0888889366
Danh mục
LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG
Văn An
145 ngày trước
Bài viết
Hướng dẫn Thủ tục giám định bệnh nghề nghiệp
Khi nào người lao động được giám định bệnh nghề nghiệp? Quy định này được thể hiện trong khoản 1 Điều 47 của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015. Theo quy định này, người lao động bị tai nạn lao động hoặc mắc phải bệnh nghề nghiệp sẽ được tiến hành giám định hoặc giám định lại mức suy giảm khả năng lao động trong các trường hợp sau đây:Sau khi bị thương tật hoặc mắc phải bệnh tật lần đầu và đã được điều trị đến tình trạng ổn định, nhưng vẫn còn di chứng ảnh hưởng tới sức khỏe.Sau khi thương tật hoặc bệnh tật tái phát và đã được điều trị đến tình trạng ổn định.Đối với trường hợp thương tật hoặc bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế, người lao động được tiến hành giám định trước hoặc ngay trong quy trình điều trị.Với những quy định rõ ràng như trên, người lao động có thể biết được khi nào họ được thực hiện giám định bệnh nghề nghiệp dựa trên tình trạng và quá trình điều trị của họ. Điều này nhằm đảm bảo quyền và sức khỏe của người lao động trong môi trường làm việc.Hồ sơ giám định bệnh nghề nghiệpHồ sơ giám định bệnh nghề nghiệp gồm các giấy tờ sau đây, theo quy định tại khoản 2 Điều 5 của Thông tư 56/2017/TT-BYT:Hồ sơ khám giám định lần đầu bệnh nghề nghiệp:Giấy giới thiệu hoặc giấy đề nghị khám giám định:Giấy giới thiệu của người sử dụng lao động (đối với người lao động đang thuộc quản lý của doanh nghiệp) theo mẫu quy định tại Phụ lục 1 kèm theo Thông tư này.Giấy đề nghị khám giám định của người lao động (đối với người lao động không còn làm công việc có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp mà phát hiện mắc bệnh nghề nghiệp) theo mẫu quy định tại Phụ lục 2 kèm theo Thông tư này.Bản chính hoặc bản sao hợp lệ Hồ sơ bệnh nghề nghiệp.Bản tóm tắt hồ sơ bệnh án điều trị bệnh nghề nghiệp của người lao động có liên quan đến bệnh nghề nghiệp (nếu có).Đối với trường hợp người lao động không có khả năng điều trị ổn định theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế, bản tóm tắt hồ sơ bệnh án phải ghi rõ bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định.Một trong các giấy tờ có ảnh:Chứng minh nhân dân.Căn cước công dân.Hộ chiếu.Giấy xác nhận của Công an xã có dán ảnh và đóng giáp lai, cấp trong tối đa 03 tháng.Thủ tục giám định bệnh nghề nghiệpThủ tục giám định bệnh nghề nghiệp diễn ra theo các bước sau, dựa trên hướng dẫn tại Quyết định 2968/QĐ-BYT năm 2018:Khám giám định lần đầu do bệnh nghề nghiệp:Bước 1: Người lao động gửi hồ sơ xin giám định cho Cơ quan thường trực của Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh.Bước 2: Cơ quan thường trực của Hội đồng giám định y khoa xem xét hồ sơ và tổ chức khám giám định theo quy định của pháp luật.Trường hợp không thực hiện khám giám định, trong thời gian 10 ngày làm việc, Hội đồng Giám định Y khoa cấp tỉnh phải trả lời bằng văn bản cho cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu giám định, nêu rõ lý do và chịu trách nhiệm về việc không tổ chức khám giám định.Bước 3: Trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ khi Hội đồng có kết luận, cơ quan thường trực của Hội đồng Giám định y khoa phát hành Biên bản giám định y khoa.Khám giám định lại bệnh nghề nghiệp tái phát:Bước 1: Người lao động hoặc tổ chức sử dụng lao động gửi hồ sơ xin giám định cho Cơ quan thường trực của Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh.Bước 2: Cơ quan thường trực của Hội đồng giám định y khoa xem xét hồ sơ và tổ chức khám giám định theo quy định của pháp luật.Trường hợp không thực hiện khám giám định, trong thời gian 10 ngày làm việc, Hội đồng Giám định Y khoa cấp tỉnh phải trả lời bằng văn bản cho cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu giám định, nêu rõ lý do và chịu trách nhiệm về việc không tổ chức khám giám định.Bước 3: Trong thời gian 10 ngày làm việc kể từ khi Hội đồng có kết luận, cơ quan thường trực của Hội đồng Giám định y khoa phát hành Biên bản giám định y khoa.Tóm lại, thủ tục giám định bệnh nghề nghiệp được thực hiện theo quy định của Quyết định 2968/QĐ-BYT năm 2018 và bao gồm các bước cụ thể như trên.Câu hỏi liên quanCâu hỏi: Danh mục bệnh giám định y khoa bao gồm những gì? Trả lời: Danh mục bệnh giám định y khoa là danh sách các bệnh, thương tích hoặc tình trạng sức khỏe mà một bệnh nhân hoặc cá nhân cần được đánh giá bởi một chuyên gia y khoa. Đây là một bước quan trọng trong quá trình định đoạn bệnh và xác định khả năng làm việc và thẩm định bảo hiểm y tế.Câu hỏi: Tư đi giám định y khoa có ý nghĩa gì? Trả lời: Tư đi giám định y khoa là quá trình mà bệnh nhân hoặc cá nhân tự do lựa chọn một bác sĩ chuyên khoa y khoa để đánh giá tình trạng sức khỏe của họ. Điều này giúp họ có sự kiểm soát và đảm bảo tính công bằng trong quá trình giám định y khoa.Câu hỏi: Hồ sơ giám định y khoa cần bao gồm những tài liệu gì? Trả lời: Hồ sơ giám định y khoa thường bao gồm bản sao các tài liệu như bản kết quả xét nghiệm, hồ sơ bệnh án, bản sao giấy tờ tùy thân và bất kỳ tài liệu y tế nào khác liên quan đến tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. Điều này giúp cho việc giám định y khoa được thực hiện một cách chính xác.Câu hỏi: Nơi nào có thể tìm thấy mẫu đơn xin giám định y khoa? Trả lời: Mẫu đơn xin giám định y khoa thường được cung cấp bởi các cơ sở y tế, bảo hiểm y tế hoặc trên trang web chính thức của cơ quan y tế địa phương. Bạn có thể yêu cầu mẫu đơn này tại phòng khám hoặc trung tâm y tế gần bạn.Câu hỏi: Làm thế nào để tính tỷ lệ giám định y khoa? Trả lời: Tỷ lệ giám định y khoa thường được tính dựa trên các yếu tố như mức độ khả năng làm việc của người được giám định, tình trạng sức khỏe và danh mục bệnh đã được xác định. Đây là một phần quan trọng trong quá trình định đoạn bệnh và xác định mức độ thẩm định bảo hiểm y tế. 
Lã Thị Ái Vi
154 ngày trước
Bài viết
Hướng dẫn chi tiết thủ tục cấp chứng chỉ kiểm định viên trong lĩnh vực an toàn và vệ sinh lao động
Định nghĩa về kiểm định viên an toàn, vệ sinh lao động Kiểm định viên an toàn lao động là người chuyên nghiệp thực hiện việc kiểm tra kỹ thuật đối với máy móc, thiết bị và vật tư liên quan đến an toàn lao động. Họ chịu trách nhiệm cho việc kiểm định và có thể chỉ đạo hoặc giám sát quá trình này.Yêu cầu và điều kiện để trở thành kiểm định viên an toàn, vệ sinh lao động Để nhận chứng chỉ kiểm định viên an toàn, vệ sinh lao động, cá nhân cần đáp ứng các tiêu chí sau:Sở hữu bằng đại học hoặc cao hơn trong chuyên ngành kỹ thuật liên quan đến đối tượng được kiểm định.Đảm bảo sức khỏe phù hợp với công việc.Có ít nhất 2 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm định kỹ thuật hoặc có liên quan đến việc thiết kế, sản xuất, lắp đặt, sửa chữa, vận hành và bảo dưỡng của đối tượng cần kiểm định.Hoàn tất khóa đào tạo và thi sát hạch về nghiệp vụ kiểm định kỹ thuật an toàn lao động đối với đối tượng cần kiểm định hoặc có hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực kiểm định đối tượng đó.Yêu cầu hồ sơ khi xin chứng chỉ kiểm định viên an toàn, vệ sinh lao độngĐơn yêu cầu cấp chứng chỉ kiểm định viên.Bản sao bằng tốt nghiệp đại học đã được chứng thực hoặc bản gốc để so sánh.Tài liệu xác minh các tiêu chuẩn đã nêu.Giấy chứng nhận sức khỏe, cấp trong vòng 6 tháng trước ngày yêu cầu.Bản sao CMND, hộ chiếu hoặc thẻ căn cước.2 tấm ảnh màu 3x4 chụp gần đây, không quá 6 tháng trước ngày yêu cầu.Quy trình xin chứng chỉ kiểm định viên an toàn, vệ sinh lao độngCá nhân muốn nhận chứng chỉ kiểm định viên cần nộp 1 bộ hồ sơ cho Cục An toàn lao động thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.Cơ quan này sẽ tiếp nhận và xem xét hồ sơ, đồng thời đánh giá nội dung và tính hợp lệ của hồ sơ.Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ đầy đủ và hợp lệ, Cục An toàn lao động sẽ quyết định cấp Chứng chỉ kiểm định viên. Nếu không cấp, họ sẽ trả lời bằng văn bản và giải thích lý do từ chối.Câu hỏi liên quan Câu hỏi: Chứng chỉ kiểm định viên là gì?Trả lời: Chứng chỉ kiểm định viên là văn bản chứng nhận năng lực và kỹ năng của một cá nhân trong lĩnh vực kiểm định kỹ thuật hoặc lĩnh vực cụ thể khác.Câu hỏi: Ai là kiểm định viên ô tô?Trả lời: Kiểm định viên ô tô là người có năng lực và được cấp chứng chỉ để thực hiện việc kiểm tra, đánh giá và xác minh tính an toàn, kỹ thuật của các phương tiện ô tô.Câu hỏi: Làm thế nào để trở thành kiểm định viên?Trả lời: Để trở thành kiểm định viên, một cá nhân cần theo học các khóa đào tạo chuyên nghiệp và vượt qua kỳ thi sát hạch đặt ra bởi cơ quan quản lý.Câu hỏi: Nội dung chính của nghị định 44/2016/NĐ-CP là gì?Trả lời: Nghị định 44/2016/NĐ-CP quy định về quản lý và sử dụng pháo, bao gồm các quy định về sản xuất, kinh doanh, sử dụng, nhập khẩu, xuất khẩu, nhập khẩu tái xuất, xuất khẩu tái nhập pháo và các quy định liên quan khác.Câu hỏi: Làm thế nào để trả cứu chứng chỉ kiểm định viên?Trả lời: Để trả cứu chứng chỉ kiểm định viên, người ta có thể truy cập vào hệ thống trực tuyến của cơ quan quản lý hoặc liên hệ trực tiếp với cơ quan cấp chứng chỉ để kiểm tra thông tin.Câu hỏi: "Kiểm định viên" trong tiếng Anh dịch là gì?Trả lời: "Kiểm định viên" trong tiếng Anh có thể dịch là "Inspector" hoặc "Certified Inspector", tùy theo ngữ cảnh cụ thể.Câu hỏi: Thông tư 37/2018/TT-BCT liên quan đến lĩnh vực gì?Trả lời: Thông tư 37/2018/TT-BCT liên quan đến các quy định về quản lý chất lượng hàng hóa và dịch vụ.Câu hỏi: Định nghĩa về kiểm định viên là gì?Trả lời: Kiểm định viên là người có trình độ, kỹ năng và chức năng kiểm tra, đánh giá tính đúng đắn và chính xác của một quá trình, sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên các tiêu chuẩn và quy định đã đặt ra. 
Nguyễn Diễm Quỳnh
158 ngày trước
Bài viết
Thang máy gia đình cần đáp ứng những yêu cầu về an toàn lao động nào trong công tác cứu hộ?
Thang máy gia đình, một phần quan trọng của cuộc sống hiện đại, đảm bảo việc di chuyển giữa các tầng trong gia đình trở nên tiện lợi và nhanh chóng. Tuy nhiên, để đảm bảo sự an toàn cho người sử dụng, cũng như trong trường hợp cần cứu hộ, có những quy định và yêu cầu cụ thể về thang máy gia đình theo pháp luật và thủ tục quốc gia. Bài viết này sẽ đi sâu vào khám phá khái niệm "thang máy gia đình" và các yêu cầu về an toàn lao động và công tác cứu hộ liên quan đến chúng.I. Thang máy gia đình là gì?Thang máy gia đình được quy định tại tiểu mục 1.3 Mục 1 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 32:2018/BLĐTBXH về An toàn lao động đối với thang máy gia đình như sau:“Quy định chung...1.3. Giải thích từ ngữ1.3.1. Thang máy gia đình là thang máy điện được điều khiển tự động, lắp đặt cố định, chỉ sử dụng để vận chuyển người, phục vụ những tầng dừng xác định, được dẫn hướng theo phương thẳng đứng hoặc theo phương lệch với phương thẳng đứng một góc tối đa 15°, với kích thước sàn cabin, vận tốc định mức và hành trình nâng như sau:1.3.1.1. Vận tốc định mức của cabin thang máy không vượt quá 0,3m/s.1.3.1.2. Diện tích hữu ích sàn cabin không lớn hơn 1,6 m2 và kích thước các cạnh của sàn cabin không nhỏ hơn 0,6 m.1.3.1.3. Hành trình nâng của cabin không lớn hơn 15 m.1.3.2. Quy chuẩn này sử dụng các thuật ngữ trong Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6395:2008, TCVN 6396-2:2009.”Theo đó, thang máy gia đình là thang máy điện được điều khiển tự động, lắp đặt cố định, chỉ sử dụng để vận chuyển người, phục vụ những tầng dừng xác định, được dẫn hướng theo phương thẳng đứng hoặc theo phương lệch với phương thẳng đứng một góc tối đa 15°. Chúng được thiết kế đặc biệt để vận chuyển người và phục vụ cho việc di chuyển giữa các tầng dừng cố định trong ngôi nhà. Kích thước sàn cabin, vận tốc định mức và hành trình nâng như sau:Vận tốc định mức không vượt quá 0,3m/s.Diện tích hữu ích sàn cabin không lớn hơn 1,6 m2 và kích thước các cạnh của sàn cabin không nhỏ hơn 0,6 m.Hành trình nâng của cabin không lớn hơn 15 m.II. Thang máy gia đình cần đáp ứng những yêu cầu về an toàn lao động nào trong công tác cứu hộ?Yêu cầu về an toàn lao động đối với thang máy gia đình trong công tác cứu hộ được quy định tại tiểu mục 3.11 Mục 3 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 32:2018/BLĐTBXH về An toàn lao động đối với thang máy gia đình như sau:“Quy định về kỹ thuật...3.11. Quy định về công tác cứu hộThang máy phải có hệ thống cứu hộ bằng tay và hệ thống cứu hộ bằng điện để có thể sử dụng linh hoạt trong quá trình cứu hộ thang máy khi gặp sự cố.3.11.1. Cứu hộ bằng tay3.11.1.1. Hệ thống cứu hộ bằng tay cho thang máy sử dụng để dịch chuyển cabin đến tầng dừng gần nhất.3.11.1.2. Trường hợp không tiếp cận được máy dẫn động khi cứu hộ bằng tay, phải có cơ cấu mở phanh máy dẫn động, cơ cấu này đặt bên ngoài giếng thang máy, tại vị trí thuận tiện cho người thực hiện thao tác cứu hộ.3.11.1.3. Tại vị trí mở phanh phải có các biện pháp nhận biết được vị trí cabin (có thể dùng cách đánh dấu lên cáp hoặc bằng cách quan sát hệ thống hiển thị của bộ điều khiển thang máy...).3.11.1.4. Phải có cơ cấu phục hồi tiếp điểm điện an toàn của bộ khống chế vượt tốc, đặt bên ngoài giếng thang máy, tại vị trí thuận tiện cho người thực hiện thao tác cứu hộ.3.11.2. Cứu hộ bằng điện3.11.2.1. Hệ thống cứu hộ bằng điện cho thang máy lắp đặt trong tủ điều khiển cứu hộ đặt bên ngoài giếng thang máy tại vị trí thuận tiện cho người thực hiện thao tác cứu hộ. Trường hợp tủ điều khiển cứu hộ trong giếng thang máy mà không tiếp cận được thì phải có thiết bị điều khiển thay thế3.11.2.2. Cho phép điều khiển chuyển động của cabin từ tủ điều khiển bằng cách ấn nút liên tục. Chiều chuyển động phải được chỉ rõ.…”Như vậy, yêu cầu về an toàn lao động đối với thang máy gia đình trong công tác cứu hộ được quy định cụ thể như sau:Thang máy phải có hệ thống cứu hộ bằng tay và hệ thống cứu hộ bằng điện để có thể sử dụng linh hoạt trong quá trình cứu hộ thang máy khi gặp sự cố.(1) Cứu hộ bằng tay- Hệ thống cứu hộ bằng tay cho thang máy sử dụng để dịch chuyển cabin đến tầng dừng gần nhất.- Trường hợp không tiếp cận được máy dẫn động khi cứu hộ bằng tay, phải có cơ cấu mở phanh máy dẫn động, cơ cấu này đặt bên ngoài giếng thang máy, tại vị trí thuận tiện cho người thực hiện thao tác cứu hộ.- Tại vị trí mở phanh phải có các biện pháp nhận biết được vị trí cabin (có thể dùng cách đánh dấu lên cáp hoặc bằng cách quan sát hệ thống hiển thị của bộ điều khiển thang máy...).- Phải có cơ cấu phục hồi tiếp điểm điện an toàn của bộ khống chế vượt tốc, đặt bên ngoài giếng thang máy, tại vị trí thuận tiện cho người thực hiện thao tác cứu hộ.(2) Cứu hộ bằng điện- Hệ thống cứu hộ bằng điện cho thang máy lắp đặt trong tủ điều khiển cứu hộ đặt bên ngoài giếng thang máy tại vị trí thuận tiện cho người thực hiện thao tác cứu hộ. Trường hợp tủ điều khiển cứu hộ trong giếng thang máy mà không tiếp cận được thì phải có thiết bị điều khiển thay thế- Cho phép điều khiển chuyển động của cabin từ tủ điều khiển bằng cách ấn nút liên tục. Chiều chuyển động phải được chỉ rõ.III. Thang máy lưu thông trên thị trường cần đảm bảo điều kiện gì về an toàn lao động?Điều kiện đảm bảo an toàn đối với thang máy được quy định tại tiểu mục 4.2 Mục 4 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 32:2018/BLĐTBXH về An toàn lao động đối với thang máy gia đình như sau:“Quy định về quản lý...4.2. Điều kiện đảm bảo an toàn đối với thang máy lưu thông trên thị trườngĐối với thang máy lưu thông trên thị trường, người bán hàng phải đảm bảo các yêu cầu sau:4.2.1. Thang máy đã được chứng nhận hợp quy và gắn dấu hợp quy.4.2.2. Tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng trong quá trình bảo quản, lưu thông thang máy và theo hướng dẫn của nhà sản xuất.”Như vậy, theo quy định, đối với thang máy lưu thông trên thị trường, người bán hàng phải đảm bảo các yêu cầu sau:(1) Chứng nhận hợp quy và đánh dấu hợp quy:Thang máy phải được cấp chứng nhận hợp quy và trang bị đánh dấu hợp quy để xác nhận rằng sản phẩm này đáp ứng các tiêu chuẩn và quy định an toàn liên quan.(2) Tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng:Trong quá trình bảo quản và phân phối thang máy, người bán hàng phải tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng. Điều này bao gồm việc áp dụng các hướng dẫn và chỉ dẫn từ nhà sản xuất để đảm bảo thang máy được vận hành và sử dụng an toàn và hiệu quả.Kết luậnThang máy gia đình đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Để đảm bảo an toàn lao động và sự an toàn trong trường hợp cần cứu hộ, cần tuân thủ các quy định và yêu cầu quốc gia liên quan đối với thang máy gia đình. Việc hiểu rõ và tuân thủ các quy định này sẽ đảm bảo rằng thang máy trong gia đình của bạn luôn hoạt động một cách an toàn và hiệu quả. 
Nguyễn Diễm Quỳnh
158 ngày trước
Bài viết
Quy định về quản lý găng tay cách điện sản xuất trong nước như thế nào?
Găng tay cách điện là một trong những yếu tố quan trọng đối với an toàn của người lao động khi làm việc trong môi trường có nguy cơ từ điện. Chúng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người lao động khỏi các nguy hiểm liên quan đến điện. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về găng tay cách điện, cách chúng được sản xuất và quản lý sử dụng trong nước.I. Găng tay cách điện là gì?Găng tay cách điện được giải thích theo tiểu mục 1.3 Mục 1 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 24:2014/BLĐTBXH quy định:“Găng tay cách điện là găng tay làm bằng vật liệu đàn hồi hoặc nhựa dẻo, được sử dụng để bảo vệ người lao động khỏi các nguy hiểm về điện;”Găng tay cách điện là một sản phẩm được định nghĩa trong tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 24:2014/BLĐTBXH. Theo đó, găng tay cách điện là găng tay làm bằng vật liệu đàn hồi hoặc nhựa dẻo, được sử dụng để bảo vệ người lao động khỏi các nguy hiểm về điện. Chúng giúp ngăn ngừa tai nạn và chấn thương do tiếp xúc với điện, đặc biệt là trong các môi trường công việc có nguy cơ cao về điện.II. Quy định về quản lý găng tay cách điện sản xuất trong nước như thế nào?Găng tay cách điện sản xuất trong nước được quy định ở tiểu mục 3.1 Mục 3 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 24:2014/BLĐTBXH. “QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ3.1. Găng tay cách điện sản xuất trong nước3.1.1. Găng tay cách điện sản xuất trong nước phải được chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy phù hợp với các quy định tại mục 2 của Quy chuẩn này.Việc chứng nhận hợp quy do các tổ chức chứng nhận hợp quy đã được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ định thực hiện và thực hiện theo phương thức: thử nghiệm mẫu điển hình kết hợp đánh giá quá trình sản xuất; giám sát thông qua thử nghiệm mẫu lấy tại nơi sản xuất kết hợp với đánh giá quá trình sản xuất (Phương thức 3 trong « Quy định về công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy và phương thức đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật » ban hành kèm theo Thông tư số 28/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ).3.1.2. Găng tay cách điện sản xuất trong nước trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường phải gắn dấu hợp quy và ghi nhãn theo quy định hiện hành của Việt Nam, với các thông tin tối thiểu tại Điều 5.7 mục 5 của TCVN 8084: 2009 (IEC 60903:2002), được đóng gói theo quy định tại Điều 5.8 mục 5 của TCVN 8084: 2009 (IEC 60903:2002).…”Theo đó, găng tay cách điện sản xuất trong nước được quy định như sau:Chứng Nhận Hợp Quy và Công Bố Hợp Quy: Găng tay cách điện sản xuất trong nước phải được chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy phù hợp với các quy định tại mục 2 của Quy chuẩn. Để thực hiện quy trình này, các tổ chức chứng nhận hợp quy đã được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ định. Quá trình này bao gồm thử nghiệm mẫu điển hình cùng với đánh giá quá trình sản xuất. Ngoài ra, việc giám sát được thực hiện thông qua thử nghiệm mẫu lấy tại nơi sản xuất kết hợp với đánh giá quá trình sản xuất. Đây chính là phương thức 3 theo "Quy định về công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy và phương thức đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật," được ban hành kèm theo Thông tư số 28/2012/TT-BKHCN ngày 12/12/2012 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.Gắn Dấu Hợp Quy và Ghi Nhãn: Găng tay cách điện sản xuất trong nước, trước khi được phép lưu thông trên thị trường, phải được gắn dấu hợp quy và ghi nhãn theo quy định hiện hành của Việt Nam. Các thông tin tối thiểu mà phải ghi trên sản phẩm bao gồm các yêu cầu được quy định tại Điều 5.7 mục 5 của TCVN 8084: 2009 (IEC 60903:2002). Đồng thời, sản phẩm cũng phải tuân thủ quy định về đóng gói tại Điều 5.8 mục 5 của TCVN 8084: 2009 (IEC 60903:2002).III. Găng tay cách điện được quản lý sử dụng như thế nào?Quản lý sử dụng găng tay cách điện quy định ở tiểu mục 3.4 Mục 3 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 24:2014/BLĐTBXH cụ thể:“QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ...3.4. Quản lý sử dụng găng tay cách điện3.4.1. Găng tay cách điện phải được bảo quản trong môi trường khô ráo thoáng mát, cách xa vật phát nhiệt, không bị ảnh hưởng của các dung môi có hại và theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất3.4.2. Sử dụng găng tay cách điện đúng mục đích, theo đúng chức năng và theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất.3.4.3. Găng tay cách điện phải được thử nghiệm thường xuyên ít nhất một lần trong 06 tháng.Sau mỗi lần thử nghiệm phải có biên bản ghi lại kết quả thử nghiệm và thời hạn thử nghiệm tiếp theo đối với sản phẩm đạt yêu cầu. Không sử dụng găng tay cách điện nếu kết quả thử nghiệm không đạt yêu cầu.…”Việc quản lý sử dụng găng tay cách điện rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho người lao động. Cụ thể quy định về quản lý sử dụng găng tay cách điện như sau:Găng tay cách điện phải được bảo quản trong môi trường khô ráo thoáng mát, cách xa vật phát nhiệt và không bị ảnh hưởng bởi các dung môi có hại.Sử dụng găng tay cách điện đúng mục đích, theo đúng chức năng và theo hướng dẫn của nhà sản xuất.Găng tay cách điện phải được thử nghiệm thường xuyên ít nhất một lần trong 06 tháng, và kết quả thử nghiệm phải được ghi lại.Không sử dụng găng tay cách điện nếu kết quả thử nghiệm không đạt yêu cầu. Việc tuân thủ các quy định về quản lý sử dụng găng tay cách điện là cách đảm bảo an toàn và bảo vệ người lao động khỏi nguy cơ từ điện trong môi trường làm việc.Kết luậnTrong bài viết này, chúng ta đã xem xét một phần quan trọng của an toàn lao động, đó là găng tay cách điện. Chúng ta đã hiểu rõ về định nghĩa và mục đích của găng tay cách điện, cũng như cách chúng được sản xuất và quản lý sử dụng trong nước.Găng tay cách điện không chỉ là một thiết bị bảo hộ thông thường mà còn là một phần quan trọng của cuộc sống của những người làm việc trong môi trường có nguy cơ từ điện. Chúng giúp ngăn ngừa tai nạn và bảo vệ người lao động khỏi các nguy hiểm liên quan đến điện.Quá trình sản xuất và quản lý sử dụng găng tay cách điện trong nước phải tuân thủ các quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật để đảm bảo tính an toàn và hiệu quả. Việc thực hiện đúng quy định và quy trình là một phần quan trọng trong việc bảo vệ người lao động và giảm nguy cơ tai nạn trong môi trường làm việc. 
Nguyễn Diễm Quỳnh
159 ngày trước
Bài viết
Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm gì trong việc quản lý nhà nước đối với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động?
An toàn vệ sinh lao động là một khía cạnh quan trọng của mọi hoạt động kinh doanh và sản xuất. Để đảm bảo rằng máy móc, thiết bị và vật tư được sử dụng trong môi trường lao động đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn cần thiết, pháp luật và thủ tục kiểm định đã được thiết lập. Bài viết này sẽ đi sâu vào quy định và trách nhiệm liên quan đến kiểm định máy, thiết bị và vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và vệ sinh lao động.I. Thời hạn kiểm định máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động phải được là bao lâu?Theo khoản 1 Điều 31 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 quy định:“Kiểm định máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động1. Các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động phải được kiểm định trước khi đưa vào sử dụng và kiểm định định kỳ trong quá trình sử dụng bởi tổ chức hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động.”Theo đó, các loại máy, thiết bị, và vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động phải được kiểm định trước khi đưa vào sử dụng. Tuy nhiên, thời hạn kiểm định định kỳ trong quá trình sử dụng sẽ khác nhau tùy thuộc vào từng loại máy, thiết bị, hoặc vật tư cụ thể. Thông tin chi tiết về thời hạn kiểm định cần phải tham khảo từ Thông tư 54/2016/TT-BLĐTBXH hoặc cơ quan chuyên môn có thẩm quyền.II. Có phải khai báo với cơ quan nhà nước khi không còn sử dụng các loại máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động không?Theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 như sau:“Sử dụng máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động...2. Khi đưa vào sử dụng hoặc không còn sử dụng, thải bỏ các loại máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động, tổ chức, cá nhân phải khai báo với cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) tại nơi sử dụng theo thẩm quyền quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 33 của Luật này, trừ trường hợp luật chuyên ngành có quy định khác.…”Theo đó, khi không còn sử dụng các loại máy, thiết bị, và vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và vệ sinh lao động, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm khai báo với cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tại nơi sử dụng theo thẩm quyền quy định. Điều này nhằm đảm bảo rằng các máy móc và thiết bị không an toàn sẽ không được sử dụng hoặc lưu trữ mà không có giám sát chính quy.IV. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm gì trong việc quản lý nhà nước đối với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động?Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 33 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 có quy định như sau:“Trách nhiệm của các bộ trong việc quản lý nhà nước đối với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động1. Các bộ có trách nhiệm quản lý nhà nước đối với máy, thiết bị, vật tư và chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động theo phạm vi như sau:a) Bộ Y tế chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động liên quan đến thực phẩm, dược phẩm, vắc xin, sinh phẩm y tế, mỹ phẩm, nguyên liệu sản xuất thuốc, thuốc cho người, hóa chất gia dụng, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn, trang thiết bị y tế;b) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động liên quan đến cây trồng, vật nuôi, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, chế phẩm sinh học dùng trong nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, công trình thủy lợi, đê điều;c) Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động liên quan đến phương tiện giao thông vận tải, phương tiện, thiết bị xếp dỡ, thi công vận tải chuyên dùng, phương tiện, thiết bị thăm dò, khai thác trên biển, công trình hạ tầng giao thông;d) Bộ Công Thương chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động có liên quan đến thiết bị áp lực, thiết bị nâng đặc thù chuyên ngành công nghiệp, hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, trang thiết bị khai thác mỏ, dầu khí, trừ các thiết bị, phương tiện thăm dò, khai thác trên biển;đ) Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động sử dụng trong thi công xây dựng;e) Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với lò phản ứng hạt nhân, vật liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, chất phóng xạ, thiết bị bức xạ;g) Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với các loại máy, thiết bị sử dụng trong phát thanh, truyền hình;h) Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với phương tiện, trang thiết bị quân sự, vũ khí đạn dược, khí tài, sản phẩm phục vụ quốc phòng, công trình quốc phòng;i) Bộ Công an chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy; trang thiết bị kỹ thuật, vũ khí đạn dược, khí tài, công cụ hỗ trợ, trừ trường hợp quy định tại điểm h khoản này;k) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động và các loại máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động không thuộc quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h và i khoản này.2. Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm phối hợp với bộ quản lý ngành, lĩnh vực có liên quan để trình Chính phủ quyết định phân công cụ thể cơ quan chịu trách nhiệm quản lý đối với máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động mới, chưa được quy định tại khoản 1 Điều này hoặc máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động có liên quan đến phạm vi quản lý của nhiều bộ mà chưa được xác định rõ thuộc thẩm quyền quản lý của bộ nào quy định tại khoản 1 Điều này.…”Theo đó, Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 đã xác định trách nhiệm quản lý nhà nước đối với máy, thiết bị, và vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và vệ sinh lao động cho các bộ chuyên ngành khác nhau:Bộ Y tế: Quản lý máy, thiết bị, vật tư liên quan đến y tế, thực phẩm, dược phẩm, và nhiều lĩnh vực khác.Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Quản lý máy, thiết bị, vật tư liên quan đến nông nghiệp và chăn nuôi.Bộ Giao thông vận tải: Quản lý máy móc và thiết bị liên quan đến giao thông và vận tải.Bộ Công Thương: Quản lý thiết bị áp lực, vật liệu công nghiệp, và nhiều lĩnh vực khác.Bộ Xây dựng: Quản lý máy, thiết bị sử dụng trong công trình xây dựng.Bộ Khoa học và Công nghệ: Quản lý lò phản ứng hạt nhân, vật liệu hạt nhân, và nhiều lĩnh vực công nghệ cao.Bộ Thông tin và Truyền thông: Quản lý máy, thiết bị sử dụng trong truyền thông.Bộ Quốc phòng và Công an: Quản lý vũ khí đạn dược, khí tài, sản phẩm quốc phòng.III. Phương án bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động khi sử dụng máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động phải có các nội dung chủ yếu nào?Phương án bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động khi sử dụng máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động phải có các nội dung chủ yếu được quy định tại khoản 2 Điều 29 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 như sau:“Lập phương án bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động khi xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo công trình, cơ sở để sản xuất, sử dụng, bảo quản, lưu giữ máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động...2. Phương án bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động phải có các nội dung chủ yếu sau đây:a) Địa điểm, quy mô công trình, cơ sở;b) Liệt kê, mô tả chi tiết các hạng mục trong công trình, cơ sở;c) Nêu rõ những yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại, sự cố có thể phát sinh trong quá trình hoạt động;d) Các biện pháp cụ thể nhằm loại trừ, giảm thiểu yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại; phương án xử lý sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng, ứng cứu khẩn cấp.”Theo đó, phương án bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động khi sử dụng máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn và vệ sinh lao động phải bao gồm:Địa điểm và quy mô công trình, cơ sở.Liệt kê và mô tả chi tiết các hạng mục trong công trình, cơ sở.Xác định các yếu tố nguy hiểm và yếu tố có hại.Các biện pháp để loại trừ, giảm thiểu yếu tố nguy hiểm và yếu tố có hại.Phương án xử lý sự cố kỹ thuật gây mất an toàn và vệ sinh lao động nghiêm trọng.Kết luậnPháp luật và thủ tục liên quan đến an toàn và vệ sinh lao động là rất quan trọng để đảm bảo môi trường lao động an toàn cho người lao động. Kiểm định máy móc và thiết bị cùng với việc tuân thủ các quy định về bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động là trách nhiệm của tất cả tổ chức và cá nhân. Việc này không chỉ đảm bảo tính toàn vẹn của người lao động mà còn giúp ngăn ngừa các sự cố không mong muốn trong quá trình làm việc.
Nguyễn Phương Thảo
162 ngày trước
Bài viết
CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐƯỢC HƯỞNG KHI BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG, BỆNH NGHỀ NGHIỆP
Bảo hiểm xã hội là một phần quan trọng của hệ thống bảo vệ xã hội, đảm bảo cuộc sống và quyền lợi của người lao động trong mọi tình huống, bao gồm cả khi họ phải đối mặt với tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Trong bài viết này, chúng ta sẽ điểm qua các chế độ bảo hiểm xã hội mà người lao động có thể hưởng khi gặp phải những khó khăn này và mức chi là bao nhiêu cho các khoản trợ cấp này.1.Trợ cấp 01 lần Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định về trường hợp Người lao động được hưởng trợ cấp 01 lần, cụ thể như sau: - Trường hợp người lao động gặp suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30%, họ sẽ được hưởng một khoản trợ cấp một lần.- Mức trợ cấp một lần được quy định như sau:Nếu khả năng lao động suy giảm 5%, người lao động sẽ được hưởng mức trợ cấp bằng năm lần mức lương cơ sở. Sau đó, với mỗi 1% suy giảm khả năng lao động thêm, họ sẽ được hưởng thêm 0,5 lần mức lương cơ sở.Ngoài mức trợ cấp quy định ở trên, người lao động còn có quyền được hưởng một khoản trợ cấp bổ sung, được tính dựa trên số năm họ đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Đối với mỗi năm đóng vào quỹ trong khoảng thời gian một năm trở xuống, khoản trợ cấp này sẽ được tính bằng 0,5 tháng tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng xảy ra tai nạn lao động hoặc bị mắc bệnh nghề nghiệp. Trong trường hợp người lao động bị tai nạn lao động trong tháng đầu tiên tham gia đóng vào quỹ hoặc có thời gian đóng bảo hiểm gián đoạn sau đó trở lại làm việc, tiền lương của tháng đó sẽ là căn cứ tính khoản trợ cấp này.Những quy định này giúp đảm bảo rằng người lao động gặp khó khăn sau tai nạn lao động hoặc khi mắc bệnh nghề nghiệp có được mức trợ cấp phù hợp để duy trì cuộc sống và sức khỏe của họ.2. Trợ cấp hằng tháng Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định về trường hợp Người lao động được hưởng trợ cấp hằng tháng, cụ thể như sau: - Đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên, họ sẽ được hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.- Mức trợ cấp hằng tháng được quy định như sau:Nếu khả năng lao động suy giảm 31%, người lao động sẽ được hưởng trợ cấp bằng 30% mức lương cơ sở. Sau đó, với mỗi 1% suy giảm khả năng lao động thêm, họ sẽ được hưởng thêm 2% mức lương cơ sở.Ngoài mức trợ cấp quy định ở trên, hằng tháng người lao động còn được hưởng một khoản trợ cấp bổ sung, được tính dựa trên số năm họ đã đóng vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Đối với mỗi năm đóng vào quỹ trong khoảng thời gian một năm trở xuống, khoản trợ cấp này sẽ được tính bằng 0,5% mức tiền lương đóng vào quỹ của tháng liền kề trước tháng xảy ra tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Trong trường hợp người lao động bị tai nạn lao động trong tháng đầu tiên tham gia đóng vào quỹ hoặc có thời gian đóng bảo hiểm gián đoạn sau đó trở lại làm việc, tiền lương của tháng đó sẽ là căn cứ tính khoản trợ cấp này.- Mức hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng, trợ cấp phục vụ sẽ được điều chỉnh mức hưởng theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội 2014.3. Phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình Người lao động bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp khi họ bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể sẽ được cấp tiền để mua các phương tiện hỗ trợ sinh hoạt và dụng cụ chỉnh hình. Số tiền này sẽ được xác định dựa trên tình trạng thương tật hoặc bệnh tật của họ, và theo chỉ định của cơ sở y tế chuyên khoa, bệnh viện chăm sóc sức khỏe người lao động, hoặc cơ sở chỉnh hình và phục hồi chức năng. Điều này nhằm đảm bảo rằng họ được trợ cấp đầy đủ các thiết bị kỹ thuật cần thiết để hỗ trợ cuộc sống hàng ngày và phục hồi sức khỏe của mình. (Căn cứ theo Điều 51 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015).4. Trợ cấp phục vụNgười lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và gặp phải những hậu quả nghiêm trọng như liệt cột sống, mù hai mắt, cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần sẽ được hưởng trợ cấp phục vụ hàng tháng bằng mức lương cơ sở, ngoài mức hưởng quy định tại Điều 49 của Luật An toàn và Vệ sinh lao động 2015. Điều này nhằm đảm bảo rằng họ có nguồn thu nhập ổn định để đối phó với các tình huống khó khăn sau những thương tổn và tổn thất nghiêm trọng này. (Căn cứ theo Điều 52 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015).5. Trợ cấp khi người lao động chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệpTheo Điều 53 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, thân nhân của người lao động sẽ được hưởng trợ cấp một lần, bằng ba mươi sáu lần mức lương cơ sở vào tháng người lao động bị chết, và đồng thời được hưởng chế độ tử tuất theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 trong các trường hợp sau đây:Người lao động đang làm việc và bị chết do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.Người lao động bị chết trong thời gian điều trị lần đầu do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.Người lao động bị chết trong quá trình điều trị thương tật hoặc bệnh tật mà chưa được xác định mức suy giảm khả năng lao động.Hồ sơ để hưởng chế độ tử tuất trong trường hợp người lao động bị chết do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp sẽ được thực hiện theo quy định tại khoản 1 của Điều 111 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Điều này nhằm đảm bảo sự hỗ trợ cho thân nhân của người lao động đã qua đời trong các tình huống tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.6. Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật, bệnh tậtCăn cứ theo Điều 54 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, Người lao động sau khi đã được điều trị và thương tật do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp đã được ổn định, nếu trong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi, họ sẽ được nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe. Thời kỳ nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe này kéo dài từ 5 đến 10 ngày cho mỗi lần bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.Trong trường hợp người lao động chưa nhận được kết luận giám định mức suy giảm khả năng lao động từ Hội đồng giám định y khoa trong thời gian 30 ngày đầu trở lại làm việc, họ vẫn sẽ được hưởng chế độ nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe theo quy định tại khoản 2 của Điều 54 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, miễn là Hội đồng giám định y khoa kết luận rằng mức suy giảm khả năng lao động của họ đủ điều kiện để hưởng chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.Thời gian nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sẽ được quy định như sau:Tối đa 10 ngày đối với trường hợp bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp có mức suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên.Tối đa 7 ngày đối với trường hợp bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp có mức suy giảm khả năng lao động từ 31% đến 50%.Tối đa 5 ngày đối với trường hợp bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp có mức suy giảm khả năng lao động từ 15% đến 30%.Người lao động được quy định tại khoản 1 sẽ được hưởng 01 ngày nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe, với mức trợ cấp bằng 30% của mức lương cơ sở.7. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp khi trở lại làm việcĐiều 55 Luật An toàn, vệ sinh lao động quy định trong trường hợp người lao động bị tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp và được sắp xếp công việc mới bởi người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 8 của Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, nếu cần đào tạo để chuyển đổi nghề nghiệp, họ sẽ được hỗ trợ về học phí.Mức hỗ trợ này không vượt quá 50% của tổng mức học phí và không vượt quá mười lăm lần mức lương cơ sở. Mỗi người lao động có thể được hỗ trợ tối đa hai lần và chỉ được nhận hỗ trợ một lần trong một năm Kết luậnQua những điểm cơ bản về mức trợ cấp, quyền lợi và hỗ trợ phục hồi sau thương tật, chúng ta đã nhận thấy tầm quan trọng của hệ thống bảo hiểm xã hội trong việc bảo vệ và hỗ trợ người lao động trong các tình huống khẩn cấp. Việc hiểu rõ các chế độ này không chỉ giúp người lao động biết cách bảo vệ quyền lợi của mình mà còn giúp họ tham gia tích cực vào quá trình phục hồi sức khỏe và thích nghi với cuộc sống sau tai nạn lao động hoặc mắc bệnh nghề nghiệp. 
Nguyễn Diễm Quỳnh
165 ngày trước
Bài viết
Quy trình Báo Cáo Sự Cố Kỹ Thuật và An Toàn Lao Động
Quy trình báo cáo sự cố kỹ thuật gây mất an toàn và vệ sinh lao động là một phần quan trọng của việc đảm bảo an toàn và sức khỏe của người lao động tại nơi làm việc. Theo quy định của Điều 34 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, việc báo cáo sự cố này phải tuân theo các quy trình và bước xác định. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn cụ thể về cách thực hiện quy trình báo cáo sự cố kỹ thuật gây mất an toàn và vệ sinh lao động.I. Sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động là gì?Theo khoản 2 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 có giải thích như sau:“Giải thích từ ngữTrong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:...6. Sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động là hư hỏng của máy, thiết bị, vật tư, chất vượt quá giới hạn an toàn kỹ thuật cho phép, xảy ra trong quá trình lao động và gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho con người, tài sản và môi trường.…”Theo đó, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động là hư hỏng của máy, thiết bị, vật tư, chất vượt quá giới hạn an toàn kỹ thuật cho phép, xảy ra trong quá trình lao động và gây thiệt hại hoặc có nguy cơ gây thiệt hại cho con người, tài sản và môi trường.II. Nghĩa vụ thực hiện việc khai báo sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động thuộc về ai?Theo khoản 2 Điều 7 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định về quyền và nghĩa vụ về an toàn, vệ sinh lao động của người sử dụng lao động như sau:“Quyền và nghĩa vụ về an toàn, vệ sinh lao động của người sử dụng lao động...2. Người sử dụng lao động có nghĩa vụ sau đây:a) Xây dựng, tổ chức thực hiện và chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc thuộc phạm vi trách nhiệm của mình cho người lao động và những người có liên quan; đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động;b) Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các quy định, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; trang bị đầy đủ phương tiện, công cụ lao động bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; thực hiện việc chăm sóc sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp; thực hiện đầy đủ chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động;c) Không được buộc người lao động tiếp tục làm công việc hoặc trở lại nơi làm việc khi có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của người lao động;d) Cử người giám sát, kiểm tra việc thực hiện nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc theo quy định của pháp luật;đ) Bố trí bộ phận hoặc người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động; phối hợp với Ban chấp hành công đoàn cơ sở thành lập mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động;e) Thực hiện việc khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng; thống kê, báo cáo tình hình thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động; chấp hành quyết định của thanh tra chuyên ngành về an toàn, vệ sinh lao động;g) Lấy ý kiến Ban chấp hành công đoàn cơ sở khi xây dựng kế hoạch, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động.”Như vậy, trách nhiệm thực hiện việc báo cáo về sự cố kỹ thuật gây mất an toàn và vệ sinh lao động thuộc về người sử dụng lao động.III. Quy trình khai báo sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao độngTheo khoản 1 Điều 34 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định việc khai báo tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động thực hiện như sau:1. Trường hợp xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc: Người bị tai nạn hoặc người biết sự việc phải báo ngay cho người phụ trách trực tiếp, người sử dụng lao động biết để kịp thời có biện pháp xử lý, khắc phục hậu quả xảy ra;2. Trường hợp các vụ tai nạn quy định tại điểm a khoản này làm chết người hoặc làm bị thương nặng từ hai người lao động trở lên: Người sử dụng lao động có trách nhiệm khai báo đồng thời ngay vớiCơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh nơi xảy ra tai nạn;Cơ quan Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện);3. Trường hợp các vụ tai nạn, sự cố xảy ra trong các lĩnh vực phóng xạ, thăm dò, khai thác dầu khí, các phương tiện vận tải đường sắt, đường thủy, đường bộ, đường hàng không và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân: Người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện khai báo theo quy định của luật chuyên ngành;4. Trường hợp tai nạn lao động làm chết người hoặc bị thương nặng đối với người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động: Gia đình nạn nhân hoặc người phát hiện có trách nhiệm khai báo ngay với Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) nơi xảy ra tai nạn lao động để kịp thời có biện pháp xử lý;Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm báo cáo ngay với cơ quan Công an cấp huyện và cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh nơi xảy ra tai nạn để kịp thời có biện pháp xử lý.;Người phát hiện có trách nhiệm kịp thời khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã tại nơi xảy ra sự cố kỹ thuật và việc báo cáo thực hiện theo quy định tại Điều 19 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 và Điều 36 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.Kết luậnBảo đảm an toàn và vệ sinh lao động là trách nhiệm hàng đầu của người sử dụng lao động. Việc hiểu và thực hiện quy trình báo cáo sự cố kỹ thuật gây mất an toàn và vệ sinh lao động là một phần quan trọng để đảm bảo môi trường làm việc an toàn cho tất cả nhân viên.
Nguyễn Thị Ngọc Lan
170 ngày trước
Bài viết
HỒ SƠ HƯỞNG CHẾ ĐỘ TAI NẠN LAO ĐỘNG HIỆN NAY
Trong một xã hội công nghiệp hóa nhanh chóng, tai nạn lao động không chỉ là một vấn đề sức khỏe mà còn liên quan đến quyền lợi của người lao động. Việc đảm bảo các công nhân có quyền lợi thích hợp sau khi gặp tai nạn lao động là một trách nhiệm quan trọng của nhà nước và các doanh nghiệp. Để làm được điều này, việc biết đến và lập đúng hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động là bước tiên quyết. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động hiện nay.1.Điều kiện để được hưởng chế độ tai nạn lao độngTheo Điều 45 của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, để được hưởng quyền lợi từ tai nạn lao động, người lao động cần đáp ứng các yêu cầu sau:Tai nạn xảy ra trong các tình huống:Khi làm việc tại nơi công tác và trong thời gian làm việc, bao gồm cả thời gian thực hiện các hoạt động cá nhân được Bộ luật Lao động và nội quy công ty cho phép, như nghỉ ngơi, ăn uống, vệ sinh cá nhân và một số hoạt động khác;Khi làm việc ngoài nơi làm hoặc ngoài giờ làm việc theo chỉ đạo của người sử dụng lao động hoặc người có thẩm quyền do người sử dụng lao động ủy nhiệm thông qua văn bản;Trong lúc di chuyển từ nhà đến nơi làm việc và ngược lại, trong khoảng thời gian và lộ trình hợp lý.Tai nạn gây suy giảm khả năng làm việc 5% trở lên.Tuy nhiên, một số trường hợp không được hưởng quyền lợi gồm:Tai nạn xảy ra do mâu thuẫn cá nhân không liên quan đến công việc;Người lao động cố tình tự làm hại sức khỏe của mình;Sử dụng ma túy hoặc các chất gây nghiện khác không phù hợp với luật pháp.2. Hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động hiện nayĐể hưởng chế độ tai nạn lao động, người lao động cần tuân theo nhiều thủ tục và chuẩn bị các hồ sơ khác nhau. Dưới đây là danh sách các hồ sơ cần thiết:2.1. Hồ sơ khám giám định mức suy giảm khả năng lao động lần đầu:Giấy giới thiệu từ người sử dụng lao động (nếu người bị tai nạn lao động thuộc quyền quản lý của họ tại thời điểm đề nghị khám giám định).Giấy đề nghị khám giám định (nếu người lao động không còn thuộc quyền quản lý của người sử dụng lao động).Bản chính hoặc bản sao hợp lệ của Giấy chứng nhận thương tích do cơ sở y tế cấp (nơi đã cấp cứu và điều trị cho người lao động).Bản chính hoặc bản sao hợp lệ của Biên bản điều tra tai nạn lao động.Giấy ra viện hoặc tóm tắt hồ sơ bệnh án (nếu người lao động không điều trị nội trú hoặc ngoại trú, cần có giấy tờ về khám và điều trị thương tật phù hợp với thời điểm xảy ra tai nạn lao động và tổn thương đề nghị giám định).Một trong các giấy tờ có ảnh: Chứng minh nhân dân, Căn cước công dân, Hộ chiếu, Giấy xác nhận của công an cấp xã có dán ảnh và đóng giáp lai trên ảnh (có thời hạn không quá 03 tháng tính đến thời điểm đề nghị khám giám định).2.2. Hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động lần đầu (theo Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015):Sổ bảo hiểm xã hội.Giấy ra viện hoặc trích sao hồ sơ bệnh án sau khi đã điều trị tai nạn lao động (đối với trường hợp nội trú).Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động của Hội đồng giám định y khoa.Văn bản đề nghị giải quyết chế độ tai nạn lao động.Biên bản điều tra tai nạn lao động (đối với trường hợp tai nạn giao thông được xác định là tai nạn lao động, cần có biên bản tai nạn giao thông hoặc biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông).2.3. Hồ sơ khám giám định thương tổn tái phát (theo Thông tư 56/2017/TT-BYT):Giấy đề nghị khám giám định.Bản chính hoặc bản sao hợp lệ tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện ghi rõ tổn thương tái phát.Bản chính hoặc bản sao hợp lệ biên bản giám định y khoa lần gần nhất kèm theo các giấy chứng nhận thương tích ghi nhận các tổn thương được giám định trong biên bản.2.4. Hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động tái phát (theo Quyết định 166/QĐ-BHXH):Sổ bảo hiểm xã hội.Biên bản điều tra tai nạn lao động hoặc biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông (nếu xác định là tai nạn lao động).Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động lần trước gần nhất của Hội đồng giám định y khoa.Biên bản giám định lại mức suy giảm khả năng lao động sau khi điều trị thương tật của Hội đồng giám định y khoa.Chỉ định của cơ sở khám, chữa bệnh, cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng (nếu có).Hóa đơn, chứng từ thu phí giám định và bảng kê nội dung giám định nếu thanh toán phí giám định y khoa.3. Thời điểm người lao động được hưởng trợ cấp theo chế độ tai nạn lao động quy định như thế nào?Theo Điều 50 của Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015:Người lao động sẽ nhận trợ cấp từ tháng họ hoàn thành việc điều trị và xuất viện hoặc từ tháng có quyết định từ Hội đồng giám định y khoa nếu họ không được điều trị nội trú.Nếu sau tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp mà không xác định được thời gian hoàn thành việc điều trị và xuất viện, thì thời gian nhận trợ cấp sẽ được tính từ tháng có quyết định từ Hội đồng giám định y khoa.Trong trường hợp nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp, thời gian bắt đầu nhận trợ cấp sẽ tính từ tháng người lao động nhận Giấy chứng nhận nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.Đối với trường hợp người lao động được giám định mức suy giảm khả năng lao động theo Điều 47, thời gian nhận trợ cấp sẽ bắt đầu từ tháng có quyết định của Hội đồng giám định y khoa.Kết luận: Tai nạn lao động có thể xảy ra mọi lúc, mọi nơi và mang lại những hậu quả không lường trước cho người lao động. Để bảo vệ quyền lợi và sức khỏe của công nhân, việc lập hồ sơ hưởng chế độ tai nạn lao động một cách chính xác và đầy đủ là vô cùng quan trọng. Thông qua việc nắm bắt rõ ràng về quy trình và nội dung hồ sơ, mỗi công nhân sẽ tự trang bị cho mình kiến thức để đảm bảo quyền lợi của mình được bảo vệ tốt nhất trong mọi tình huống. 
Đặng Kim Nhàn
189 ngày trước
Bài viết
Người sử dụng lao động có phải chịu trách nhiệm khi xảy ra tai nạn lao động hay không?
 Tai nạn lao động là một vấn đề nghiêm trọng không chỉ gây tổn thương về người và tài sản, mà còn có thể ảnh hưởng đến danh tiếng và tài chính của doanh nghiệp. mà Đây là vấn đề mà các doanh nghiệp cần quan tâm và chấp nhận trách nhiệm. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi xảy ra tai nạn lao động.1. Trách nhiệm điều tra tai nạn lao động theo quy định hiện hành.Trách nhiệm điều tra tai nạn lao động là một yếu tố quan trọng đối với môi trường làm việc an toàn và bảo vệ quyền lợi của người lao động.  Tại Điều 35 của Luật an toàn lao động 2015 đã quy định cụ thể về trách nhiệm điều tra tai nạn lao động của Doanh nghiệp. Theo đó:Người sử dụng lao động đóng một vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an toàn lao động. Theo quy định, họ phải thành lập Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp cơ sở để điều tra những vụ làm bị thương nhẹ hoặc nặng của người lao động trong phạm vi thẩm quyền quản lý của mình.Đoàn điều tra tại cơ sở sẽ bao gồm người sử dụng lao động hoặc người đại diện được uỷ quyền bằng văn bản để đảm nhận vai trò Trưởng đoàn. Các thành viên khác của đoàn bao gồm đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể người lao động khi chưa có tổ chức công đoàn, người làm công tác an toàn lao động, người làm công tác y tế và những thành viên có liên quan khác.Trường hợp đặc biệt: Khi một tai nạn lao động nghiêm trọng xảy ra và người lao động không làm việc theo hợp đồng lao động, các Ủy ban nhân dân cấp xã và huyện phải tham gia vào quá trình xác minh và báo cáo tình huống. Điều này đảm bảo rằng người lao động vẫn được bảo vệ và quyền lợi của họ được thực hiện đầy đủ.Ở mức cấp tỉnh, cơ quan quản lý nhà nước về lao động phải thành lập Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp tỉnh để xử lý những vụ tai nạn lao động có tính chất nghiêm trọng. Đoàn điều tra tại cấp tỉnh sẽ bao gồm các đại diện chuyên ngành về an toàn, vệ sinh lao động và cơ quan y tế. Thành phần của Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp tỉnh sẽ bao gồm :Trưởng đoàn - Đại diện Thanh tra chuyên ngành về an toàn, vệ sinh lao động; Đại diện Sở Y tế; Đại diện Liên đoàn Lao động cấp tỉnh và các thành viên khác.Khi các vụ tai nạn lao động có tính chất nghiêm trọng hoặc mức độ phức tạp vượt quá khả năng xử lý của Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp tỉnh, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành thành lập Đoàn điều tra tai nạn lao động cấp trung ương để thực hiện quá trình điều tra. Thành phần bao gồm: Đại diện Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Đại diện Bộ Y tế; Đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Các thành viên .2.  Trách nhiệm chi trả các khoản chi phí liên quan đến tai nạn lao động của người sử dụng lao động theo quy định hiện hành.Theo quy định tại Điều 38 của Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015, người sử dụng lao động có trách nhiệm đảm bảo các chi phí sau đối với người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp:Sơ cứu, cấp cứu và điều trị: Người sử dụng lao động phải tổ chức kịp thời việc sơ cứu và cấp cứu cho người lao động bị tai nạn lao động. Họ cũng cần tạm ứng chi phí liên quan đến sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.Chi phí y tế: Người sử dụng lao động chịu trách nhiệm thanh toán chi phí y tế từ lúc sơ cứu, cấp cứu cho đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp. Họ cũng cần thanh toán các chi phí không được bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế.Phí khám giám định suy giảm khả năng lao động: Người sử dụng lao động phải trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động cho các trường hợp được giới thiệu đi khám giám định tại Hội đồng giám định y khoa. Điều này áp dụng cho trường hợp suy giảm khả năng lao động dưới 5%.Trả lương và bồi thường: Người sử dụng lao động cần trả đủ tiền lương cho người lao động bị tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp trong thời gian điều trị và phục hồi. Họ cũng phải bồi thường cho người lao động bị tai nạn hoặc bệnh nghề nghiệp mà không hoàn toàn do lỗi của họ gây ra.Trợ cấp và giám định y khoa: Người sử dụng lao động cần trả trợ cấp cho người lao động bị tai nạn do lỗi của chính họ gây ra. Họ cũng cần giới thiệu người lao động đi giám định y khoa để xác định mức suy giảm khả năng lao động và điều trị, phục hồi sau tai nạn.Thời hạn thực hiện: Người sử dụng lao động cần thực hiện các khoản bồi thường, trợ cấp và thanh toán chi phí trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày có kết luận từ Hội đồng giám định y khoa hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra tai nạn lao động công bố biên bản điều tra tai nạn lao động cho các vụ tai nạn chết người.Sắp xếp công việc phù hợp: Người sử dụng lao động cần sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe của người lao động sau khi điều trị và phục hồi. Điều này dựa trên kết luận từ Hội đồng giám định y khoa.Lập hồ sơ hưởng chế độ: Người sử dụng lao động cần lập hồ sơ để hưởng chế độ liên quan đến tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định pháp luật.Kết luận: Tóm lại, theo quy định tại Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015, người sử dụng lao động đúng là phải chịu trách nhiệm rộng rãi và đầy đủ khi xảy ra tai nạn lao động. Sự chịu trách nhiệm này không chỉ giúp tạo điều kiện thuận lợi cho sự phục hồi của người bị tai nạn mà còn thể hiện sự tôn trọng và quan tâm đối với nguồn nhân lực - tài sản quý báu của tổ chức. Điều này nhấn mạnh sự quan trọng của việc duy trì môi trường làm việc an toàn, hợp pháp và đảm bảo cho toàn bộ cộng đồng lao động.Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan truy cập tại thủ tục pháp luật.
Đặng Kim Nhàn
189 ngày trước
Bài viết
Có được đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ở mức thấp hơn quy định hay không?
Trong bối cảnh kinh doanh đầy biến đổi và cạnh tranh, việc quản lý tài chính và chi phí đã trở thành một yếu tố quan trọng đối với các doanh nghiệp. Trong lĩnh vực này, việc đóng bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp tạo ra cơ hội để tối ưu hóa tài chính doanh nghiệp.  Để tìm hiểu về các điều kiện được hưởng chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có thể truy cập tại đây. Bài viết dưới đây sẽ trả lời câu hỏi : Có được  đóng bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở mức thấp hơn mức quy định hay không? Nếu có thì trình tự , thủ tục của vấn đề này sẽ như thế nào? 1. Mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được quy định như thế nào?Theo quy định của Nghị định 58/2020/NĐ-CP, mức đóng bảo hiểm Tai nạn lao động và Bệnh nghề nghiệp được xác định như sau:Mức đóng bình thường: 0,5% Quỹ Tiền Lương.   Đối với những người lao động là cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang, và các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, quân đội, công an, đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng ngân sách nhà nước, mức đóng bình thường tương đương 0,5% của quỹ tiền lương. Đây là căn cứ để tính toán số tiền đóng bảo hiểm xã hội.Mức đóng thấp hơn: 0,3% Quỹ Tiền Lương.    Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mức đóng thấp hơn là 0,3% của quỹ tiền lương. Tuy nhiên, để áp dụng mức đóng này, doanh nghiệp phải thỏa mãn một loạt điều kiện nghiêm ngặt. Cụ thể như sau:Trong 3 năm trước thời điểm đề xuất, doanh nghiệp không bị xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền và không chịu trách nhiệm hình sự về vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động và bảo hiểm xã hội.Doanh nghiệp cần thực hiện việc báo cáo định kỳ về tai nạn lao động và an toàn, vệ sinh lao động chính xác, đầy đủ và đúng thời hạn trong 3 năm liền kề trước năm đề xuất.Tần suất tai nạn lao động của năm liền kề trước năm đề xuất phải giảm ít nhất 15% so với tần suất trung bình của 3 năm liền kề trước đó. Hoặc nếu không có tai nạn lao động nào trong 3 năm liền kề trước đề xuất.  Như vậy,  để được đóng bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở mức thấp hơn mức quy định, doanh nghiệp phải tuân thủ lịch sử tuân thủ, thực hiện báo cáo định kỳ và đảm bảo giảm tần suất tai nạn. Điều này thể hiện sự quan tâm và cam kết của Nhà nước trong việc bảo vệ và chăm lo cho người lao động trong môi trường làm việc.2. Để được đóng bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở mức thấp hơn mức quy định cần chuẩn bị những hồ sơ, thủ tục nào?    Theo Điều 6 của Nghị định 58/2020/NĐ-CP,  hồ sơ đề xuất  đóng bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở mức thấp hơn mức quy định phải bao gồm:Văn Bản Đề Nghị Quy Định (Mẫu Số 01): Đây là phần quan trọng, trong đó người sử dụng lao động thể hiện mong muốn áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Văn bản này cần được lập theo mẫu chuẩn quy định.Bản Sao Chứng Thực Báo Cáo Đánh Giá Công Tác An Toàn, Vệ Sinh Lao Động Và Giảm Tần Suất Tai Nạn Lao Động (Mẫu Số 02): Tổ chức đánh giá an toàn, vệ sinh lao động phải thực hiện báo cáo đánh giá một cách chính xác, chi tiết về tình hình an toàn lao động và giảm tần suất tai nạn. Điều này giúp đánh giá khả năng áp dụng mức đóng thấp hơn.Theo Điều 8 của Nghị định 58/2020/NĐ-CP quy định về quy trình áp dụng mức đóng bảo hiểm thấp hơn mức đóng bình thường như sau:Người Sử Dụng Lao Động Đề Xuất: Người sử dụng lao động nộp hồ sơ đề xuất trực tiếp, trực tuyến hoặc qua đường bưu điện theo quy định tại Điều 6 của Nghị định.Xử Lý Hồ Sơ Đề Xuất: Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có nhiệm vụ thực hiện các công việc quan trọng như:Gửi văn bản đến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội để đề nghị đánh giá tình hình chấp hành pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.Đăng tải thông tin liên quan lên Cổng thông tin điện tử của Bộ để thu thập ý kiến từ cơ quan, tổ chức và dư luận trong vòng ít nhất 10 ngày.Tổ chức thẩm định và quyết định áp dụng mức đóng thấp hơn vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (theo Mẫu Số 04). Kết quả sẽ được gửi hoặc trả trực tiếp, trực tuyến hoặc qua đường bưu điện cho doanh nghiệp và cơ quan bảo hiểm xã hội.Như vậy, để được áp dụng mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp thấp hơn mức đóng bình thường, người sử dụng lao động cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ đề xuất và tuân thủ những trình tự, thủ tục . Điều này là bước quan trọng để đảm bảo tính minh bạch, công bằng và đáp ứng các yêu cầu của Nghị định 58/2020/NĐ-CP. 3. Việc áp dụng mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp thấp hơn mức đóng bình thường có thời hạn như thế nào?   Việc áp dụng mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp không chỉ đòi hỏi quy trình thủ tục chặt chẽ mà còn tuân theo các thời hạn cụ thể, đảm bảo tính liên tục và minh bạch trong quá trình quản lý.Tại Điều 9  của Nghị định 58/2020/NĐ-CP đã  quy định về thời hạn áp dụng mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp thấp hơn mức đóng bình thường. Theo đó:Mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường có thời hạn áp dụng là 36 tháng (tương đương 3 năm), tính từ tháng mà quyết định áp dụng mức đóng có hiệu lực. Trong suốt thời gian này, người sử dụng lao động sẽ tiếp tục áp dụng mức đóng thấp hơn cho nhân viên của mình.Trong khoảng thời gian 60 ngày trước khi thời hạn áp dụng mức đóng thấp hơn kết thúc, người sử dụng lao động nếu vẫn có nhu cầu tiếp tục áp dụng mức đóng thấp hơn, phải lập 01 bộ hồ sơ đề xuất theo quy định tại Điều 6 của Nghị định 58/2020/NĐ-CP và thực hiện đề nghị theo Điều 8 của Nghị định này.   Có thể thấy rằng, thời hạn áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường được thiết lập để đảm bảo tính liên tục và rõ ràng trong việc quản lý bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Ngoài ra, việc thiết lập thời hạn gửi hồ sơ đề xuất tiếp tục mức đóng thấp hơn đảm bảo tính minh bạch và cho phép cơ quan chức năng thẩm định và xem xét kỹ lưỡng trước khi đưa ra quyết định cuối cùng.Kết luận: Việc đóng bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ở mức thấp hơn quy định là một bước đi mang tính cách mạng trong việc cân bằng giữa quyền lợi của doanh nghiệp và quyền lợi của người lao động. Tuy nhiên, việc này cần được thực hiện một cách thận trọng và tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật để đảm bảo rằng mục tiêu bảo vệ quyền lợi của tất cả các bên liên quan được thực hiện một cách hiệu quả và bền vững.Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan truy cập tại thủ tục pháp luật.
Bài viết được xem nhiều nhất
Bài viết
(mới)Những mẫu bản kiểm điểm đảng viên dành cho cán bộ, giáo viên, sinh viên,.. luôn được bạn đọc chú ý. Đây là thời điểm để mọi người nhìn nhận lại những gì mình đã và chưa làm được. Qua đó cho mình thêm động lực để phấn đấu hơn nữa. Hãy cùng nhau theo dõi ngay trong bài viết mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân của Legalzone - hệ thống thủ tục pháp luậtMẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân Bản kiểm điểm Đảng viên sẽ gồm có các phần chính sau:Ưu điểm, kết quả đạt được về tư tưởng chính trị;Phẩm chất đạo đức, lối sống;Y thức tổ chức kỷ luật;Tác phong, lề lối làm việc;Về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao;Về việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm.Cụ thể: Hạn chế, khuyết điểm đảng viên về tư tưởng chính trị; phẩm chất đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc; về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.Hạn chế khuyết điểm đảng viên về việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm và nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm.Kết quả khắc phục những ưu khuyết điểm của đảng viên đã được cấp có thẩm quyền kết luận hoặc được chỉ ra ở các kỳ kiểm điểm trước.Tại phần này cần kiểm điểm rõ:Từng ưu khuyết điểm đảng viên (đã được khắc phục; đang khắc phục, mức độ khắc phục; chưa được khắc phục)Những khó khăn, vướng mắc (nếu có)Trách nhiệm của cá nhân.Giải trình, nhận xét ưu khuyết điểm của đảng viên những vấn đề được gợi ý kiểm điểm (nếu có).Giải trình từng vấn đề được gợi ý kiểm điểm, nêu nguyên nhân.Xác định trách nhiệm của cá nhân đối với từng vấn đề được gợi ý kiểm điểm.Làm rõ trách nhiệm của cá nhân đối với những ưu điểm khuyết điểm của đảng viên (nếu có).Phương hướng, biện pháp khắc phục những ưu khuyết điểm của đảng viên. Tự nhận mức xếp loại chất lượng.Legalzone cung cấp cho bạn đọc 02 mẫu bản tự kiểm kiểm cá nhân tham khảo sau đây:Mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhânBẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂNHọ và tên: ………………… Sinh ngày: …………………………………Ngày vào Đảng: ……………… Chính thức ngày ………………………… Chức vụ Đảng: …………………………………………………………..Chức vụ chính quyền(đoàn thể): ………………………………………….Đơn vị công tác: ………………………………………………………Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: ………………………………………..I. Ưu điểm, kết quả công tác 1. Về tư tưởng chính trị– Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi luôn kiên định đối với đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.– Chấp hành nghiêm túc quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực để bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.– Luôn có ý thức tuyên truyền, vận động người thân, gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.– Xác định ý thức tích cực, tự giác tự học, tự nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác qua các lớp tập huấn, các lớp bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp…– Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng thực hiện cuộc vận động“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” của bản thân.Trong quá trình công tác, bản thân luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.2. Về phẩm chất đạo đức, lối sống.– Bản thân tôi luôn có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu.- Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong ngành. Luôn có ý thức giữ gìn tư cách, đạo đức tính tiên phong của người đảng viên trong tác chuyên môn.- Không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và những điều Đảng viên không được làm theo quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị.– Bản thân tôi luôn thực hiện tự phê bình và phê bình trung thực và thẳng thắn, giữ gìn đoàn kết trong Đảng trên cơ sở cương lĩnh và điều lệ Đảng, phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động chỉ đạo chuyên môn và luôn luôn xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ.-  Trong cuộc sống thường ngày sinh hoạt với địa phương, tôi đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tin tưởng, tham gia tích cực mọi hoạt động ở nới cư trú.3. Về thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao:– Bản thân luôn thực hiện đúng qui chế chuyên môn, đảm bảo tính khoa học.– Làm việc có trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. – Luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.– Luôn phối kết hợp tốt với các đồng nghiệp, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. -Trong công tác xây dựng Đảng, đoàn thể tôi luôn có ý thức tuyên truyền, tham gia xây dựng chi bộ, các đoàn thể trong cơ quan trong sạch, vững mạnh.4. Về tổ chức kỷ luật:– Bản thân tôi luôn thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, chấp hành sự phân công điều động, luân chuyển của tổ chức.- Bản thân luôn vận động gia đình chấp hành nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các luật và nghị định của Nhà nước về phòng chống ma tuý, chống tiêu cực ……– Bản thân tôi luôn thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng và đóng đảng phí theo quy định.- Tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt chi bộ, quán triệt sâu sắc các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và ngành đề ra.– Tham gia đầy đủ các buổi hội họp, học nghị quyết do chi bộ và Đảng bộ tổ chức; đóng Đảng phí đầy đủ, kịp thời.– Thực hiện tốt quy chế, nội quy của tổ chức Đảng cũng như của cơ quan đơn vị, có tinh thần gương mẫu chấp hành và lãnh đạo thực hiện tốt quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú- Ý thức lắng nghe, tiếp thu và tự sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng.– Thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở; có tinh thần tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền.- Luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao; thái độ phục vụ nhân dân tốt; có ý thức đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, gây phiền hà nhân dân.II. Khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân– Chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy kết quả chưa cao– Đôi khi còn chưa linh hoạt, trong giải quyết công việc với đồng nghiệp, với học sinh– Tuy có ý thức trong công tác tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt nhưng vẫn còn chưa mạnh dạn.– Đôi lúc chưa chủ động trong tổ chức thực hiện một số hoạt động. Trong công việc đôi lúc còn chưa mạnh dạn, thẳng thắn góp ý cho đồng nghiệp– Chưa cương quyết trong xử lí vi phạm, làm việc còn mang tính cả nểIII. Phương hướng và biện pháp khắc phục, sửa chữa yếu kém– Tuyệt đối chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.- Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong Đảng và cơ quan.– Không ngừng tu dưỡng đạo đức, tự học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị,chuyên môn nghiệp vụ, mạnh dạn hơn nữa trong việc tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị được giao.– Tiếp tục đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, luôn có ý thức tự phê bình và phê bình, tránh tư tưởng nể nang, nâng cao vai trò tiên phong của người đảng viên.Biện pháp khắc phục:– Trong thời gian tới sẽ phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm trên để bản thân được hoàn thiện hơn.– Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những hành động và việc làm cụ thể trong thực hiện công việc và nhiệm vụ được giaoXem thêm: Thủ tục thành lập trung tâm ngoại ngữ tại Hà NộiLink dowload các biểu mẫu miễn phíBẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂNBẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂN 2BẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁN BỘTải ngay mẫu Bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân tại phần ảnh tại bài viết hoặc tại phần bình luận của bài viết bạn nhé IV. Tự nhận mức xếp loại chất lượng Đảng viên, cán bộ, công chức:Mức 2: Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.Người viết bản kiểm điểmMẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân số 2ĐẢNG BỘ Xà.......CHI BỘ TRƯỜNG .........***ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ........, ngày...tháng...năm 2019BẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂNHọ và tên: ............. .............. Sinh ngày: ........... ................ ........... ............Ngày vào Đảng: ............... .............. Chính thức ngày .............. .............. Chức vụ Đảng: ........... ............ ............... .............. ................ ................. Chức vụ chính quyền(đoàn thể): .............. ................. .................. ............ Đơn vị công tác: ............ ............... ................ ................... ................. Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: .................... .................... .................... Ưu điểm, kết quả công tácVề tư tưởng chính trị- Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi luôn kiên định đối với đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.- Chấp hành nghiêm túc quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực để bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.- Luôn có ý thức tuyên truyền, vận động người thân, gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.- Xác định ý thức tích cực, tự giác tự học, tự nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác qua các lớp tập huấn, các lớp bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp...- Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", cuộc vận động "Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo" của bản thân. Trong quá trình công tác, bản thân luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.Về phẩm chất đạo đức, lối sống.- Bản thân tôi luôn có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu.Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong ngành.Luôn có ý thức giữ gìn tư cách, đạo đức tính tiên phong của người đảng viên trong tác chuyên môn.Không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và những điều Đảng viên không được làm theo quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị.- Bản thân tôi luôn thực hiện tự phê bình và phê bình trung thực và thẳng thắn, giữ gìn đoàn kết trong Đảng trên cơ sở cương lĩnh và điều lệ Đảng, phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động chỉ đạo chuyên môn và luôn luôn xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ. Trong cuộc sống thường ngày sinh hoạt với địa phương, tôi đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tin tưởng, tham gia tích cực mọi hoạt động ở nới cư trú.Về thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao:- Bản thân luôn thực hiện đúng qui chế chuyên môn, đảm bảo tính khoa học.- Làm việc có trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao- Luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.- Luôn phối kết hợp tốt với các đồng nghiệp, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao-Trong công tác xây dựng Đảng, đoàn thể tôi luôn có ý thức tuyên truyền, tham gia xây dựng chi bộ, các đoàn thể trong cơ quan trong sạch, vững mạnh.>>Tham khảo bài viết: Bộ luật Dân sự 2015: Điểm nổi bật và ý nghĩa trong bối cảnh pháp luật hiện đạiVề tổ chức kỷ luật:- Bản thân tôi luôn thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, chấp hành sự phân công điều động, luân chuyển của tổ chức. Bản thân luôn vận động gia đình chấp hành nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các luật và nghị định của Nhà nước về phòng chống ma tuý, chống tiêu cực ......- Tham gia đầy đủ các buổi hội họp, học nghị quyết do chi bộ và Đảng bộ tổ chức; đóng Đảng phí đầy đủ, kịp thời.- Thực hiện tốt quy chế, nội quy của tổ chức Đảng cũng như của cơ quan đơn vị, có tinh thần gương mẫu chấp hành và lãnh đạo thực hiện tốt quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú; ý thức lắng nghe, tiếp thu và tự sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng.- Luôn có thái độ cầu thị trong việc nhận và sửa chữa khắc phục khuyết điểm.- Thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở; có tinh thần tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền.- Luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao; thái độ phục vụ nhân dân tốt; có ý thức đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, gây phiền hà nhân dân.Khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân- Chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy kết quả chưa cao. - Chưa dành thời gian thích hợp để nghiên cứu, tìm hiểu sâu về Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết, quy định của Đảng; pháp luật, chính sách của Nhà nước.- Trách nhiệm cá nhân trong việc phối kết hợp với các đoàn thể khác trong trường có lúc chưa đạt hiệu quả cao nhất.- Đôi lúc chưa chủ động trong tổ chức thực hiện một số hoạt động. Trong công việc đôi lúc còn chưa mạnh dạn, thẳng thắn góp ý cho đồng nghiệp- Chưa cương quyết trong xử lí vi phạm, làm việc còn nể nang tình cảm trong công tác phê bình và tự phê bình.III. Phương hướng và biện pháp khắc phục, sửa chữa yếu kém- Tuyệt đối chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.- Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong Đảng và cơ quan.- Không ngừng tu dưỡng đạo đức, tự học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ- Mạnh dạn hơn nữa trong việc tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị được giao.- Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống- Luôn có ý thức tự phê bình và phê bình, nâng cao vai trò tiên phong của người đảng viên.Biện pháp khắc phục:- Trong thời gian tới sẽ phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm trên để bản thân được hoàn thiện hơn.- Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những hành động và việc làm cụ thể trong thực hiện công việc và nhiệm vụ được giao. Tự nhận mức xếp loại chất lượng Đảng viên, cán bộ, công chức:Mức 2: Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.     NGƯỜI TỰ KIỂM ĐIỂM(Ký, ghi họ tên) ĐÁNH GIÁ PHÂN LOẠI CHẤT LƯỢNG ĐẢNG VIÊNNhận xét, đánh giá của chi ủy:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ...............Chi bộ phân loại chất lượng:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ..........................., ngày...tháng...năm....T.M CHI ỦYBí thưĐảng ủy (chi ủy cơ sở) phân loại chất lượng:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ................................., ngày...tháng...năm...     T.M ĐẢNG ỦYTrên đây là một số thông tin về mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân bạn đọc tham khảo. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ. Hoặc bạn có thể tra cứu các thủ tục qua trang Thủ tục pháp luật của chúng tôi. 
Bài viết
[MỚI]Địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệpTừ 2021, tên địa điểm kinh doanh phải bao gồm cả tên doanh nghiệp. Đây là nội dung mới được Quốc hội đề cập đến tại Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14. Quy định mới về tên địa điểm kinh doanhCụ thể, Điều 40 Luật Doanh nghiệp 2020 nêu rõ:Tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệp kèm theo cụm từ “Chi nhánh” đối với chi nhánh, cụm từ “Văn phòng đại diện” đối với văn phòng đại diện, cụm từ “Địa điểm kinh doanh” đối với địa điểm kinh doanh.Hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không yêu cầu với địa điểm kinh doanh mà chỉ quy định tên chi nhánh, văn phòng đại diện phải mang tên doanh nghiệp kèm cụm từ “chi nhánh” với chi nhánh, cụm từ “văn phòng đại diện” với văn phòng đại diện.  Quy định mới về tên địa điểm kinh doanhNgoài ra, Điều 41 Luật 2020 cũng có quy định cụ thể với tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh gồm:– Phải được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và các ký hiệu;– Phải được viết hoặc gắn tại trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh. Trong đó, tên chi nhánh, văn phòng đại diện được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên tiếng Việt của doanh nghiệp trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu… do chi nhánh, văn phòng đại diện phát hành.Hồ sơ thành lập địa điểm kinh doanh* Thành phần hồ sơTheo Quyết định 1523/QĐ-BKHĐT, hồ sơ thành lập địa điểm kinh doanh bao gồm:– Thông báo lập địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp theo mẫu tại Phụ lục II-11 Nghị định 122/2020/NĐ-CP.– Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động theo Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc các giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương chưa thực hiện bổ sung, cập nhật thông tin đăng ký doanh nghiệp để được cấp đăng ký doanh nghiệp thay thế nội dung đăng ký kinh doanh trong Giấp phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương thì ngoài các giấy tờ nêu trên, doanh nghiệp phải nộp kèm theo:+ Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đầu tư;+ Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký thuế;+ Giấy đề nghị bổ sung, cập nhật thông tin đăng ký hoạt động đối với địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động theo giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.Lưu ý: Trường hợp không phải Chủ sở hữu hoặc Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trực tiếp đến nộp hồ sơ: người được ủy quyền phải nộp văn bản uỷ quyền kèm bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân:– Đối với công dân Việt Nam: Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực.– Đối với người nước ngoài: Hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị thay thế còn hiệu lực.* Số lượng hồ sơ: 01 bộTrình tự thủ tục lập địa điểm kinh doanhBước 1: Nộp hồ sơCó 02 cách thức để nộp hồ sơ, cụ thể:Cách 1: Nộp hồ sơ trực tiếp tại bộ phận một cửa Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt địa điểm kinh doanh hoặc chi nhánh.Cách 2: Đăng ký qua mạng tại Cổng thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp bằng chữ ký số công cộng hoặc sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh . Đối với Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phải đăng ký qua mạng.Bước 2: Tiếp nhận và giải quyết hồ sơBước 3: Nhận kết quả* Thời hạn giải quyết: 03 ngày làm việc* Lệ phí giải quyết:– 50.000 đồng/lần đối với hồ sơ nộp trực tiếp tại bộ phận một cửa Phòng Đăng ký kinh doanh.– Miễn lệ phí đối với hồ sơ đăng ký qua mạng điện tử.Trên đây là bài viết tham khảo về một số quy định mới về hộ kinh doanh từ năm 2021. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ.
Bài viết
Bảo hiểm thất nghiệp là một cơ chế quan trọng, giúp hỗ trợ người lao động trong những giai đoạn khó khăn khi họ mất việc làm. Tuy nhiên, để đảm bảo hoạt động hiệu quả và bền vững của quỹ bảo hiểm thất nghiệp, việc xác định mức đóng cũng như hiểu rõ nguồn hình thành của quỹ này là vô cùng quan trọng. Bài viết sau đây sẽ phân tích và giải đáp những thắc mắc liên quan đến mức đóng và nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, giúp người đọc có cái nhìn sâu rộng và đầy đủ hơn về vấn đề này.Bảo hiểm thất nghiệp là gì?Trong bối cảnh kinh tế phức tạp, bảo hiểm thất nghiệp trở thành một giải pháp hỗ trợ quan trọng, giúp giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho người lao động.Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ giúp bù lại một phần thu nhập cho những người mất việc, đồng thời hỗ trợ họ trong việc đào tạo nghề và tìm kiếm cơ hội làm việc mới, dựa trên việc đóng góp vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp (theo khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm 2013).Nhờ vào sự hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp, nhiều người lao động đã tìm ra cách giải quyết vấn đề việc làm, khẳng định vị thế của mình trên thị trường lao động và đóng góp vào sự ổn định và phát triển của xã hội.Mức đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp được xác định như nào?Mức đóng góp và trách nhiệm trong việc đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp (BHTN) được quy định cụ thể theo Khoản 1 Điều 57 của Luật Việc làm năm 2013. Theo đó:- Mỗi người lao động cần đóng 1% từ tiền lương hàng tháng của mình.- Người sử dụng lao động cũng phải đóng 1% từ quỹ lương hàng tháng dành cho nhân viên đang tham gia BHTN.- Nhà nước cam kết hỗ trợ thêm tối đa 1% từ quỹ lương hàng tháng cho việc đóng góp BHTN, với ngân sách được đảm bảo bởi chính phủ trung ương.Tổng cộng, mức đóng góp vào Quỹ BHTN là 3%, với 1% từ người lao động, 1% từ người sử dụng lao động, và 1% từ sự hỗ trợ của nhà nước.Quỹ BHTN hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:- Đóng góp từ người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ từ nhà nước.- Lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư của Quỹ BHTN.- Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật, bao gồm tiền lãi từ việc trễ hạn đóng góp BHTN và các khoản thu hợp pháp khác.Quỹ BHTN được sử dụng cho các mục đích sau:- Thanh toán trợ cấp thất nghiệp.- Hỗ trợ đào tạo, cập nhật kỹ năng nghề nghiệp để giữ việc làm cho người lao động.- Hỗ trợ học nghề.- Hỗ trợ tư vấn và giới thiệu việc làm.- Chi trả bảo hiểm y tế cho người nhận trợ cấp thất nghiệp.- Chi phí quản lý BHTN theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.- Đầu tư để bảo toàn và phát triển Quỹ.Phương thức đóng tiền vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp?Cách thức đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp (BHTN) diễn ra hàng tháng theo các quy định sau:- Người sử dụng lao động cần đóng góp vào BHTN theo tỷ lệ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 57 của Luật Việc làm 2013. Họ cũng cần trích một phần từ lương của nhân viên theo tỷ lệ quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 57 của cùng một luật, để đóng góp vào Quỹ BHTN.- Sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho Quỹ BHTN tuân theo nguyên tắc đảm bảo số dư quỹ hàng năm ít nhất bằng hai lần tổng chi cho các chế độ BHTN và chi phí quản lý của năm trước. Tuy nhiên, mức hỗ trợ không vượt quá 1% quỹ lương hàng tháng dành cho BHTN của những người đang tham gia. Cách thức chuyển kinh phí như sau:Vào quý IV mỗi năm, Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ dựa trên dự toán thu-chi BHTN được phê duyệt để xác định kinh phí hỗ trợ cho Quỹ BHTN của năm trước, tuân theo quy định tại Khoản 1 của Điều này. Số kinh phí này sẽ được gửi đến Bộ Tài chính để chuyển vào Quỹ BHTN một lần.Trong vòng 10 ngày làm việc kể từ khi nhận báo cáo quyết toán từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đã được Hội đồng Quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam chấp thuận, Bộ Tài chính sẽ thẩm định và quyết định kinh phí hỗ trợ cho Quỹ BHTN năm trước. Nếu kinh phí mà Bộ Tài chính đã cấp nhiều hơn số tiền cần hỗ trợ theo quy định tại Khoản 1 của Điều này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải trả lại phần chênh lệch cho ngân sách nhà nước. Ngược lại, nếu số tiền cấp ít hơn, Bộ Tài chính sẽ báo cáo cấp có thẩm quyền để phê duyệt kinh phí hỗ trợ bổ sung trong năm tiếp theo.Kinh phí hỗ trợ Quỹ BHTN đều được bảo đảm bởi ngân sách trung ương, từ nguồn chi đảm bảo xã hội đã được Quốc hội quyết định.Kết luận Mức đóng góp phải được xác định một cách hợp lý để đảm bảo quỹ có đủ kinh phí hoạt động và cùng lúc đó, không tạo áp lực tài chính quá lớn lên người lao động và người sử dụng lao động. Ngoài ra, việc hình thành quỹ từ nhiều nguồn khác nhau cần được quản lý chặt chẽ và minh bạch, điều này đòi hỏi sự phối hợp mật thiết giữa các cơ quan quản lý, người sử dụng lao động, và người lao động. Một hiểu biết đầy đủ và chi tiết về các khía cạnh này sẽ giúp người lao động cảm thấy an tâm hơn với quỹ bảo hiểm thất nghiệp, thúc đẩy sự tham gia tích cực và từ đó góp phần nâng cao chất lượng an sinh xã hội. Nếu có thắc mắc khác liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp, bạn có thể truy cập Thủ tục pháp luật để cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết. 
Bài viết
Trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước, Hội đồng thành viên đóng vai trò quan trọng, tham gia vào việc quản lý và định hình chiến lược của các tổ chức này. Hội đồng này thường bao gồm Chủ tịch và các thành viên khác, và quyền lực của họ thường được cơ quan đại diện chủ sở hữu kiểm soát thông qua việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng và kỷ luật. Những quyết định của Hội đồng thành viên có thể có tác động sâu rộng đến hoạt động kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp nhà nước.Tuy nhiên, một vấn đề nổi lên trong quá trình xem xét tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên là khả năng của những người đã từng bị kỷ luật bởi Đảng. Chúng ta hãy tìm hiểu những quy định  liên quan vấn đề này.1. Điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên doanh nghiệp nhà nước là gì?Theo Điều 93 của Luật doanh nghiệp 2020, tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên được quy định như sau:Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 của Điều 17 của Luật doanh nghiệp 2020.Phải có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động của doanh nghiệp.Không được phép có quan hệ gia đình với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu; thành viên Hội đồng thành viên; Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của công ty; Kiểm soát viên công ty.Không được phép là người quản lý của doanh nghiệp thành viên.Trừ Chủ tịch Hội đồng thành viên, các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể kiêm nhiệm vị trí Giám đốc, Tổng giám đốc của công ty đó hoặc công ty khác mà không phải là doanh nghiệp thành viên, theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu.Không được cách chức từ vị trí Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp nhà nước.Các tiêu chuẩn và điều kiện khác có thể được quy định bởi Điều lệ công ty.    Như vậy, những quy định này nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp, tính minh bạch, và tính hiệu quả trong quản lý và điều hành của doanh nghiệp. Điều quan trọng là, việc đảm bảo không có quan hệ gia đình và không từng bị cách chức từ các vị trí quan trọng trong doanh nghiệp nhà nước giúp bảo vệ tính độc lập và khách quan của quyết định của Hội đồng thành viên. Tuy nhiên, ngoài những điều kiện cơ bản này, Điều lệ công ty cũng có thể quy định thêm các tiêu chuẩn và điều kiện khác để phù hợp với đặc thù cụ thể của từng doanh nghiệp.2. Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên doanh nghiệp nhà nước bao gồm những gì?Dựa vào Điều 92 của Luật doanh nghiệp 2020, quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên được phân rõ như sau:Hội đồng thành viên, thay mặt cho công ty, thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, cổ đông, và thành viên đối với công ty, đặc biệt khi công ty đóng vai trò làm chủ sở hữu hoặc sở hữu cổ phần, phần vốn góp.Hội đồng thành viên được ủy quyền với các quyền và nghĩa vụ cụ thể sau đây:Quyết định về các vấn đề liên quan đến việc sử dụng vốn nhà nước theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước để đầu tư vào hoạt động sản xuất và kinh doanh tại công ty.Quyết định về việc thành lập, tổ chức lại, giải thể các chi nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty.Đưa ra quyết định về kế hoạch sản xuất và kinh doanh hàng năm, xác định chủ trương phát triển thị trường, tiếp thị, và công nghệ của công ty.Tổ chức và quản lý hoạt động kiểm toán nội bộ và quyết định về việc thành lập đơn vị kiểm toán nội bộ cho công ty.Thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định tại Điều lệ công ty, Luật doanh nghiệp, và các quy định pháp luật khác có liên quan. Với vai trò đại diện cho công ty và các nhóm lợi ích khác nhau như chủ sở hữu, cổ đông, và thành viên, Hội đồng thành viên đảm bảo tính hiệu quả và quản lý đúng đắn của doanh nghiệp.Hội đồng thành viên được trao quyền quyết định quan trọng về việc sử dụng vốn nhà nước, tổ chức và phát triển công ty, kế hoạch sản xuất và kinh doanh, và cả việc kiểm toán nội bộ. Điều này đòi hỏi sự chuyên nghiệp, kiến thức, và sự thận trọng trong việc ra quyết định để đảm bảo sự phát triển bền vững của công ty và sự vững mạnh của hệ thống kinh tế. Các quyền và nghĩa vụ này cũng phải tuân theo Điều lệ của công ty và các quy định pháp luật liên quan khác để đảm bảo tính phù hợp và tuân thủ của mọi hoạt động doanh nghiệp.3. Có được làm thành viên hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước khi từng bị kỷ luật đảng không?Dựa trên Điều 94 của Luật doanh nghiệp 2020, các quy định về miễn nhiệm và cách chức thành viên Hội đồng thành viên được quy định như sau:Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:Không còn đáp ứng đủ tiêu chuẩn và điều kiện được quy định tại Điều 93 của Luật doanh nghiệp 2020.Đã nộp đơn xin từ chức và được chấp thuận bằng văn bản từ cơ quan đại diện chủ sở hữu.Có quyết định về việc điều chuyển, bố trí công việc khác hoặc giải ngũ.Không đủ khả năng, trình độ để tiếp tục đảm nhận các nhiệm vụ được giao.Không đủ sức khỏe hoặc không còn đủ uy tín để giữ chức vụ thành viên Hội đồng thành viên.Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể bị cách chức trong các tình huống sau:Công ty không hoàn thành các mục tiêu và chỉ tiêu kế hoạch hàng năm, không duy trì và phát triển vốn đầu tư theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu mà không có khả năng giải trình được nguyên nhân khách quan, hoặc nếu có giải trình, nhưng không được chấp thuận bởi cơ quan đại diện chủ sở hữu.Chịu án phạt từ Tòa án và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.Thực hiện không trung thực quyền và nghĩa vụ hoặc lạm dụng địa vị và chức vụ của họ, sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác, hoặc cung cấp thông tin không trung thực về tình hình tài chính và kết quả sản xuất, kinh doanh của công ty.    Do đó, theo quy định, không có hạn chế cụ thể đối với việc trở thành thành viên Hội đồng thành viên đối với những người đã từng bị kỷ luật đảng. Tuy nhiên, cần xem xét lại Điều lệ của công ty để kiểm tra xem liệu có sự hạn chế cụ thể nào liên quan đến trường hợp này hay không. Cần lưu ý thêm rằng trong trường hợp này, những người có quá khứ kỷ luật đảng phải đáp ứng yêu cầu không từng bị cách chức từ các vị trí quan trọng như Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp nhà nước.Kết luận:  Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2020, không có hạn chế cụ thể đối với việc trở thành thành viên Hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước đối với những người đã từng bị kỷ luật đảng. Tuy nhiên, điều này có thể phụ thuộc vào Điều lệ cụ thể của công ty và yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp. Điều quan trọng là đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ quy định của pháp luật trong quá trình tuyển dụng và bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị để đảm bảo quản lý hiệu quả và bền vững của doanh nghiệp nhà nước. Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan truy cập tại thủ tục pháp luật.    
Bài viết
Đăng ký bằng cách đi tới Link TTPL.VNNhấp vào tài khoản chọn đăng kýChọn Doanh nghiệpNếu bạn là Doanh nghiệp thường Hãy chọn Doanh nghiệpNếu bạn là công ty luật hãy chọn Công ty LuậtLưu ý: khi bạn chọn sẽ xuất hiện vành vàng ở loại hình bạn chọn, nếu không chọn sẽ gây lỗiĐiền thông tin theo hướng dẫnLưu ý: Email và số điện thoại phải có thực, tránh trường hợp mất tài khoản sau nàyĐăng nhập bằng tài khoản và mật khẩu đã dùngLưu ý: bạn cũng có thể dùng Số điện thoại và mật khẩu để đăng nhậpĐăng nhập vào sử dụng phần mềm quản lý công việcBạn có thể đăng nhập ngay bằng phần Dashboard tuy nhiên nếu muốn dùng tài khoản Pro (đầy đủ quyền) Hãy sử dụng nút mua ( Miễn phí)Hãy mua gói LGZ DIAMOND - Hiện tại đang miễn phí trọn đờiNhư vậy bạn đã tạo được một công ty hoàn chỉnh cho mình, Hãy thêm nhân viên và tiếp tục hoạt động miễn phí.Hotline:Hướng dẫn kỹ thuật: 0888889225Hướng dẫn chung: 0888889366  
Bài viết
Bình Luận án lệ số 24/2018/AL:Các quy định liên quan đến Án lệ số 24/2018/AL về “di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân” có thể kể đến các quy định sau:Thứ nhất, Điều 219 Sở hữu chung của vợ chồng (Bộ luật dân sự 2005):"1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.”Thứ hai,  Điều 223. Định đoạt tài sản chung (Bộ luật dân sự 2005)"1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật3. Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác.Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.4. Trong trường hợp một trong các chủ sở hữu chung từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.”Thứ ba, Điều 226. Chấm dứt sở hữu chung (Bộ luật dân sự 2005)"Sở hữu chung chấm dứt trong các trường hợp sau đây:1. Tài sản chung đã được chia;2. Một trong số các chủ sở hữu chung được hưởng toàn bộ tài sản chung;3. Tài sản chung không còn;4. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”Án lệ này đã đưa ra những điều kiện cần và đủ để xác định trường hợp nào thì di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân. Theo đó, việc người chồng hoặc vợ còn sống cùng với các thừa kế của người chết trước thống nhất phân chia toàn bộ nhà, đất của vợ chồng là hợp pháp khi có đủ các điều kiện sau:(1) Các bên thỏa thuận thống nhất phân chia nhà, đất;(2)Thỏa thuận phân chia không vi phạm quyền lợi của bất cứ thừa kế nào, không có ai tranh chấp;(3) Việc phân chia đã được thực hiện trên thực tế và được điều chỉnh trên sổ sách giấy tờ về đất đai.Các điều kiện nêu trên chính là điều kiện đảm bảo thỏa thuận phân chia thể hiện đúng ý chí của các bên, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên theo quy định của pháp luật, phù hợp với nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong giao dịch dân sự. Về mặt thủ tục, việc chuyển dịch về quyền tài sản thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi nhận. Án lệ đã khẳng định đối với trường hợp này, nhà, đất không còn là di sản thừa kế mà đã chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của các cá nhân. Không chỉ vậy, Án lệ đã chỉ ra đường lối áp dụng thống nhất pháp luật về tố tụng, theo đó trường hợp di sản thừa kế đã chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân thì người đã nhận phân chia tài sản chỉ có quyền khởi kiện đòi lại nhà, đất được chia đang bị người khác chiếm hữu, sử dụng bất hợp pháp mà không có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế là nhà, đất. Click vào đây để xem Nội dung Án lệ số 24/2018/AL 
Bài viết
Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sựMột luật sư cần những kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự trên thực tiễn ? Phân tích một số vụ án hình sự và các vấn đề pháp lý liên quan đến thực tiễn sẽ được luật sư LegalZone tư vấn, giải đáp, trích dẫn cụ thể:Nội dung chính bài viết1. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự1. Khái niệm về hồ sơ vụ án hình sự:2. Khái niệm Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:3. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ:4. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:4.1 Kỹ năng nghiên cứu bản cáo trạng:4.2 Kỹ năng nghiên cứu bản kết luận điều tra:4.3 Kỹ năng nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can:4.4 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng:4.5 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại4.6 Kỹ năng nghiên cứu biên bản đối chất4.7 Kỹ năng nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra …4.8 Kỹ năng nghiên cứu kết luận giám định:4.9 Kỹ năng nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo và các biên bản, tài liệu khác.5. Kỹ năng chuẩn bị luận cứ bào chữa cho bị cáoMỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý:1. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sựTrong quá trình phân tích vụ việc, nghiên cứu hồ sơ vụ án là khâu quan trọng để đi đến những lập luận hợp pháp có lợi nhất. Có những phương pháp nghiên cứu khác nhau cho từng loại hồ sơ tuỳ theo lĩnh vực : hồ sơ của vụ việc hành chính, dân sự, hình sự… Tuy nhiên, điển hình và tiêu biểu nhất vẫn là kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự1. Khái niệm về hồ sơ vụ án hình sự:Hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các văn bản, tài liệu được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập hoặc lập ra trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, được sắp xếp theo một trình tự nhất định phục vụ cho việc giải quyết vụ án và lưu trữ lâu dài.Thông thường hồ sơ vụ án hình sự được sắp xếp theo một trình tự nhất định, theo nhóm tài liệu, lấy thời gian thu thập làm căn cứ để sắp xếp theo thứ tự tài liệu thu thập trước để ở trên, tài liệu thu thập sau để ở dưới, cụ thể như sau:– Các văn bản về khởi tố vụ án, khởi tố bị can– Các văn bản về thủ tục trong việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn– Các tài liệu về kết quả điều tra không thuộc lời khai của những người tham gia tố tụng– Biên bản ghi lời khai của người tham gia tố tụng– Tài liệu về nhân thân bị can– Tài liệu về nhân thân người bị hại– Các tài liệu về đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra– Tài liệu kết thúc điều tra– Tài liệu về truy tố– Tài liệu trong giai đoạn xét xử– Các tài liệu của Toà án cấp trên khi huỷ án điều tra lại hoặc xét xử lại (nếu có)Việc nghiên cứu cách sắp xếp hồ sơ vụ án cho phép Luật sư nhìn nhận một cách tổng thể các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để có phương pháp nghiên cứu khoa học, hiệu quả và trích dẫn tài liệu, bút lục có trong hồ sơ đúng và chính xác. Mặt khác, luật sư phải nhớ thứ tự sắp xếp hồ sơ vụ án để khi kết thúc việc nghiên cứu hồ sơ, bàn giao lại hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng không bị thất lạc, mất thời gian tìm lại, đồng thời học cách sắp xếp tiểu hồ sơ của mình để tiện cho việc tra cứu, trích dẫn khi thực hiện bào chữa tại phiên toà.>>>>> Số điện thoại luật sư tư vấn miễn phí2. Khái niệm Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các họat động của Luật sư: xem xét, đọc, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhằm nắm vững bản chất vụ án, diễn biến của hành vi phạm tội, qua đó xác định sự thật khách quan của vụ án. Trên cơ sở đó, luật sư xác định những vấn đề cần trao đổi, đề xuất với cơ quan tiến hành tố tụng cũng như chuẩn bị kế hoạch, xác định phương án bào chữa hoặc phương án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ Luật sư cần phải nghiên cứu hồ sơ một cách tòan diện và đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tránh tư tưởng chủ quan chỉ nghiên cứu những tài liệu mà mình cho là quan trọng, còn các tài liệu khác thì bỏ qua. Tuỳ theo hồ sơ vụ án cụ thể, Luật sư có thể nghiên cứu hồ sơ theo thứ tự thời gian diễn ra, theo trình tự tố tụng hoặc theo từng tập tài liệu liên quan đến từng người tham gia tố tụng. Yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu đầy đủ, ghi chép, lập được hệ thống chứng cứ của vụ án để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch bào chữa, đề cương bào chữa hoặc luận cứ bảo vệ quyền lợi cho đương sự.3. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ:Phương pháp nghiên cứu hồ sơ là cách thức Luật sư có thể nghiên cứu hồ sơ vụ án theo trình tự tố tụng diễn ra theo thời gian bắt đầu từ quyết định khởi tố vụ án rồi mới nghiên cứu các tài liệu xác định về về hành vi phạm tội của bị can…Người bào chữa có thể nghiên cứu hồ sơ không theo trình tự tố tụng , phương pháp này bắt đầu từ việc nghiên cứu Cáo trạng của Viện kiểm sát tiếp đến là Kết luận điều tra và các tài liệu khác. Nghiên cứu theo phương pháp này cho phép nghiên cứu hồ sơ qua đó kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của các quyết dịnh tố tụng. Mỗi phương pháp có thế mạnh khác nhau, tuỳ theo từng hồ sơ vụ án, tính chất phức tạp, số lượng bị can, bút lục có trong hồ sơ của vụ án, thời gian vật chất dành cho việc nghiên cứu, vị trí tham gia tố tụng của người được trợ giúp pháp lý, người bào chữa có thể sử dụng một trong các phương pháp hoặc kết hợp các phương pháp nghiên cứu thích hợp để đạt hiệu quả cao.4. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:4.1 Kỹ năng nghiên cứu bản cáo trạng:Luật sư nghiên cứu bản cáo trạng để hiểu nội dung của vụ án, diễn biến hành vi phạm tội của bị can, yêu cầu giải quyết bồi thườngthiệt hại (nếu có) và quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát. Khi nghiên cứu bản cáo trạng, Luật sư cần ghi chép lại đầy đủ các hành vi phạm tội của bị can; tội danh, điều khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát viện dẫn để truy tố; các chứng cứ được Viện kiểm sát dùng làm căn cứ xác định tội phạm , người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị hại, đương sự. Thông qua nghiên cứu cáo trạng, luật sư cần rút ra được những điểm quan trọng liên quan đến việc bào chữa, bảo vệ.Cùng với việc nghiên cứu cáo trạng, Luật sư cần đọc biên bản giao nhận cáo trạng để tìm hiểu xem bị can có đồng ý với nội dung bản cáo trạng hay không? nếu không đồng ý thì ý kiến của bị can như thế nào, bị can có đưa ra được những chứng cứ để bác bỏ một phần hay toàn bộ nội dung quyết định truy tố hay không? Thông thường, những bị can đồng ý với nội dung bản cáo trạng thì ra phiên toà sẽ nhận tội, ít phản cung; những bị can không chấp nhận nội dung bản cáo trạng thì sẽ không nhận tội và thường thay đổi lời khai. Trường hợp bị can không đồng ý với nội dung bản cáo trạng Luật sư cần nghiên cứu kỹ các chứng cớ để xác định sự thật của vụ án và trao đổi với họ.4.2 Kỹ năng nghiên cứu bản kết luận điều tra:Luật sư nghiên cứu bản kết luận điều tra để hiểu rõvề diễn biến của tội phạm, các chứng cứ mà cơ quan điều tra dùng để hiểu rõ về diễn biến của tội phạm , các chứng cứ mà Cơ quan điều tra dùng để chứng minh tội phạm và quan điểm, ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của Cơ quan điều tra.Trong quá trình nghiên cứu bản kết luận điều tra, Luật sư cần so sánh, đối chiếu, ghi lại những hành vi của bị cáo có nêu trong cáo trạng nhưng không được đề cập trong kết luận điều tra ; những điểm mâu thuẫn giữa bản cáo trạng và kết luận điều tra; quan điểm, ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của cơ quan điều tra có lợi cho người được trợ giúp pháp lý mà mình bào chữa, bảo vệ.4.3 Kỹ năng nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can:Khi nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can, Luật sư cần làm rõ xem bị can có nhận những hành vi nêu trong cáo trạng hay không. trường hợp bị can nhận tội thì tìm hiểu tư tưởng, động cơ, mục đích, việc thực hiện hành vi phạm tội và sự ăn năn, hối cải của bị can như thế nào? Trên cơ sở đó xác định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo như hìan cảnh phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, động cơ, muc đích phạm tội, nhân thân của bị can. Trong trường hợp bị can không nhận tội, Luật sư nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can để nắm được các lý lẽ, chứng cứ mà bị can đưa ra để bào chữa cho mình.Khi nghiên cứu các biên bản hỏi cung, Luật sư cần ghi lại theo trình tự thời gian: các hình vi bị can nhận như trong cáo trạng (có trích dẫn bút lục); hành vi nào cáo trạng nêu nhưng bị can không thừa nhận, các lý lẽ bị can đưa ra để bào chữa, chứng minh cho mình không có những hành vi đó? Hành vi nào ban đầu bị can nhận tội nhưng sau đó không thừa nhận nữa (ghi rõ tội nhận tội ở biên bản hỏi cung nào, bút lục nào?).Khi nghiên cứu các biên bản hỏi cung, Luật sư cần kiểm tra về thủ tục tố tụng: xem biên bản hỏi cung đầu tiên có ghi phần giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can hay không; biên bản hỏi cung có bị tẩy xóa, sửa chữa hay viết thêm hay không? Nếu bị sửa chữa thì có chữ ký xác nhận của bị can hay không? Trong trường hợp biên bản hỏi cung ghi cả thái độ, cử chỉ của bị can trong lúc trả lời như bị can cúi đầu, im lặng, không trả lời, lý do bị can không ký vào biên bản…thì Luật sư cần ghi lại và lưu ý làm rõ nguyên nhân, trong nhiều trường hợp những cử chỉ, hành vi này thể hiện diễn biến tâm lý, đấu tranh tư tưởng của bị can khi khai báo hoặc bị can phản ứng việc làm sai trái của Điều tra viên.4.4 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng:Luật sư nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng để hiểu rõ sự việc phạm tội xảy ra có những người nào biết, nghiên cứu những xác nhận của họ về các tình tiết của sự việc như thế nào. Trên cơ sở đó, Luật sư sử dụng lời khai của những người làm chứng để bảo vệ cho bị cáo hoặc đương sự. Khi nghiên cứu bản ghi lời khai của người làm chứng trực tiếp hay gián tiếp biết về tình tiết của vụ án; mối quan hệ của người làm chứng với bị can, bị cáo, người bị hại như thế nào? Khi người làm chứng tiếp nhận các thông tin về tội phạm thì các điều kiện chủ quan (tinh thần, tuổi tác, nghề nghiệp, khả năng tiếp thu thông tin, nhận thức của người làm chứng…) và điều kiện khách quan ( không gian , thời gian, thời tiết, ánh sáng, âm thanh..nơi xảy ra vụ án) tác động ra sao? Những tình tiết trong lời khai của người làm chứng cần được sử dụng để bảo vệ cho bị can , bị cáo (ghi rõ số bút lục). Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa các lời khai của một người làm chứng teong các lần khai khác nhau hoặc mâu thuẫn giữa các lời khai của những người làm chứng thì phải tìm ra nguyên nhân, kiểm tra tính xác thực, trong trường hợp cần thiết phải đối chiếu với các lời khai, chứng cứ khác.4.5 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hạiLuật sư nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại để nắm vững diễn biến của tội phạm, các hành vi phạm tội của bị can, bị cáo đã thực hiện như thế nào? mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, quan điểm của người bị hại hoặc nhân thân của họ về việc giải quyết vụ án và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Khi nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại, cần chú ý so sánh, đối chiếu các lời khai của người bị hãi trong các lần khác nhau xem có phù hợp hay mâu thuẫn với nhau; đối chiếu giữa lời khai của người bị hại với lời khai của bị can, bị cáo thì Luật sư cần làm rõ mâu thuẫn trong lời khai của người bị hại với thực tế khách quan và với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nếu bảo vệ cho người bị hại, Luật sư cần nghiên cứu và ghi lại những tình tiết xac định hành vi phạm tội của bị can, bị cáo và các chứng cứ xác định về việc bồi thường thiệt hại là có cơ sở.4.6 Kỹ năng nghiên cứu biên bản đối chấtTrong hồ sơ vụ án có thể có nhiều biên bản đối chất giữa các bị can, bị cáo với nhau; biên bản đối chất giữa bị can và người làm chứng…Khi tham gia tố tụng, Luật sư cần nghiên cứu các biên bản này để có cơ sở đánh giá những lời khai còn mâu thuẫn. Nếu lời khai trong biên bản đối chất có lợi cho người được trợ giúp pháp lý thì cần ghi lại để sử dụng trong quá trình bảo vệ, bào chữa.4.7 Kỹ năng nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra …Nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra… nhằm kiểm tra xem các loại biên bản này có được thực hiện theo đúng trình tự và thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định hay không như có ghi trong thành phần người tham gia, ý kiến người chứng kiến hay không; những đồ vật cần niêm phong có chữ ký của chủ quản đồ vật hay không. Đối với hoạt động điều tra, thu thập vật chứng, Luật sư cần chú ý địa điểm và cách thức thu thập vật chứng, các đặc điểm riêng của vật chứng, quá trình thu thập vật chứng. Luật sư cần so sánh vật chứng với các chứng cứ khác xem có phù hợp hay không để xác định giá trị chứng minh nguồn chứng cứ này.4.8 Kỹ năng nghiên cứu kết luận giám định:Nghiên cứu kết luận giám định nhằm kiểm tra các điều kiện để đưa ra kết luận giám định có được bảo đảm hay không (vật chứng, số lượng, chất lượng đồ vật, tài liệu gửi đi giám định, thủ tục yêu cầu giám định…); các phương pháp được áp dụng để thực hiện giám định có cơ sở khoa học hay không. Luật sư cần so sánh kết luận giám định với các chứng cứ khác của vụ án để đánh giá độ chính xác của kết luận giám định. Nếu thấy kết quả giám định không có cơ sở tin cậy (thiếu cơ sở khoa học, không phù hợp với thực tiễn khách quan…) thì ghi lại và đề nghị với Tòa án yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại.4.9 Kỹ năng nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo và các biên bản, tài liệu khác.Luật sư cần nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo để hiểu rõ về nhân thân của họ; cần ghi tóm ắtt hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống của bị can, bị cáo. Đặc biệt khi bào chữ cho bị can, bị cáo phải chú ý ghi lại những điểm về nhân thân bị can, bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt để làm cơ sở đề nghị Toà án xem xét quyết định hình phạt. trường hợp luật sư bảo vệ cho người bị hại thì cần ghi lại những đặc điểm nhân thân bất lợi cho bị cáo như bị cáo có tiền án, tiền sự, những lần vi phạm pháp luật của bị cáo…Khi tham gia tố tụng, Luật sư cần nghiên cứu các biên bản, tài liệu khác như biên bản giao nhận cáo trạng, các biên bản xác minh của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; các nhận xét và đề nghị của các cơ quan đoàn thể; các đơn từ khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng. Luật sư cần nghiên cứu kỹ các tài liệu này nhằm tìm ra những chứng cứ có lợi cho thân chủ mà mình bảo vệ, bác bỏ những điểm mâu thuẫn, bất hợp lý để đề nghị Toà án bác bỏ, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ.5. Kỹ năng chuẩn bị luận cứ bào chữa cho bị cáoDù luật sư giỏi đến đâu chăng nữa, trước khi tham dự phiên tòa đều phải chuẩn bị đề cương chi tiết bài bào chữa, trong đó đặc biệt chú ý đến luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích cho bị cáo trên cơ sở những nhận định, đánh giá, buộc tội bì cáo trong hồ sơ vụ án và các tài liệu, chứng cứ, vật chứng có liên quan đến vụ án.Kết quả bào chữa phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị bài bào chữa. Nó giúp cho người bào chữa tự tin, giữ được tâm lý chủ động trong quá trình tranh tụng và lịp thời bổ sung thêm những lậun cứ mới phát sinh trong quá trình tranh tụng. Nếu không chuẩn bị tốt bài bào chữa, Luật sư sẽ rơi vào tình thế bị động, bào chữa tản mạn, dài dòng, lập luận không logic, chặt chẽ, thậm chí dùng những thuật ngữ không chính xác, bỏ sót những tình tiết có lợi cho bị cáo hoặc đương sự, không tập trung vào vấn đề mang tính bản chất nhằm gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.Để chuẩn bị bản luận cứ bào chữa tốt thì người bào chữa phải tổng hợp các tài liệu đã có trong hồ sơ, các tài liệu thu thập được sau khi nghiên cứu hồ sơ, các tài liệu do bị cáo và thân nhân của họ cung cấp; các tài liệu thu nhập được trong quá trình gặp người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án, các tài liệu đã xuất trình với cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị họ ch6áp nhận làm chứng cứ của vụ án và các văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, Luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hình sự,…mà người bào chữa sẽ sử dụng và viện dẫn khi bào chữa.Để xây dựng được một bài bào chữa ngắn gọn, xúc tích, lập luận chặt chẽ, logic và có sức thuyết phục, Luật sư phải tập trung trí tuệ phân tích các quan điểm, nhận định, đánh giá luận cứ buộc tội của Kiểm sát viên về diễn biến vụ án, đặc điểm phạm tội, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và các luận cứ buộc tội. Trên cơ sở đó, so sánh với nhận định, đánh giá, quan điểm của mình sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét hiện trường, tài liệu, chứng cứ, vật chứng có liên quan, tìm hiểu nhân thân bị cáo và tham khảo ý kiến cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quanhoặc biết vụ việc và đưa ra luận cứ của mình.Thông thường nội dung của bài bào chữa gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.– Phần mở đầu của bài bào chữa bao giờ cũng bắt đầu từ những lời thưa gửi xã giao, lịch thiệp: “Kính thưa Hội đồng xét xử; kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, thưa các quý vị…” thể hiện sự tôn trọng với tất cả mọi người. Sau đó, người bào chữa tự giới thiệu về bản thân mình, về tổ chức chủ quản, về lý do tham gia bào chữa, bảo vệ cho thân chủ. Ví dụ: Kính thưa Hội đồng xét xử, kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát, tôi là Nguyễn Văn A, trợ giúp viên pháp lý (Luật sư là cộng tác viên) của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đà Nẵng nhận nhiệm vụ bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý là bị cáo Nguyễn Văn B tại phiên toà sơ thẩm hôm nay.Có nhiều cách để mở đầu khác nhau nhưng nhìn chung, phần mở đầu phải giới thiệu để Hội đồng xét xử, những người tham gia phiên toà biết được người bào chữa, bảo vệ là ai, lý do tham gia bào chữa và bào chữa cho ai? Yêu cầu của phần mở đầu là phải gậy được sự chú ý cho ngừơi nghe, kích thích được sự quan tâm của tất cả những người có mặt ở phiên tòa và định hướng cho họ tiếp nhận những quan điểm, ý kiến tranh luận của Luật sư. Vì vậy, phần mở đầu cần ngắn gọn, rõ ràng, khúc triết, gây chú ý cho ngườ nghe ngay từ đầu.– Phần nội dung của bài bào chữa cần tập trung phân tích những nhận định, đánh giá, luận cứ buộc tội của cáo trạng và đưa ra những chứng cứ pháp lý chứng minh sự không đầy đủ, mâu thuẫn, không phù hợp với sự thật khách quan của vụ án để phủ nhận lời cáo buộc của Viện kiểm sát và gỡ tội cho bị cáo. Trong phần này phải nêu ra được các chứng cứ, phân tích được các tình tiết có lợi cho thân chủ, phải viện dẫn các căn cứ pháp luật theo hướng có lợi cho thân chủ để từ đó chứng minh cho định hướng bào chữa của mình. Trong trường hợp có tình tiết mới Luật sư thu thập được chứng cứ gỡ tội, giảm nhẹ tội thì sử dụng để bác bỏ luận cứ buộc tội của Viện kiểm sát. Để có luận cứ gỡ tội hoặc đề nghị giảm nhẹ tội, Luật sư phải nêu lên được điều kiện (nguyên nhân phạm tội), phân tích đặc điểm nhân cách của thân chủ lúc phạm tội dẫn đến động cơ phạm tội, làm rõ nguyên nhân dẫn đến bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và cấu trúc của hành vi phạm tội. Trong nhiều trường hợp, động cơ phạm tội quyết định hình thức lỗi là tình tiết định tội, định khung hình phạt, nhưng đồng thời cũng là những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Luật sư cần chú ý đề cập đến những vấn đề trên khi nó có tác dụng gỡ tội hoặc là tình tiết giảm nhẹ tội.– Phần kết luận của bài bào chữa cần ngắn gọn và biểu cảm, trong đó khẳng định quan điểm, nhận định cuối cùng của người bào chữa với những chứng cứ pháp lý rõ ràng và đưa ra những đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm, khoản, điều của các luật tương ứng để từ đó đưa ra những kết luận có lợi cho người được trợ giúp pháp lý cũng như việc giải quyết vần đề khác của vụ án. Cuối cùng, Luật sư thể hiện sự tin tưởng vào phán quyết công minh, bình đẳng, khách quan và đúng pháp luật của Hội đồng xét xử và chân thành cảm ơn.MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý:1. Khi chuẩn bị luận cứ bào chữa, sau mỗi ý phải để khoảng trống, cách dòng để có thể bổ sung thêm được những nội dung mới phát sinh tại Toà án, tránh phải sửa chữa, tẩy xoá trong bản bào chữa. Đây là kinh nghiệm thực tiễn có nhiều tiện ích nên người bào chữa cần lưu ý.2.Bài bào chữa dù soạn thảo cẩn thận đến đâu cũng không phải là hoàn hảo nhất vì nó được chuẩn bị trên cơ sở những gì đã có trong hồ sơ vụ án và những chứng cứ, tài liệu thu thập được. Nó có thể chưa đầy đủ hoặc thừa, vô dụng khi tại phiên toà phát sinh những tình tiết mới, sự kiện mới, chứng cứ mới hoặc bên buộc tội tự rút bỏ hoặc bổ sung thêm những chứng cứ buộc tội của mình. Vì vậy, luật sư cần phải tập trung cao độ chú ý lắng nghe khi Kiểm sát viên đọc bản luận tội, và những câu hỏi, trả lời, ý kiến tranh luận của những người tham gia phiên toà để kịp thời điều chỉnh quan điểm, nhận xét, đánh giá và đưa ra luận cứ gỡ tội phù hợp;3. Khi tranh tụng tại Toà án, Luật sư nên sử dụng đề cương chi tiết của bài bào chữa mà không nên đọc bài bào chữa chuẩn bị sẵn. Như vậy sẽ giúp cho luật sư tự tin và tự nhiên hơn, tự do, thoải mái hơn mà không phụ thuộc nhiều vào bài bào chữa. Đương nhiên là Luật sư phải thuộc bài bào chữa đã được chuẩn bị.4.Trước khi tham dự phiên toà, người bào chữa phải kiểm tra bản bào chữa, bài bảo vệ bằng cách đọc lại và rà soát lại nội dung, luận cứ bào chữa, đồng thời chuẩn bị tài liệu, chứng cứ cần thiết phục vụ bào chữa. Tài liệu, chứng cứ phục vụ bào chữa phải được sắp xếp khoa học, thuận tiện cho việc sử dụng tại phiên toà bằng cách tài liệu nào cần sử dụng trước thì để lên trên, cái nào sử dụng sau thì để xuống dưới, tráng trường hợp khi cần viện dẫn thì tìm mãi không thấy.