định hình chiến lược của các tổ chức này. Hội đồng này thường bao gồm Chủ tịch và các thành viên khác, và quyền lực của họ thường được cơ quan đại diện chủ sở hữu kiểm soát thông qua việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng và kỷ luật. Những quyết định của Hội đồng thành viên có thể có tác động sâu rộng đến hoạt động kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp nhà nước.Tuy nhiên, một vấn đề nổi lên trong quá trình xem xét tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên là khả năng của những người đã từng bị kỷ luật bởi Đảng. Chúng ta hãy tìm hiểu những quy định  liên quan vấn đề này.1. Điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên doanh nghiệp nhà nước là gì?Theo Điều 93 của Luật doanh nghiệp 2020, tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên được quy định như sau:Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 của Điều 17 của Luật doanh nghiệp 2020.Phải có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động của doanh nghiệp.Không được phép có quan hệ gia đình với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu; thành viên Hội đồng thành viên; Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của công ty; Kiểm soát viên công ty.Không được phép là người quản lý của doanh nghiệp thành viên.Trừ Chủ tịch Hội đồng thành viên, các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể kiêm nhiệm vị trí Giám đốc, Tổng giám đốc của công ty đó hoặc công ty khác mà không phải là doanh nghiệp thành viên, theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu.Không được cách chức từ vị trí Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp nhà nước.Các tiêu chuẩn và điều kiện khác có thể được quy định bởi Điều lệ công ty.    Như vậy, những quy định này nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp, tính minh bạch, và tính hiệu quả trong quản lý và điều hành của doanh nghiệp. Điều quan trọng là, việc đảm bảo không có quan hệ gia đình và không từng bị cách chức từ các vị trí quan trọng trong doanh nghiệp nhà nước giúp bảo vệ tính độc lập và khách quan của quyết định của Hội đồng thành viên. Tuy nhiên, ngoài những điều kiện cơ bản này, Điều lệ công ty cũng có thể quy định thêm các tiêu chuẩn và điều kiện khác để phù hợp với đặc thù cụ thể của từng doanh nghiệp.2. Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên doanh nghiệp nhà nước bao gồm những gì?Dựa vào Điều 92 của Luật doanh nghiệp 2020, quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên được phân rõ như sau:Hội đồng thành viên, thay mặt cho công ty, thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, cổ đông, và thành viên đối với công ty, đặc biệt khi công ty đóng vai trò làm chủ sở hữu hoặc sở hữu cổ phần, phần vốn góp.Hội đồng thành viên được ủy quyền với các quyền và nghĩa vụ cụ thể sau đây:Quyết định về các vấn đề liên quan đến việc sử dụng vốn nhà nước theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước để đầu tư vào hoạt động sản xuất và kinh doanh tại công ty.Quyết định về việc thành lập, tổ chức lại, giải thể các chi nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty.Đưa ra quyết định về kế hoạch sản xuất và kinh doanh hàng năm, xác định chủ trương phát triển thị trường, tiếp thị, và công nghệ của công ty.Tổ chức và quản lý hoạt động kiểm toán nội bộ và quyết định về việc thành lập đơn vị kiểm toán nội bộ cho công ty.Thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định tại Điều lệ công ty, Luật doanh nghiệp, và các quy định pháp luật khác có liên quan. Với vai trò đại diện cho công ty và các nhóm lợi ích khác nhau như chủ sở hữu, cổ đông, và thành viên, Hội đồng thành viên đảm bảo tính hiệu quả và quản lý đúng đắn của doanh nghiệp.Hội đồng thành viên được trao quyền quyết định quan trọng về việc sử dụng vốn nhà nước, tổ chức và phát triển công ty, kế hoạch sản xuất và kinh doanh, và cả việc kiểm toán nội bộ. Điều này đòi hỏi sự chuyên nghiệp, kiến thức, và sự thận trọng trong việc ra quyết định để đảm bảo sự phát triển bền vững của công ty và sự vững mạnh của hệ thống kinh tế. Các quyền và nghĩa vụ này cũng phải tuân theo Điều lệ của công ty và các quy định pháp luật liên quan khác để đảm bảo tính phù hợp và tuân thủ của mọi hoạt động doanh nghiệp.3. Có được làm thành viên hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước khi từng bị kỷ luật đảng không?Dựa trên Điều 94 của Luật doanh nghiệp 2020, các quy định về miễn nhiệm và cách chức thành viên Hội đồng thành viên được quy định như sau:Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:Không còn đáp ứng đủ tiêu chuẩn và điều kiện được quy định tại Điều 93 của Luật doanh nghiệp 2020.Đã nộp đơn xin từ chức và được chấp thuận bằng văn bản từ cơ quan đại diện chủ sở hữu.Có quyết định về việc điều chuyển, bố trí công việc khác hoặc giải ngũ.Không đủ khả năng, trình độ để tiếp tục đảm nhận các nhiệm vụ được giao.Không đủ sức khỏe hoặc không còn đủ uy tín để giữ chức vụ thành viên Hội đồng thành viên.Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể bị cách chức trong các tình huống sau:Công ty không hoàn thành các mục tiêu và chỉ tiêu kế hoạch hàng năm, không duy trì và phát triển vốn đầu tư theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu mà không có khả năng giải trình được nguyên nhân khách quan, hoặc nếu có giải trình, nhưng không được chấp thuận bởi cơ quan đại diện chủ sở hữu.Chịu án phạt từ Tòa án và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.Thực hiện không trung thực quyền và nghĩa vụ hoặc lạm dụng địa vị và chức vụ của họ, sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác, hoặc cung cấp thông tin không trung thực về tình hình tài chính và kết quả sản xuất, kinh doanh của công ty.    Do đó, theo quy định, không có hạn chế cụ thể đối với việc trở thành thành viên Hội đồng thành viên đối với những người đã từng bị kỷ luật đảng. Tuy nhiên, cần xem xét lại Điều lệ của công ty để kiểm tra xem liệu có sự hạn chế cụ thể nào liên quan đến trường hợp này hay không. Cần lưu ý thêm rằng trong trường hợp này, những người có quá khứ kỷ luật đảng phải đáp ứng yêu cầu không từng bị cách chức từ các vị trí quan trọng như Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp nhà nước.Kết luận:  Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2020, không có hạn chế cụ thể đối với việc trở thành thành viên Hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước đối với những người đã từng bị kỷ luật đảng. Tuy nhiên, điều này có thể phụ thuộc vào Điều lệ cụ thể của công ty và yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp. Điều quan trọng là đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ quy định của pháp luật trong quá trình tuyển dụng và bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị để đảm bảo quản lý hiệu quả và bền vững của doanh nghiệp nhà nước. Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan truy cập tại thủ tục pháp luật.    
Bài viết
Đăng ký bằng cách đi tới Link TTPL.VNNhấp vào tài khoản chọn đăng kýChọn Doanh nghiệpNếu bạn là Doanh nghiệp thường Hãy chọn Doanh nghiệpNếu bạn là công ty luật hãy chọn Công ty LuậtLưu ý: khi bạn chọn sẽ xuất hiện vành vàng ở loại hình bạn chọn, nếu không chọn sẽ gây lỗiĐiền thông tin theo hướng dẫnLưu ý: Email và số điện thoại phải có thực, tránh trường hợp mất tài khoản sau nàyĐăng nhập bằng tài khoản và mật khẩu đã dùngLưu ý: bạn cũng có thể dùng Số điện thoại và mật khẩu để đăng nhậpĐăng nhập vào sử dụng phần mềm quản lý công việcBạn có thể đăng nhập ngay bằng phần Dashboard tuy nhiên nếu muốn dùng tài khoản Pro (đầy đủ quyền) Hãy sử dụng nút mua ( Miễn phí)Hãy mua gói LGZ DIAMOND - Hiện tại đang miễn phí trọn đờiNhư vậy bạn đã tạo được một công ty hoàn chỉnh cho mình, Hãy thêm nhân viên và tiếp tục hoạt động miễn phí.Hotline:Hướng dẫn kỹ thuật: 0888889225Hướng dẫn chung: 0888889366  
Bài viết
Bình Luận án lệ số 24/2018/AL:Các quy định liên quan đến Án lệ số 24/2018/AL về “di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân” có thể kể đến các quy định sau:Thứ nhất, Điều 219 Sở hữu chung của vợ chồng (Bộ luật dân sự 2005):"1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.”Thứ hai,  Điều 223. Định đoạt tài sản chung (Bộ luật dân sự 2005)"1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật3. Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác.Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.4. Trong trường hợp một trong các chủ sở hữu chung từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.”Thứ ba, Điều 226. Chấm dứt sở hữu chung (Bộ luật dân sự 2005)"Sở hữu chung chấm dứt trong các trường hợp sau đây:1. Tài sản chung đã được chia;2. Một trong số các chủ sở hữu chung được hưởng toàn bộ tài sản chung;3. Tài sản chung không còn;4. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”Án lệ này đã đưa ra những điều kiện cần và đủ để xác định trường hợp nào thì di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân. Theo đó, việc người chồng hoặc vợ còn sống cùng với các thừa kế của người chết trước thống nhất phân chia toàn bộ nhà, đất của vợ chồng là hợp pháp khi có đủ các điều kiện sau:(1) Các bên thỏa thuận thống nhất phân chia nhà, đất;(2)Thỏa thuận phân chia không vi phạm quyền lợi của bất cứ thừa kế nào, không có ai tranh chấp;(3) Việc phân chia đã được thực hiện trên thực tế và được điều chỉnh trên sổ sách giấy tờ về đất đai.Các điều kiện nêu trên chính là điều kiện đảm bảo thỏa thuận phân chia thể hiện đúng ý chí của các bên, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên theo quy định của pháp luật, phù hợp với nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong giao dịch dân sự. Về mặt thủ tục, việc chuyển dịch về quyền tài sản thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi nhận. Án lệ đã khẳng định đối với trường hợp này, nhà, đất không còn là di sản thừa kế mà đã chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của các cá nhân. Không chỉ vậy, Án lệ đã chỉ ra đường lối áp dụng thống nhất pháp luật về tố tụng, theo đó trường hợp di sản thừa kế đã chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân thì người đã nhận phân chia tài sản chỉ có quyền khởi kiện đòi lại nhà, đất được chia đang bị người khác chiếm hữu, sử dụng bất hợp pháp mà không có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế là nhà, đất. Click vào đây để xem Nội dung Án lệ số 24/2018/AL 
Bài viết
Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sựMột luật sư cần những kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự trên thực tiễn ? Phân tích một số vụ án hình sự và các vấn đề pháp lý liên quan đến thực tiễn sẽ được luật sư LegalZone tư vấn, giải đáp, trích dẫn cụ thể:Nội dung chính bài viết1. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự1. Khái niệm về hồ sơ vụ án hình sự:2. Khái niệm Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:3. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ:4. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:4.1 Kỹ năng nghiên cứu bản cáo trạng:4.2 Kỹ năng nghiên cứu bản kết luận điều tra:4.3 Kỹ năng nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can:4.4 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng:4.5 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại4.6 Kỹ năng nghiên cứu biên bản đối chất4.7 Kỹ năng nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra …4.8 Kỹ năng nghiên cứu kết luận giám định:4.9 Kỹ năng nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo và các biên bản, tài liệu khác.5. Kỹ năng chuẩn bị luận cứ bào chữa cho bị cáoMỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý:1. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sựTrong quá trình phân tích vụ việc, nghiên cứu hồ sơ vụ án là khâu quan trọng để đi đến những lập luận hợp pháp có lợi nhất. Có những phương pháp nghiên cứu khác nhau cho từng loại hồ sơ tuỳ theo lĩnh vực : hồ sơ của vụ việc hành chính, dân sự, hình sự… Tuy nhiên, điển hình và tiêu biểu nhất vẫn là kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự1. Khái niệm về hồ sơ vụ án hình sự:Hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các văn bản, tài liệu được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập hoặc lập ra trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, được sắp xếp theo một trình tự nhất định phục vụ cho việc giải quyết vụ án và lưu trữ lâu dài.Thông thường hồ sơ vụ án hình sự được sắp xếp theo một trình tự nhất định, theo nhóm tài liệu, lấy thời gian thu thập làm căn cứ để sắp xếp theo thứ tự tài liệu thu thập trước để ở trên, tài liệu thu thập sau để ở dưới, cụ thể như sau:– Các văn bản về khởi tố vụ án, khởi tố bị can– Các văn bản về thủ tục trong việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn– Các tài liệu về kết quả điều tra không thuộc lời khai của những người tham gia tố tụng– Biên bản ghi lời khai của người tham gia tố tụng– Tài liệu về nhân thân bị can– Tài liệu về nhân thân người bị hại– Các tài liệu về đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra– Tài liệu kết thúc điều tra– Tài liệu về truy tố– Tài liệu trong giai đoạn xét xử– Các tài liệu của Toà án cấp trên khi huỷ án điều tra lại hoặc xét xử lại (nếu có)Việc nghiên cứu cách sắp xếp hồ sơ vụ án cho phép Luật sư nhìn nhận một cách tổng thể các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để có phương pháp nghiên cứu khoa học, hiệu quả và trích dẫn tài liệu, bút lục có trong hồ sơ đúng và chính xác. Mặt khác, luật sư phải nhớ thứ tự sắp xếp hồ sơ vụ án để khi kết thúc việc nghiên cứu hồ sơ, bàn giao lại hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng không bị thất lạc, mất thời gian tìm lại, đồng thời học cách sắp xếp tiểu hồ sơ của mình để tiện cho việc tra cứu, trích dẫn khi thực hiện bào chữa tại phiên toà.>>>>> Số điện thoại luật sư tư vấn miễn phí2. Khái niệm Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các họat động của Luật sư: xem xét, đọc, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhằm nắm vững bản chất vụ án, diễn biến của hành vi phạm tội, qua đó xác định sự thật khách quan của vụ án. Trên cơ sở đó, luật sư xác định những vấn đề cần trao đổi, đề xuất với cơ quan tiến hành tố tụng cũng như chuẩn bị kế hoạch, xác định phương án bào chữa hoặc phương án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ Luật sư cần phải nghiên cứu hồ sơ một cách tòan diện và đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tránh tư tưởng chủ quan chỉ nghiên cứu những tài liệu mà mình cho là quan trọng, còn các tài liệu khác thì bỏ qua. Tuỳ theo hồ sơ vụ án cụ thể, Luật sư có thể nghiên cứu hồ sơ theo thứ tự thời gian diễn ra, theo trình tự tố tụng hoặc theo từng tập tài liệu liên quan đến từng người tham gia tố tụng. Yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu đầy đủ, ghi chép, lập được hệ thống chứng cứ của vụ án để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch bào chữa, đề cương bào chữa hoặc luận cứ bảo vệ quyền lợi cho đương sự.3. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ:Phương pháp nghiên cứu hồ sơ là cách thức Luật sư có thể nghiên cứu hồ sơ vụ án theo trình tự tố tụng diễn ra theo thời gian bắt đầu từ quyết định khởi tố vụ án rồi mới nghiên cứu các tài liệu xác định về về hành vi phạm tội của bị can…Người bào chữa có thể nghiên cứu hồ sơ không theo trình tự tố tụng , phương pháp này bắt đầu từ việc nghiên cứu Cáo trạng của Viện kiểm sát tiếp đến là Kết luận điều tra và các tài liệu khác. Nghiên cứu theo phương pháp này cho phép nghiên cứu hồ sơ qua đó kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của các quyết dịnh tố tụng. Mỗi phương pháp có thế mạnh khác nhau, tuỳ theo từng hồ sơ vụ án, tính chất phức tạp, số lượng bị can, bút lục có trong hồ sơ của vụ án, thời gian vật chất dành cho việc nghiên cứu, vị trí tham gia tố tụng của người được trợ giúp pháp lý, người bào chữa có thể sử dụng một trong các phương pháp hoặc kết hợp các phương pháp nghiên cứu thích hợp để đạt hiệu quả cao.4. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:4.1 Kỹ năng nghiên cứu bản cáo trạng:Luật sư nghiên cứu bản cáo trạng để hiểu nội dung của vụ án, diễn biến hành vi phạm tội của bị can, yêu cầu giải quyết bồi thườngthiệt hại (nếu có) và quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát. Khi nghiên cứu bản cáo trạng, Luật sư cần ghi chép lại đầy đủ các hành vi phạm tội của bị can; tội danh, điều khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát viện dẫn để truy tố; các chứng cứ được Viện kiểm sát dùng làm căn cứ xác định tội phạm , người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị hại, đương sự. Thông qua nghiên cứu cáo trạng, luật sư cần rút ra được những điểm quan trọng liên quan đến việc bào chữa, bảo vệ.Cùng với việc nghiên cứu cáo trạng, Luật sư cần đọc biên bản giao nhận cáo trạng để tìm hiểu xem bị can có đồng ý với nội dung bản cáo trạng hay không? nếu không đồng ý thì ý kiến của bị can như thế nào, bị can có đưa ra được những chứng cứ để bác bỏ một phần hay toàn bộ nội dung quyết định truy tố hay không? Thông thường, những bị can đồng ý với nội dung bản cáo trạng thì ra phiên toà sẽ nhận tội, ít phản cung; những bị can không chấp nhận nội dung bản cáo trạng thì sẽ không nhận tội và thường thay đổi lời khai. Trường hợp bị can không đồng ý với nội dung bản cáo trạng Luật sư cần nghiên cứu kỹ các chứng cớ để xác định sự thật của vụ án và trao đổi với họ.4.2 Kỹ năng nghiên cứu bản kết luận điều tra:Luật sư nghiên cứu bản kết luận điều tra để hiểu rõvề diễn biến của tội phạm, các chứng cứ mà cơ quan điều tra dùng để hiểu rõ về diễn biến của tội phạm , các chứng cứ mà Cơ quan điều tra dùng để chứng minh tội phạm và quan điểm, ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của Cơ quan điều tra.Trong quá trình nghiên cứu bản kết luận điều tra, Luật sư cần so sánh, đối chiếu, ghi lại những hành vi của bị cáo có nêu trong cáo trạng nhưng không được đề cập trong kết luận điều tra ; những điểm mâu thuẫn giữa bản cáo trạng và kết luận điều tra; quan điểm, ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của cơ quan điều tra có lợi cho người được trợ giúp pháp lý mà mình bào chữa, bảo vệ.4.3 Kỹ năng nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can:Khi nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can, Luật sư cần làm rõ xem bị can có nhận những hành vi nêu trong cáo trạng hay không. trường hợp bị can nhận tội thì tìm hiểu tư tưởng, động cơ, mục đích, việc thực hiện hành vi phạm tội và sự ăn năn, hối cải của bị can như thế nào? Trên cơ sở đó xác định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo như hìan cảnh phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, động cơ, muc đích phạm tội, nhân thân của bị can. Trong trường hợp bị can không nhận tội, Luật sư nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can để nắm được các lý lẽ, chứng cứ mà bị can đưa ra để bào chữa cho mình.Khi nghiên cứu các biên bản hỏi cung, Luật sư cần ghi lại theo trình tự thời gian: các hình vi bị can nhận như trong cáo trạng (có trích dẫn bút lục); hành vi nào cáo trạng nêu nhưng bị can không thừa nhận, các lý lẽ bị can đưa ra để bào chữa, chứng minh cho mình không có những hành vi đó? Hành vi nào ban đầu bị can nhận tội nhưng sau đó không thừa nhận nữa (ghi rõ tội nhận tội ở biên bản hỏi cung nào, bút lục nào?).Khi nghiên cứu các biên bản hỏi cung, Luật sư cần kiểm tra về thủ tục tố tụng: xem biên bản hỏi cung đầu tiên có ghi phần giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can hay không; biên bản hỏi cung có bị tẩy xóa, sửa chữa hay viết thêm hay không? Nếu bị sửa chữa thì có chữ ký xác nhận của bị can hay không? Trong trường hợp biên bản hỏi cung ghi cả thái độ, cử chỉ của bị can trong lúc trả lời như bị can cúi đầu, im lặng, không trả lời, lý do bị can không ký vào biên bản…thì Luật sư cần ghi lại và lưu ý làm rõ nguyên nhân, trong nhiều trường hợp những cử chỉ, hành vi này thể hiện diễn biến tâm lý, đấu tranh tư tưởng của bị can khi khai báo hoặc bị can phản ứng việc làm sai trái của Điều tra viên.4.4 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng:Luật sư nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng để hiểu rõ sự việc phạm tội xảy ra có những người nào biết, nghiên cứu những xác nhận của họ về các tình tiết của sự việc như thế nào. Trên cơ sở đó, Luật sư sử dụng lời khai của những người làm chứng để bảo vệ cho bị cáo hoặc đương sự. Khi nghiên cứu bản ghi lời khai của người làm chứng trực tiếp hay gián tiếp biết về tình tiết của vụ án; mối quan hệ của người làm chứng với bị can, bị cáo, người bị hại như thế nào? Khi người làm chứng tiếp nhận các thông tin về tội phạm thì các điều kiện chủ quan (tinh thần, tuổi tác, nghề nghiệp, khả năng tiếp thu thông tin, nhận thức của người làm chứng…) và điều kiện khách quan ( không gian , thời gian, thời tiết, ánh sáng, âm thanh..nơi xảy ra vụ án) tác động ra sao? Những tình tiết trong lời khai của người làm chứng cần được sử dụng để bảo vệ cho bị can , bị cáo (ghi rõ số bút lục). Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa các lời khai của một người làm chứng teong các lần khai khác nhau hoặc mâu thuẫn giữa các lời khai của những người làm chứng thì phải tìm ra nguyên nhân, kiểm tra tính xác thực, trong trường hợp cần thiết phải đối chiếu với các lời khai, chứng cứ khác.4.5 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hạiLuật sư nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại để nắm vững diễn biến của tội phạm, các hành vi phạm tội của bị can, bị cáo đã thực hiện như thế nào? mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, quan điểm của người bị hại hoặc nhân thân của họ về việc giải quyết vụ án và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Khi nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại, cần chú ý so sánh, đối chiếu các lời khai của người bị hãi trong các lần khác nhau xem có phù hợp hay mâu thuẫn với nhau; đối chiếu giữa lời khai của người bị hại với lời khai của bị can, bị cáo thì Luật sư cần làm rõ mâu thuẫn trong lời khai của người bị hại với thực tế khách quan và với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nếu bảo vệ cho người bị hại, Luật sư cần nghiên cứu và ghi lại những tình tiết xac định hành vi phạm tội của bị can, bị cáo và các chứng cứ xác định về việc bồi thường thiệt hại là có cơ sở.4.6 Kỹ năng nghiên cứu biên bản đối chấtTrong hồ sơ vụ án có thể có nhiều biên bản đối chất giữa các bị can, bị cáo với nhau; biên bản đối chất giữa bị can và người làm chứng…Khi tham gia tố tụng, Luật sư cần nghiên cứu các biên bản này để có cơ sở đánh giá những lời khai còn mâu thuẫn. Nếu lời khai trong biên bản đối chất có lợi cho người được trợ giúp pháp lý thì cần ghi lại để sử dụng trong quá trình bảo vệ, bào chữa.4.7 Kỹ năng nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra …Nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra… nhằm kiểm tra xem các loại biên bản này có được thực hiện theo đúng trình tự và thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định hay không như có ghi trong thành phần người tham gia, ý kiến người chứng kiến hay không; những đồ vật cần niêm phong có chữ ký của chủ quản đồ vật hay không. Đối với hoạt động điều tra, thu thập vật chứng, Luật sư cần chú ý địa điểm và cách thức thu thập vật chứng, các đặc điểm riêng của vật chứng, quá trình thu thập vật chứng. Luật sư cần so sánh vật chứng với các chứng cứ khác xem có phù hợp hay không để xác định giá trị chứng minh nguồn chứng cứ này.4.8 Kỹ năng nghiên cứu kết luận giám định:Nghiên cứu kết luận giám định nhằm kiểm tra các điều kiện để đưa ra kết luận giám định có được bảo đảm hay không (vật chứng, số lượng, chất lượng đồ vật, tài liệu gửi đi giám định, thủ tục yêu cầu giám định…); các phương pháp được áp dụng để thực hiện giám định có cơ sở khoa học hay không. Luật sư cần so sánh kết luận giám định với các chứng cứ khác của vụ án để đánh giá độ chính xác của kết luận giám định. Nếu thấy kết quả giám định không có cơ sở tin cậy (thiếu cơ sở khoa học, không phù hợp với thực tiễn khách quan…) thì ghi lại và đề nghị với Tòa án yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại.4.9 Kỹ năng nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo và các biên bản, tài liệu khác.Luật sư cần nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo để hiểu rõ về nhân thân của họ; cần ghi tóm ắtt hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống của bị can, bị cáo. Đặc biệt khi bào chữ cho bị can, bị cáo phải chú ý ghi lại những điểm về nhân thân bị can, bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt để làm cơ sở đề nghị Toà án xem xét quyết định hình phạt. trường hợp luật sư bảo vệ cho người bị hại thì cần ghi lại những đặc điểm nhân thân bất lợi cho bị cáo như bị cáo có tiền án, tiền sự, những lần vi phạm pháp luật của bị cáo…Khi tham gia tố tụng, Luật sư cần nghiên cứu các biên bản, tài liệu khác như biên bản giao nhận cáo trạng, các biên bản xác minh của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; các nhận xét và đề nghị của các cơ quan đoàn thể; các đơn từ khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng. Luật sư cần nghiên cứu kỹ các tài liệu này nhằm tìm ra những chứng cứ có lợi cho thân chủ mà mình bảo vệ, bác bỏ những điểm mâu thuẫn, bất hợp lý để đề nghị Toà án bác bỏ, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ.5. Kỹ năng chuẩn bị luận cứ bào chữa cho bị cáoDù luật sư giỏi đến đâu chăng nữa, trước khi tham dự phiên tòa đều phải chuẩn bị đề cương chi tiết bài bào chữa, trong đó đặc biệt chú ý đến luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích cho bị cáo trên cơ sở những nhận định, đánh giá, buộc tội bì cáo trong hồ sơ vụ án và các tài liệu, chứng cứ, vật chứng có liên quan đến vụ án.Kết quả bào chữa phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị bài bào chữa. Nó giúp cho người bào chữa tự tin, giữ được tâm lý chủ động trong quá trình tranh tụng và lịp thời bổ sung thêm những lậun cứ mới phát sinh trong quá trình tranh tụng. Nếu không chuẩn bị tốt bài bào chữa, Luật sư sẽ rơi vào tình thế bị động, bào chữa tản mạn, dài dòng, lập luận không logic, chặt chẽ, thậm chí dùng những thuật ngữ không chính xác, bỏ sót những tình tiết có lợi cho bị cáo hoặc đương sự, không tập trung vào vấn đề mang tính bản chất nhằm gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.Để chuẩn bị bản luận cứ bào chữa tốt thì người bào chữa phải tổng hợp các tài liệu đã có trong hồ sơ, các tài liệu thu thập được sau khi nghiên cứu hồ sơ, các tài liệu do bị cáo và thân nhân của họ cung cấp; các tài liệu thu nhập được trong quá trình gặp người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án, các tài liệu đã xuất trình với cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị họ ch6áp nhận làm chứng cứ của vụ án và các văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, Luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hình sự,…mà người bào chữa sẽ sử dụng và viện dẫn khi bào chữa.Để xây dựng được một bài bào chữa ngắn gọn, xúc tích, lập luận chặt chẽ, logic và có sức thuyết phục, Luật sư phải tập trung trí tuệ phân tích các quan điểm, nhận định, đánh giá luận cứ buộc tội của Kiểm sát viên về diễn biến vụ án, đặc điểm phạm tội, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và các luận cứ buộc tội. Trên cơ sở đó, so sánh với nhận định, đánh giá, quan điểm của mình sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét hiện trường, tài liệu, chứng cứ, vật chứng có liên quan, tìm hiểu nhân thân bị cáo và tham khảo ý kiến cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quanhoặc biết vụ việc và đưa ra luận cứ của mình.Thông thường nội dung của bài bào chữa gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.– Phần mở đầu của bài bào chữa bao giờ cũng bắt đầu từ những lời thưa gửi xã giao, lịch thiệp: “Kính thưa Hội đồng xét xử; kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, thưa các quý vị…” thể hiện sự tôn trọng với tất cả mọi người. Sau đó, người bào chữa tự giới thiệu về bản thân mình, về tổ chức chủ quản, về lý do tham gia bào chữa, bảo vệ cho thân chủ. Ví dụ: Kính thưa Hội đồng xét xử, kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát, tôi là Nguyễn Văn A, trợ giúp viên pháp lý (Luật sư là cộng tác viên) của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đà Nẵng nhận nhiệm vụ bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý là bị cáo Nguyễn Văn B tại phiên toà sơ thẩm hôm nay.Có nhiều cách để mở đầu khác nhau nhưng nhìn chung, phần mở đầu phải giới thiệu để Hội đồng xét xử, những người tham gia phiên toà biết được người bào chữa, bảo vệ là ai, lý do tham gia bào chữa và bào chữa cho ai? Yêu cầu của phần mở đầu là phải gậy được sự chú ý cho ngừơi nghe, kích thích được sự quan tâm của tất cả những người có mặt ở phiên tòa và định hướng cho họ tiếp nhận những quan điểm, ý kiến tranh luận của Luật sư. Vì vậy, phần mở đầu cần ngắn gọn, rõ ràng, khúc triết, gây chú ý cho ngườ nghe ngay từ đầu.– Phần nội dung của bài bào chữa cần tập trung phân tích những nhận định, đánh giá, luận cứ buộc tội của cáo trạng và đưa ra những chứng cứ pháp lý chứng minh sự không đầy đủ, mâu thuẫn, không phù hợp với sự thật khách quan của vụ án để phủ nhận lời cáo buộc của Viện kiểm sát và gỡ tội cho bị cáo. Trong phần này phải nêu ra được các chứng cứ, phân tích được các tình tiết có lợi cho thân chủ, phải viện dẫn các căn cứ pháp luật theo hướng có lợi cho thân chủ để từ đó chứng minh cho định hướng bào chữa của mình. Trong trường hợp có tình tiết mới Luật sư thu thập được chứng cứ gỡ tội, giảm nhẹ tội thì sử dụng để bác bỏ luận cứ buộc tội của Viện kiểm sát. Để có luận cứ gỡ tội hoặc đề nghị giảm nhẹ tội, Luật sư phải nêu lên được điều kiện (nguyên nhân phạm tội), phân tích đặc điểm nhân cách của thân chủ lúc phạm tội dẫn đến động cơ phạm tội, làm rõ nguyên nhân dẫn đến bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và cấu trúc của hành vi phạm tội. Trong nhiều trường hợp, động cơ phạm tội quyết định hình thức lỗi là tình tiết định tội, định khung hình phạt, nhưng đồng thời cũng là những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Luật sư cần chú ý đề cập đến những vấn đề trên khi nó có tác dụng gỡ tội hoặc là tình tiết giảm nhẹ tội.– Phần kết luận của bài bào chữa cần ngắn gọn và biểu cảm, trong đó khẳng định quan điểm, nhận định cuối cùng của người bào chữa với những chứng cứ pháp lý rõ ràng và đưa ra những đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm, khoản, điều của các luật tương ứng để từ đó đưa ra những kết luận có lợi cho người được trợ giúp pháp lý cũng như việc giải quyết vần đề khác của vụ án. Cuối cùng, Luật sư thể hiện sự tin tưởng vào phán quyết công minh, bình đẳng, khách quan và đúng pháp luật của Hội đồng xét xử và chân thành cảm ơn.MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý:1. Khi chuẩn bị luận cứ bào chữa, sau mỗi ý phải để khoảng trống, cách dòng để có thể bổ sung thêm được những nội dung mới phát sinh tại Toà án, tránh phải sửa chữa, tẩy xoá trong bản bào chữa. Đây là kinh nghiệm thực tiễn có nhiều tiện ích nên người bào chữa cần lưu ý.2.Bài bào chữa dù soạn thảo cẩn thận đến đâu cũng không phải là hoàn hảo nhất vì nó được chuẩn bị trên cơ sở những gì đã có trong hồ sơ vụ án và những chứng cứ, tài liệu thu thập được. Nó có thể chưa đầy đủ hoặc thừa, vô dụng khi tại phiên toà phát sinh những tình tiết mới, sự kiện mới, chứng cứ mới hoặc bên buộc tội tự rút bỏ hoặc bổ sung thêm những chứng cứ buộc tội của mình. Vì vậy, luật sư cần phải tập trung cao độ chú ý lắng nghe khi Kiểm sát viên đọc bản luận tội, và những câu hỏi, trả lời, ý kiến tranh luận của những người tham gia phiên toà để kịp thời điều chỉnh quan điểm, nhận xét, đánh giá và đưa ra luận cứ gỡ tội phù hợp;3. Khi tranh tụng tại Toà án, Luật sư nên sử dụng đề cương chi tiết của bài bào chữa mà không nên đọc bài bào chữa chuẩn bị sẵn. Như vậy sẽ giúp cho luật sư tự tin và tự nhiên hơn, tự do, thoải mái hơn mà không phụ thuộc nhiều vào bài bào chữa. Đương nhiên là Luật sư phải thuộc bài bào chữa đã được chuẩn bị.4.Trước khi tham dự phiên toà, người bào chữa phải kiểm tra bản bào chữa, bài bảo vệ bằng cách đọc lại và rà soát lại nội dung, luận cứ bào chữa, đồng thời chuẩn bị tài liệu, chứng cứ cần thiết phục vụ bào chữa. Tài liệu, chứng cứ phục vụ bào chữa phải được sắp xếp khoa học, thuận tiện cho việc sử dụng tại phiên toà bằng cách tài liệu nào cần sử dụng trước thì để lên trên, cái nào sử dụng sau thì để xuống dưới, tráng trường hợp khi cần viện dẫn thì tìm mãi không thấy.