0888889366
Danh mục
LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Nguyễn Thị Ngọc Lan
166 ngày trước
Bài viết
QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ YẾU TỐ CẤU THÀNH QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Trong bất kỳ hệ thống pháp luật nào, quy phạm pháp luật đóng một vai trò trung tâm, hướng dẫn và điều tiết hành vi của cá nhân và tổ chức trong xã hội. Chúng không chỉ là lời nói trống rỗng mà lại là bản chất của pháp luật, phản ánh ý thức và quan điểm của xã hội về việc xác định những quy tắc mà mọi người cần tuân theo. Để hiểu rõ hơn về tính chất và tầm quan trọng của quy phạm pháp luật, chúng ta cần đào sâu vào yếu tố cấu thành của chúng.1.Quy phạm là gì?Quy phạm là những quy định hành vi được cộng đồng xây dựng (như quy phạm xã hội) hoặc được nhà nước thiết lập (ví dụ như quy phạm pháp luật). Chúng giúp duy trì và điều tiết trật tự trong xã hội, và là những tiêu chuẩn xử lý chung để quản lý mối quan hệ giữa mọi người trong một cộng đồng cụ thể.2. Quy phạm pháp luật là gì?Theo khoản 1 Điều 3 luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì quy phạm pháp luật là những quy định chung được nhà nước thiết lập và ban hành, với tính chất bắt buộc, nhằm điều tiết hành vi của cá nhân và tổ chức theo ý chí nhà nước. Ngược lại, quy phạm xã hội là những tiêu chuẩn hành vi mà con người tạo ra để quản lý mối quan hệ giữa mình với người khác trong một cộng đồng xác định.3. Đặc trưng của quy phạm pháp luật Đặc trưng của quy phạm pháp luật bao gồm:– Chúng là quy tắc mang tính chất bắt buộc cho mọi người;– Có hình thức rõ ràng và xác định;– Phản ánh ý chí của Nhà nước và được ban hành bởi cơ quan có thẩm quyền;– Được Nhà nước đảm bảo việc thi hành thông qua sức mạnh cưỡng chế của mình.4. Phân loại quy phạm pháp luậtCác loại quy phạm pháp luật được phân biệt dựa vào tiêu chí khác nhau:Dựa trên đối tượng và phương pháp điều chỉnh, quy phạm pháp luật được phân thành các ngành như:Quy phạm pháp luật hình sự;Quy phạm pháp luật dân sự;Quy phạm pháp luật hành chính,...Tùy theo nội dung, quy phạm pháp luật chia thành:Quy phạm định nghĩa: Như Điều 3 khoản 3 Luật Cạnh tranh, định nghĩa về "Hành vi hạn chế cạnh tranh".Quy phạm điều chỉnh: Đưa ra quyền và nghĩa vụ cho các đối tượng trong xã hội, bao gồm quy phạm bắt buộc, cấm đoán và cho phép. Ví dụ, Điều 38 khoản 1 Luật Bảo vệ môi trường về việc quy hoạch và xây dựng làng nghề.Quy phạm bảo vệ: Xác định biện pháp cưỡng chế áp dụng cho hành vi vi phạm.Dựa vào hình thức mệnh lệnh, quy phạm pháp luật được phân loại thành:Quy phạm pháp luật dứt khoát;Quy phạm pháp luật không dứt khoát;Quy phạm pháp luật tùy nghi;Quy phạm pháp luật hướng dẫn.Tùy theo cách thức trình bày, quy phạm pháp luật được chia thành:Quy phạm pháp luật bắt buộc;Quy phạm pháp luật cấm đoán;Quy phạm pháp luật cho phép.5. Các yếu tố cấu thành quy phạm pháp luậtQuy phạm pháp luật được hình thành từ ba yếu tố chính: Giả định, Quy định và Chế tài. Tuy nhiên, không phải tất cả quy phạm đều chứa đủ ba yếu tố này.Giả định:Định nghĩa: Giả định là phần mô tả các tình huống, điều kiện có thể xuất hiện trong thực tế và người hoặc tổ chức nào sẽ bị ảnh hưởng bởi quy phạm khi rơi vào tình huống đó.Ví dụ: Trong Bộ luật hình sự, giả định được đặc tả khi nói về người "dùng vũ lực hoặc đe dọa... trái ý muốn của nạn nhân".Quy định:Định nghĩa: Quy định cho biết hành vi nào tổ chức hoặc cá nhân cần hoặc không nên thực hiện trong tình huống đã được mô tả ở phần giả định.Mệnh lệnh: Có thể là dứt khoát (không cho phép lựa chọn) hoặc linh hoạt (nêu ra nhiều lựa chọn).Ví dụ 1: Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 chỉ ra rằng khi hôn nhân bị hủy, quan hệ vợ chồng cần được chấm dứt.Ví dụ 2: Luật cũng quy định về việc lựa chọn cơ quan đăng ký kết hôn tại nơi cư trú hoặc nước ngoài.Chế tài:Định nghĩa: Chế tài xác định hình phạt hoặc biện pháp khắc phục dành cho người hoặc tổ chức vi phạm quy định của quy phạm pháp luật.Ví dụ: Đối với việc sử dụng vũ lực mà không được sự đồng ý của nạn nhân, hình phạt được áp dụng là từ 02 đến 07 năm tù.Như vậy, thông qua ba yếu tố này, quy phạm pháp luật xác định tình huống (Giả định), đặt ra mệnh lệnh (Quy định) và dự định hình phạt nếu mệnh lệnh không được tuân thủ (Chế tài).Kết luận:Quy phạm pháp luật và những yếu tố cấu thành nó là trái tim của mọi hệ thống pháp lý. Giả định, Quy định và Chế tài cùng nhau tạo nên bản chất, sự linh hoạt và sự nghiêm minh của một quy phạm. Sự hiểu biết về những yếu tố này không chỉ giúp chúng ta nhận diện và áp dụng đúng quy phạm pháp luật, mà còn giúp xã hội hoạt động một cách hài hòa, bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của mỗi cá nhân và tổ chức trong cộng đồng. 
Đoàn Trà My
166 ngày trước
Bài viết
QUỐC HỘI CÓ THẨM QUYỀN BAN HÀNH NHỮNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT NÀO?
Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có quyền và nghĩa vụ quan trọng trong việc ban hành và xây dựng hệ thống pháp luật của đất nước. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về những văn bản pháp luật được Quốc hội ban hành, vai trò quan trọng của chúng trong xã hội, và cách chúng ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Hãy cùng Thủ tục pháp luật khám phá chi tiết về chủ đề này.Vị trí, chức năng của Quốc HộiTrong bài viết này, chúng ta đã tìm hiểu về vị trí, chức năng và nhiệm kỳ của Quốc hội - cơ quan đại diện cao nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội có vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị của đất nước và đóng vai trò quyết định trong việc ban hành và xây dựng hệ thống pháp luật.Chức năng của Quốc hội bao gồm việc thảo luận, thông qua và kiểm tra việc thực hiện các luật và chính sách quốc gia, đảm bảo tính minh bạch, dân chủ và công bằng trong quyết định quốc gia. Quốc hội cũng thực hiện quyền kiểm tra và giám sát đối với các cơ quan Nhà nước khác, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của các chính sách quốc gia.Nhiệm kỳ của Quốc hội kéo dài năm năm, và Đại hội đại biểu toàn quốc là cơ hội quan trọng để nhân dân lựa chọn các đại biểu đại diện cho họ. Quá trình này đòi hỏi sự tham gia của toàn bộ xã hội và tạo ra cơ hội để bổ sung và thay đổi cơ cấu quyền lực trong hệ thống chính trị.Quốc hội là một bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị và pháp luật của Việt Nam, đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng và thực thi pháp luật, bảo vệ quyền và nghĩa vụ của công dân, và đảm bảo tính minh bạch và dân chủ trong quyết định quốc gia. Sự hoạt động của Quốc hội là một phần quan trọng của quá trình xây dựng và phát triển của đất nước.Căn cứ quy định tại Luật Tổ chức Quốc hội 2014 thì Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.Nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là 05 năm, kể từ ngày khai mạc kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa đó đến ngày khai mạc kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá sau. Sáu mươi ngày trước khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Quốc hội khoá mới phải được bầu xong.Trong trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Việc kéo dài nhiệm kỳ của một khóa Quốc hội không được quá 12 tháng, trừ trường hợp có chiến tranh.Quốc hội là cơ quan đại diện của nhân dân, chịu trách nhiệm quyết định và kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Quốc hội là ban hành pháp luật, bao gồm các loại văn bản sau:Hiến pháp: Hiến pháp là văn bản cơ bản nhất, quy định về cơ cấu tổ chức, quyền hạn và nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước và quyền của công dân. Hiến pháp chỉ có thể được sửa đổi hoặc ban hành lại bằng quyết định của Quốc hội thông qua Đại hội đại biểu toàn quốc.Luật: Luật là các văn bản quy định về quyền, nghĩa vụ, và quyền lợi của công dân trong các lĩnh vực cụ thể như luật lao động, luật hình sự, luật thuế, và nhiều lĩnh vực khác. Luật được thông qua qua các quy trình quốc hội hoặc cơ quan có thẩm quyền và phải tuân theo Hiến pháp.Nghị định: Nghị định là văn bản do Chính phủ ban hành để hướng dẫn thực hiện các luật và quyết định cụ thể về việc thực thi pháp luật. Nghị định được xem xét và thông qua bởi Quốc hội.Quyết định: Quyết định là văn bản của Chính phủ hoặc các cơ quan có thẩm quyền quy định về việc thực hiện các luật và quyết định cụ thể về một lĩnh vực nào đó.Thông tư: Thông tư là văn bản của các cơ quan nhà nước hoặc tổ chức có thẩm quyền quy định về việc thực hiện các quyết định và hướng dẫn chi tiết về cách thức triển khai các luật và nghị định.Quốc hội ban hành những văn bản pháp luật nào?Căn cứ quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi 2020) thì văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi 2020).Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi 2020) thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thẩm quyền ban hành các loại văn bản pháp luật cụ thể được quy định tại Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 và Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2020.Trong đó, Quốc hội có thẩm quyền ban hành những loại văn bản quy phạm pháp luật sau đây:- Hiếp pháp.- Bộ luật.- Luật.- Nghị quyết.Vai trò quan trọng của văn bản pháp luật ban hành bởi Quốc hộiNhững văn bản pháp luật ban hành bởi Quốc hội đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thực thi pháp luật tại Việt Nam. Chúng:Định hình chính trị, xã hội và kinh tế của quốc gia, xác định quyền và nghĩa vụ của công dân.Tạo ra một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, cung cấp sự minh bạch và dự đoán trong quy định và thực hiện pháp luật.Bảo vệ quyền lợi của công dân và doanh nghiệp, tạo điều kiện công bằng trong cuộc sống xã hội.Kiểm tra và giám sát việc thực thi pháp luật, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả của các chính sách quốc gia.Quốc hội ban hành luật, nghị quyết để quy định nội dung gì?- Quốc hội ban hành luật để quy định:+ Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;+ Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định; việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt;+ Chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;+ Chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường;+ Quốc phòng, an ninh quốc gia;+ Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;+ Hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp nhà nước khác; huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;+ Chính sách cơ bản về đối ngoại;+ Trưng cầu ý dân;+ Cơ chế bảo vệ Hiến pháp;+ Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.- Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:+ Tỷ lệ phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương;+ Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành;+ Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân;+ Quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia;+ Đại xá;+ Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.Căn cứ: Điều 15 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015Kết LuậnQuốc hội là cơ quan đại diện của nhân dân, có vai trò quan trọng trong việc ban hành và xây dựng hệ thống pháp luật của đất nước. Những văn bản pháp luật mà Quốc hội ban hành, bao gồm Hiến pháp, luật, nghị định, quyết định và thông tư, đóng vai trò quyết định trong việc quản lý và thực thi pháp luật, đồng thời bảo vệ quyền và nghĩa vụ của công dân. Sự hiểu biết và tuân thủ đúng đắn của những văn bản này là cơ sở quan trọng để xây dựng một xã hội công bằng và phát triển.
Đoàn Trà My
166 ngày trước
Bài viết
HỆ THỐNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VIỆT NAM GỒM NHỮNG VĂN BẢN NÀO?
Quy phạm pháp luật là một phần quan trọng của hệ thống pháp luật của một quốc gia, bao gồm các văn bản quy định, luật lệ, quy tắc, và tiêu chuẩn được sử dụng để điều hành xã hội và quản lý các hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về quy phạm pháp luật và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam. Hãy cùng Thủ tục pháp luật khám phá chi tiết về chủ đề này.Quy phạm pháp luật là gì?Căn cứ quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi 2020) thì có thể hiểu quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi 2020) ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.Các quy phạm pháp luật sẽ được chứa trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi 2020).Quy phạm pháp luật là tập hợp các văn bản quy định và hướng dẫn cách thức thực hiện các quy định pháp luật. Đây là cơ sở hữu ích cho việc xây dựng và thực thi pháp luật, đồng thời cung cấp hướng dẫn cho người dân và doanh nghiệp về quyền và nghĩa vụ của họ.Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt NamVăn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi 2020).Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi 2020) thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.Căn cứ Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 và Điều 1 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2020 thì Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam bao gồm:(1) Hiến pháp.(2) Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội.(3) Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.(4) Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.(5) Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.(6) Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.(7) Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.(8) Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước.(9) Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Không ban hành thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ(10) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh).(11) Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.(12) Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.(13) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện).(14) Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.(15) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).(16) Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.Trong bối cảnh pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý xã hội và bảo vệ quyền lợi của công dân, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam đã được xây dựng và phát triển một cách chặt chẽ và hiệu quả. Điều này đã tạo ra một nền tảng pháp lý mạnh mẽ cho việc tổ chức và điều hành xã hội, đồng thời bảo đảm sự công bằng, minh bạch và đáng tin cậy trong quá trình thực thi pháp luật.Hệ thống này gồm các văn bản quy phạm pháp luật cơ bản như Hiến pháp, luật, nghị định, quyết định, và thông tư. Mỗi loại văn bản này có vai trò và chức năng riêng, giúp điều hành các hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ chính trị, kinh tế, xã hội đến quản lý nhà nước và dân cư. Việc xây dựng và duy trì hệ thống văn bản này đòi hỏi sự cân nhắc, chặt chẽ, và thường xuyên cập nhật để phản ánh sự thay đổi của xã hội và nhu cầu của cộng đồng.Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và duy trì trật tự, công bằng và phát triển bền vững của quốc gia. Nó cung cấp một cơ sở pháp lý mạnh mẽ cho sự phát triển và thịnh vượng của đất nước, đồng thời bảo vệ quyền và nghĩa vụ của công dân. Sự hiểu biết và tuân thủ đúng đắn của hệ thống văn bản này là điều quan trọng để xây dựng một xã hội công bằng và phát triển.Việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo thực hiện theo các nguyên tắc quy định tại Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, cụ thể như sau:- Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.- Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.- Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật.- Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.- Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.- Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.Kết LuậnQuy phạm pháp luật là cơ sở của hệ thống pháp luật của một quốc gia, giúp đảm bảo sự tổ chức và điều hành của xã hội. Tại Việt Nam, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm nhiều loại văn bản khác nhau, từ Hiến pháp, luật, nghị định, quyết định, đến thông tư. Tất cả các loại văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và thực thi pháp luật, đồng thời cung cấp hướng dẫn và quyền lợi cho công dân và doanh nghiệp.
Kiều Oanh
176 ngày trước
Bài viết
Quy trình đăng ký hiến tạng và hiến xác
Quy trình đăng ký hiến tạng và hiến xác1. Điều kiện hiến tạng, hiến xácTheo quy định tại Điều 5 của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, người mong muốn tham gia vào việc hiến tạng hoặc hiến xác phải đáp ứng những điều kiện sau đây:Phải đủ mười tám tuổi trở lên;Phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. 2. Thủ tục đăng ký hiến tạng ở người còn sốngThực hiện quy định tại Điều 12 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, thủ tục đăng ký hiến tạng ở người còn sống được thực hiện như sau:Bước 1: Những người đủ điều kiện có quyền thể hiện ý muốn hiến mô, bộ phận cơ thể của mình cho cơ sở y tế.Bước 2: Cơ sở y tế, khi nhận được thông tin về ý muốn hiến mô, bộ phận cơ thể từ người đăng ký, phải thông báo cho Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.Bước 3: Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, sau khi nhận thông báo về việc hiến tạng, bộ phận cơ thể, có trách nhiệm thông báo cho cơ sở y tế để tiến hành các thủ tục đăng ký cho người hiến.Bước 4: Cơ sở y tế, sau khi nhận thông báo từ Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, phải thực hiện những công việc sau:Tiến hành cuộc họp trực tiếp với người hiến để tư vấn về các thông tin liên quan đến việc hiến tạng, lấy mô, bộ phận cơ thể.Hướng dẫn người hiến thực hiện đăng ký theo mẫu đơn;Thực hiện kiểm tra sức khỏe cho người hiến;Báo cáo danh sách người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người còn sống cho Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.Người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống có hiệu lực kể từ thời điểm cơ sở y tế tiếp nhận đơn đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể.3. Thủ tục đăng ký hiến tạng người sau khi chếtTuân thủ quy định tại Điều 18 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, thủ tục đăng ký hiến tạng ở người sau khi chết được thực hiện như sau:Bước 1: Người đủ điều kiện có quyền thể hiện ý muốn hiến mô, bộ phận cơ thể của mình sau khi chết cho cơ sở y tế.Bước 2: Khi cơ sở y tế nhận được thông tin về ý muốn hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết từ người đăng ký, cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.Bước 3: Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, sau khi được thông báo về việc hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết, có trách nhiệm thông báo cho cơ sở y tế để tiến hành các thủ tục đăng ký cho người hiến.Bước 4: Cơ sở y tế, khi nhận được thông báo từ Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, phải thực hiện những nhiệm vụ sau:Trực tiếp tiếp xúc với người hiến để tư vấn về các thông tin liên quan đến việc hiến, lấy mô, bộ phận cơ thể.Hướng dẫn người hiến thực hiện việc đăng ký theo mẫu đơn;Tiến hành kiểm tra sức khỏe cho người hiến;Cấp thẻ đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết cho người hiến;Báo cáo danh sách người đăng ký hiến đã được cấp thẻ đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể người sau khi chết cho Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.Người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết có hiệu lực kể từ thời điểm người đăng ký được cấp thẻ đăng ký hiến.4. Thủ tục đăng ký hiến xácThực hiện theo quy định tại Điều 19 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, thủ tục đăng ký hiến xác được tiến hành như sau:Bước 1: Người đáp ứng đủ các điều kiện có quyền thể hiện ý muốn hiến xác cho cơ sở y tế.Bước 2: Sau khi cơ sở y tế nhận được thông tin về ý muốn hiến xác từ người đăng ký, cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo cho cơ sở tiếp nhận và bảo quản xác của người hiến theo quy định.Bước 3: Cơ sở tiếp nhận và bảo quản xác của người hiến, khi nhận được thông báo về việc hiến xác, phải thực hiện các nhiệm vụ sau:Trực tiếp gặp người hiến để cung cấp thông tin liên quan đến việc hiến xác;Hướng dẫn người hiến thực hiện việc đăng ký hiến xác theo mẫu đơn;Cấp thẻ đăng ký hiến xác cho người hiến.Người đăng ký hiến xác có hiệu lực đăng ký kể từ thời điểm người đó được cấp thẻ đăng ký hiến. Câu hỏi liên quanCâu hỏi: Cách đăng ký hiến xác ở TPHCM là gì?Câu trả lời: Để đăng ký hiến xác ở TPHCM, bạn cần thực hiện các bước sau:Liên hệ cơ sở y tế: Bạn nên liên hệ với cơ sở y tế chuyên trách về hiến xác, như Bệnh viện Chợ Rẫy, để biết thêm thông tin và hướng dẫn.Điền mẫu đơn: Thường cơ sở y tế sẽ cung cấp mẫu đơn đăng ký hiến xác. Bạn cần điền đầy đủ thông tin theo yêu cầu trên mẫu đơn này.Gặp gỡ chuyên gia: Sau khi điền đơn, bạn sẽ được hướng dẫn gặp gỡ chuyên gia y tế để thảo luận và tư vấn về quy trình hiến xác, cũng như quyền lợi và trách nhiệm liên quan.Xác nhận đăng ký: Nếu sau cuộc trao đổi bạn vẫn quyết định hiến xác, cơ sở y tế sẽ xác nhận đăng ký của bạn và cấp thẻ đăng ký hiến xác.Câu hỏi: Quyền lợi của người hiến xác là gì?Câu trả lời: Người hiến xác có một số quyền lợi như sau:Góp phần nâng cao y học: Hiến xác là một hành động nhân đạo, giúp cung cấp tài nguyên quan trọng cho việc nghiên cứu y học, đào tạo y tá, bác sĩ và cải thiện phương pháp điều trị.Tôn trọng ý muốn: Người hiến xác được đảm bảo rằng ý muốn của họ sẽ được thực hiện sau khi qua đời, tôn trọng quyết định và niềm tin của cá nhân.Khả năng ảnh hưởng đến tương lai: Công trình nghiên cứu từ các ca hiến xác có thể cải thiện phương pháp điều trị và định hình tương lai của y học.Câu hỏi: Mẫu đơn đăng ký hiến xác như thế nào?Câu trả lời: Mẫu đơn đăng ký hiến xác thường gồm các thông tin cơ bản về cá nhân như họ tên, ngày sinh, địa chỉ liên hệ. Ngoài ra, mẫu đơn cũng có các phần để bạn chọn loại hiến xác mà bạn quan tâm, chẳng hạn như hiến toàn bộ xác, chỉ hiến một số phần cụ thể, hoặc hiến cho mục đích học tập và nghiên cứu y học.Câu hỏi: Làm thế nào để đăng ký hiến xác cho y học?Câu trả lời: Để đăng ký hiến xác cho mục đích y học, bạn cần liên hệ với cơ sở y tế có chuyên môn trong lĩnh vực này. Thông qua quy trình tư vấn và hướng dẫn, cơ sở y tế sẽ giúp bạn điền đơn và hiểu rõ về quy trình hiến xác.Câu hỏi: Hiến xác cho y học, người hiến được đền bù bao nhiêu tiền?Câu trả lời: Thông thường, việc hiến xác cho y học không được đền bù bằng tiền mặt. Người hiến xác thường là những người có ý muốn góp phần hỗ trợ y học và xã hội, và quan điểm này thường không liên quan đến khoản tiền.Câu hỏi: Có thể đăng ký hiến xác online được không?Câu trả lời: Hiện nhiều cơ sở y tế đã hỗ trợ việc đăng ký hiến xác online thông qua các trang web chính thức của họ. Tuy nhiên, quy trình thường bao gồm cả việc tham gia tư vấn và hướng dẫn bởi chuyên gia y tế. 
Đoàn Trà My
200 ngày trước
Bài viết
CÁCH ĐÓNG DẤU GIÁP LAI ĐÚNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
Đóng dấu giấp lai là một phần quan trọng trong quy trình hoạt động của nhiều doanh nghiệp và tổ chức. Tuy nhiên, để đảm bảo tính hợp pháp và tuân thủ quy định của pháp luật, việc đóng dấu giấp lai phải được thực hiện đúng cách và theo đúng quy định. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về cách đóng dấu giấp lai đúng quy định pháp luật, giúp đảm bảo tính pháp lý và tuân thủ của các hồ sơ và giao dịch mà tổ chức hoặc doanh nghiệp thực hiện. Để biết thêm chi tiết về thủ tục pháp luật liên quan, bạn có thể xem tại Thủ tục pháp luật.1. Dấu giáp lai là gì?Hiện nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành không có định nghĩa cụ thể về dấu giáp lai. Tuy nhiên, ta có thể hiểu dấu giáp lai như sau: Đây là một con dấu được đặt vào lề phải của tài liệu gồm hai tờ trở lên, nhằm đảm bảo tính xác thực của từng tờ văn bản và ngăn chặn sự thay đổi nội dung hoặc sai lệch thông tin. Mục đích của việc đóng dấu giáp lai là để bảo vệ tính toàn vẹn và uy tín của tài liệu, đồng thời đảm bảo sự chính xác và đáng tin cậy trong việc truyền đạt thông tin.2. Hướng dẫn đóng dấu giáp lai đúng quy địnhKhoản 1 Điều 33 Nghị định 30/2020/NĐ-CP quy định về sử dụng con dấu như sau:"Điều 33. Sử dụng con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật1. Sử dụng con dấua) Dấu đóng phải rõ ràng, ngay ngắn, đúng chiều và dùng đúng mực dấu màu đỏ theo quy định.b) Khi đóng dấu lên chữ ký, dấu đóng phải trùm lên khoảng 1/3 chữ ký về phía bên trái.c) Các văn bản ban hành kèm theo văn bản chính hoặc phụ lục: Dấu được đóng lên trang đầu, trùm một phần tên cơ quan, tổ chức hoặc tiêu đề phụ lục.d) Việc đóng dấu treo, dấu giáp lai, đóng dấu nổi trên văn bản giấy do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quy định.đ) Dấu giáp lai được đóng vào khoảng giữa mép phải của văn bản hoặc phụ lục văn bản, trùm lên một phần các tờ giấy; mỗi dấu đóng tối đa 05 tờ văn bản."Như vậy, để đóng dấu giáp lai, ta phải tuân theo các quy định sau:- Dấu giáp lai cần được đặt ở vị trí giữa mép phải của văn bản hoặc phụ lục văn bản và che phủ một phần các tờ giấy.- Mỗi dấu giáp lai có thể đóng tối đa 05 tờ văn bản.- Dấu giáp lai phải rõ ràng, ngay ngắn, hợp lệ và sử dụng mực dấu màu đỏ theo quy định.3. Hướng dẫn đóng dấu chữ ký đúng quy địnhTheo khoản 1 Điều 33 Nghị định 30/2020/NĐ-CP thì dấu chữ ký phải được đóng theo các quy định sau:- Đóng dấu sau khi có chữ ký của người có thẩm quyền, không đóng dấu khi chưa có chữ ký.- Khi đóng dấu lên chữ ký, dấu đóng phải trùm lên khoảng 1/3 chữ ký về phía bên trái.- Dấu đóng phải rõ ràng, ngay ngắn, đúng chiều và dùng đúng mực dấu màu đỏ theo quy định.Kết luậnCách đóng dấu giấp lai đúng quy định pháp luật là một phần quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp và tổ chức. Việc tuân thủ các quy định và thực hiện đúng cách giúp đảm bảo tính hợp pháp và pháp lý của các giao dịch và hồ sơ. Để biết thêm chi tiết và hướng dẫn cụ thể, bạn có thể tham khảo Thủ tục pháp luật.
Bài viết
LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
QUỐC HỘI--------CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------Luật số: 80/2015/QH13Hà Nội, ngày 22 tháng 6 năm 2015 LUẬTBAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬTCăn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội ban hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.Chương INHỮNG QUY ĐỊNH CHUNGĐiều 1. Phạm vi điều chỉnhLuật này quy định nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.Luật này không quy định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp.Điều 2. Văn bản quy phạm pháp luậtVăn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này.Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật.Điều 3. Giải thích từ ngữTrong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:1. Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.2. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc áp dụng văn bản đó sau khi được ban hành.3. Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là việc Ủy ban thường vụ Quốc hội làm rõ tinh thần, nội dung của điều, khoản, điểm trong Hiến pháp, luật, pháp lệnh để có nhận thức, thực hiện, áp dụng đúng, thống nhất pháp luật.Điều 4. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật1. Hiến pháp.2. Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội.3. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.4. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.5. Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.6. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.7. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.8. Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước.9. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh).10. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.11. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.12. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện).13. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.14. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).15. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.Điều 5. Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật1. Bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.2. Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.3. Bảo đảm tính minh bạch trong quy định của văn bản quy phạm pháp luật.4. Bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, kịp thời, dễ tiếp cận, dễ thực hiện của văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính.5. Bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, không làm cản trở việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.6. Bảo đảm công khai, dân chủ trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.Điều 6. Tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức thành viên khác của Mặt trận và các cơ quan, tổ chức khác, cá nhân có quyền và được tạo điều kiện góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.2. Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật.3. Ý kiến tham gia về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiên cứu, tiếp thu trong quá trình chỉnh lý dự thảo văn bản.Điều 7. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật1. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về tiến độ trình và chất lượng dự án, dự thảo văn bản do mình trình.2. Cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình hoặc cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền ban hành văn bản về tiến độ soạn thảo, chất lượng dự án, dự thảo văn bản được phân công soạn thảo.3. Cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền được đề nghị tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về nội dung và thời hạn tham gia góp ý kiến.4. Cơ quan thẩm định chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trình hoặc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kết quả thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.Cơ quan thẩm tra chịu trách nhiệm trước cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kết quả thẩm tra dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.5. Quốc hội, Hội đồng nhân dân và cơ quan khác, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật chịu trách nhiệm về chất lượng văn bản do mình ban hành.6. Cơ quan, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.7. Cơ quan, người có thẩm quyền chịu trách nhiệm về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc ban hành văn bản quy định chi tiết có nội dung ngoài phạm vi được giao quy định chi tiết.8. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, cơ quan trình, cơ quan thẩm tra và cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải chịu trách nhiệm về việc không hoàn thành nhiệm vụ và tùy theo mức độ mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và quy định khác của pháp luật có liên quan trong trường hợp dự thảo văn bản không bảo đảm về chất lượng, chậm tiến độ, không bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật được phân công thực hiện.Điều 8. Ngôn ngữ, kỹ thuật văn bản quy phạm pháp luật1. Ngôn ngữ trong văn bản quy phạm pháp luật là tiếng Việt.Ngôn ngữ sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật phải chính xác, phổ thông, cách diễn đạt phải rõ ràng, dễ hiểu.2. Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định cụ thể nội dung cần điều chỉnh, không quy định chung chung, không quy định lại các nội dung đã được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật khác.3. Tùy theo nội dung, văn bản quy phạm pháp luật có thể được bố cục theo phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm; các phần, chương, mục, tiểu mục, điều trong văn bản quy phạm pháp luật phải có tiêu đề. Không quy định chương riêng về thanh tra, khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm trong văn bản quy phạm pháp luật nếu không có nội dung mới.4. Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước.Chính phủ quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan, người có thẩm quyền khác được quy định trong Luật này.Điều 9. Dịch văn bản quy phạm pháp luật ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoàiVăn bản quy phạm pháp luật có thể được dịch ra tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài; bản dịch có giá trị tham khảo.Chính phủ quy định chi tiết Điều này.Điều 10. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật1. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật phải thể hiện rõ số thứ tự, năm ban hành, loại văn bản, cơ quan ban hành văn bản.2. Việc đánh số thứ tự của văn bản quy phạm pháp luật phải theo từng loại văn bản và năm ban hành. Luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội được đánh số thứ tự theo từng loại văn bản và nhiệm kỳ của Quốc hội.3. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật được sắp xếp như sau:a) Số, ký hiệu của luật, nghị quyết của Quốc hội được sắp xếp theo thứ tự như sau: “loại văn bản: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản và số khóa Quốc hội”;b) Số, ký hiệu của pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội được sắp xếp theo thứ tự như sau: “loại văn bản: số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản và số khóa Quốc hội”;c) Số, ký hiệu của các văn bản quy phạm pháp luật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này được sắp xếp theo thứ tự như sau: “số thứ tự của văn bản/năm ban hành/tên viết tắt của loại văn bản - tên viết tắt của cơ quan ban hành văn bản”.Điều 11. Văn bản quy định chi tiết1. Văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định cụ thể để khi có hiệu lực thì thi hành được ngay. Trong trường hợp văn bản có điều, khoản, điểm mà nội dung liên quan đến quy trình, quy chuẩn kỹ thuật và những nội dung khác cần quy định chi tiết thì ngay tại điều, khoản, điểm đó có thể giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định chi tiết. Văn bản quy định chi tiết chỉ được quy định nội dung được giao và không được quy định lặp lại nội dung của văn bản được quy định chi tiết.2. Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được ủy quyền tiếp. Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết.3. Trường hợp một cơ quan được giao quy định chi tiết nhiều nội dung của một văn bản quy phạm pháp luật thì ban hành một văn bản để quy định chi tiết các nội dung đó, trừ trường hợp cần phải quy định trong các văn bản khác nhau.Trường hợp một cơ quan được giao quy định chi tiết các nội dung của nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau thì có thể ban hành một văn bản để quy định chi tiết.Điều 12. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật1. Văn bản quy phạm pháp luật chỉ được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ bằng văn bản quy phạm pháp luật của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó hoặc bị đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ bằng văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền. Văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản khác phải xác định rõ tên văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành.Văn bản bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo, niêm yết theo quy định.2. Khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan ban hành văn bản phải sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản mới ngay trong văn bản mới đó; trường hợp chưa thể sửa đổi, bổ sung ngay thì phải xác định rõ trong văn bản mới danh mục văn bản, phần, chương, mục, tiểu mục, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật mà mình đã ban hành trái với quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới và có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung trước khi văn bản quy phạm pháp luật mới có hiệu lực.3. Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng cơ quan ban hành.Điều 13. Gửi văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật1. Văn bản quy phạm pháp luật phải được gửi đến cơ quan có thẩm quyền để giám sát, kiểm tra.Chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày công bố luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc ký chứng thực, ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật khác, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 164 của Luật này để giám sát, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 165, khoản 1 Điều 166 hoặc khoản 1 Điều 167 của Luật này để kiểm tra.2. Hồ sơ dự án, dự thảo và bản gốc của văn bản quy phạm pháp luật phải được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.Điều 14. Những hành vi bị nghiêm cấm1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.2. Ban hành văn bản không thuộc hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định tại Điều 4 của Luật này nhưng có chứa quy phạm pháp luật.3. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định tại Luật này.4. Quy định thủ tục hành chính trong thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp được giao trong luật.Chương IITHẨM QUYỀN BAN HÀNH, NỘI DUNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬTĐiều 15. Luật, nghị quyết của Quốc hội1. Quốc hội ban hành luật để quy định:a) Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;b) Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định; việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt;c) Chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;d) Chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường;đ) Quốc phòng, an ninh quốc gia;e) Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;g) Hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp nhà nước khác; huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;h) Chính sách cơ bản về đối ngoại;i) Trưng cầu ý dân;k) Cơ chế bảo vệ Hiến pháp;l) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.2. Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:a) Tỷ lệ phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương;b) Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành;c) Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân;d) Quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia;đ) Đại xá;e) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.Điều 16. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội1. Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh để quy định những vấn đề được Quốc hội giao.2. Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:a) Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;b) Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội;c) Bãi bỏ pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; trường hợp bãi bỏ pháp lệnh thì Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất;d) Tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;đ) Hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân;e) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Điều 17. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nướcChủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để quy định:1. Tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương trong trường hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội không thể họp được.2. Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước.Điều 18. Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt NamỦy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành nghị quyết liên tịch để quy định chi tiết những vấn đề được luật giao.Điều 19. Nghị định của Chính phủChính phủ ban hành nghị định để quy định:1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.2. Các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; các biện pháp để thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, viên chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ; những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của từ hai bộ, cơ quan ngang bộ trở lên; nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ.3. Vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Điều 20. Quyết định của Thủ tướng Chính phủThủ tướng Chính phủ ban hành quyết định để quy định:1. Biện pháp lãnh đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, chế độ làm việc với các thành viên Chính phủ, chính quyền địa phương và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.2. Biện pháp chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các thành viên Chính phủ; kiểm tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.Điều 21. Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối caoHội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết để hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử thông qua tổng kết việc áp dụng pháp luật, giám đốc việc xét xử.Điều 22. Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối caoChánh án Tòa án nhân dân tối cao ban hành thông tư để thực hiện việc quản lý các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự về tổ chức và những vấn đề khác được Luật tổ chức Tòa án nhân dân và luật khác có liên quan giao.Điều 23. Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối caoViện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư để quy định những vấn đề được Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và luật khác có liên quan giao.Điều 24. Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộBộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành thông tư để quy định:1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.2. Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình.Điều 25. Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối caoChánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư liên tịch để quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng.Điều 26. Quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nướcTổng Kiểm toán nhà nước ban hành quyết định để quy định chuẩn mực kiểm toán nhà nước, quy trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán.Điều 27. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnhHội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành nghị quyết để quy định:1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.2. Chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.3. Biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương.4. Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.Điều 28. Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnhỦy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định để quy định:1. Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.2. Biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương.3. Biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương.Điều 29. Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệtHội đồng nhân dân ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành quyết định theo quy định của Luật này và các luật khác có liên quan.Điều 30. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xãHội đồng nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao.Chương IIIXÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA QUỐC HỘI, ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘIMục 1. LẬP CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNHĐiều 31. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh1. Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng hằng năm trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.2. Quốc hội quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh tại kỳ họp thứ nhất của năm trước.Điều 32. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội thì có quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.2. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải dựa trên các căn cứ sau đây:a) Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;b) Kết quả tổng kết thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến chính sách của dự án luật, pháp lệnh;c) Yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh;d) Cam kết trong điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.Điều 33. Kiến nghị về luật, pháp lệnh, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội1. Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị về luật, pháp lệnh. Việc kiến nghị về luật, pháp lệnh phải căn cứ vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; cam kết trong điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.2. Đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh được lập theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Luật này.3. Đại biểu Quốc hội có quyền tự mình hoặc đề nghị Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Viện nghiên cứu lập pháp hỗ trợ trong việc lập văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh, hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo quy định tại Điều 37 của Luật này.4. Văn phòng Quốc hội có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện cần thiết để đại biểu Quốc hội thực hiện quyền kiến nghị về luật, pháp lệnh, quyền đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.Điều 34. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trong việc lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh1. Trước khi lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội tiến hành hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành các hoạt động sau đây:a) Tổng kết việc thi hành pháp luật có liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;b) Tổ chức nghiên cứu khoa học về các vấn đề liên quan để hỗ trợ cho việc lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Trong trường hợp cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;c) Xây dựng nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; đánh giá tác động của chính sách;d) Dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua.2. Chuẩn bị hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo quy định tại Điều 37 của Luật này.3. Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý.4. Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình thì cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh còn có trách nhiệm lấy ý kiến của Chính phủ và nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của Chính phủ.Điều 35. Đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh1. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiến hành đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Đại biểu Quốc hội tự mình hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.Trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, xem xét, cho ý kiến về dự án luật, pháp lệnh, nếu có chính sách mới được đề xuất thì cơ quan đề xuất chính sách đó có trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách.2. Nội dung đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ: vấn đề cần giải quyết; mục tiêu của chính sách; giải pháp để thực hiện chính sách; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ chức và lý do của việc lựa chọn; đánh giá tác động thủ tục hành chính, tác động về giới (nếu có).3. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội khi đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm nghiên cứu, soạn thảo dự thảo báo cáo đánh giá tác động; lấy ý kiến góp ý, phản biện dự thảo báo cáo; tiếp thu, chỉnh lý dự thảo báo cáo.4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.Điều 36. Lấy ý kiến đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh1. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm sau đây:a) Đăng tải báo cáo tổng kết, báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Cổng thông tin điện tử của Chính phủ đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Chính phủ, cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức có đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Thời gian đăng tải ít nhất là 30 ngày;b) Lấy ý kiến Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách và giải pháp thực hiện chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Trong trường hợp cần thiết, tổ chức họp để lấy ý kiến về những chính sách cơ bản trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;c) Tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý; đăng tải báo cáo giải trình, tiếp thu trên cổng thông tin điện tử quy định tại khoản này.2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý, cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm góp ý bằng văn bản về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; Bộ Tài chính có trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá về nguồn tài chính, Bộ Nội vụ có trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá về nguồn nhân lực, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá về sự tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Bộ Tư pháp có trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh với hệ thống pháp luật đến cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội lập đề nghị.Điều 37. Hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh1. Hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm:a) Tờ trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, trong đó phải nêu rõ: sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh; mục đích, quan điểm xây dựng luật, pháp lệnh; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật, pháp lệnh; mục tiêu, nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, các giải pháp để thực hiện chính sách đã được lựa chọn và lý do của việc lựa chọn; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành luật, pháp lệnh sau khi được Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua; thời gian dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh;b) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;c) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và ý kiến của các cơ quan, tổ chức khác; bản chụp ý kiến góp ý;đ) Đề cương dự thảo luật, pháp lệnh.2. Văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành, đối tượng, phạm vi điều chỉnh, mục đích, yêu cầu ban hành, quan điểm, chính sách, nội dung chính của luật, pháp lệnh.Điều 38. Trách nhiệm lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình1. Đối với các dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình thì bộ, cơ quan ngang bộ tự mình hoặc theo phân công của Thủ tướng Chính phủ có trách nhiệm lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.2. Bộ, cơ quan ngang bộ lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh tiến hành các hoạt động quy định tại Điều 34 của Luật này.Điều 39. Thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình1. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao và các cơ quan, tổ chức có liên quan thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trước khi trình Chính phủ trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.2. Các bộ, cơ quan ngang bộ lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị đến Bộ Tư pháp để thẩm định. Hồ sơ gồm các tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này.Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 37 của Luật này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.3. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:a) Sự cần thiết ban hành luật, pháp lệnh; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của luật, pháp lệnh;b) Sự phù hợp của nội dung chính sách với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;c) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của chính sách với hệ thống pháp luật và tính khả thi, tính dự báo của nội dung chính sách, các giải pháp và điều kiện bảo đảm thực hiện chính sách dự kiến trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;d) Tính tương thích của nội dung chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;đ) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nếu chính sách liên quan đến thủ tục hành chính; việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nếu chính sách liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;e) Việc tuân thủ trình tự, thủ tục lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của Bộ Tư pháp về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3 Điều này và ý kiến của Bộ Tư pháp về việc đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ.5. Báo cáo thẩm định phải được gửi đến bộ, cơ quan ngang bộ đã lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc thẩm định. Cơ quan lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh và đồng thời gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đã được chỉnh lý kèm theo báo cáo giải trình, tiếp thu cho Bộ Tư pháp khi trình Chính phủ.Điều 40. Trình Chính phủ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trình1. Bộ, cơ quan ngang bộ lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh có trách nhiệm trình Chính phủ hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh chậm nhất là 20 ngày trước ngày tổ chức phiên họp của Chính phủ.2. Hồ sơ trình Chính phủ bao gồm:a) Tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này;b) Báo cáo thẩm định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;c) Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 37 của Luật này và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.Điều 41. Chính phủ xem xét, thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trìnhChính phủ tổ chức phiên họp để xem xét các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:1. Đại diện bộ, cơ quan ngang bộ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trình bày Tờ trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.2. Đại diện Bộ Tư pháp trình bày Báo cáo thẩm định.3. Đại diện cơ quan, tổ chức tham dự phiên họp phát biểu ý kiến.4. Chính phủ thảo luận và biểu quyết thông qua chính sách trong từng đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Chính sách được thông qua khi có quá nửa tổng số các thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành.5. Chính phủ ra nghị quyết về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh với các chính sách đã được thông qua.Điều 42. Chỉnh lý và gửi hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh do Chính phủ trìnhBộ, cơ quan ngang bộ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trên cơ sở nghị quyết của Chính phủ và gửi Bộ Tư pháp để lập đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.Điều 43. Lập đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh1. Chính phủ lập đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Ủy ban thường vụ Quốc hội.Bộ Tư pháp có trách nhiệm giúp Chính phủ lập đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trên cơ sở các đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đã được Chính phủ thông qua.2. Chính phủ xem xét, thảo luận đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:a) Đại diện Bộ Tư pháp trình bày dự thảo đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;b) Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;c) Chính phủ thảo luận;d) Chính phủ biểu quyết thông qua đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Chính phủ biểu quyết tán thành.Điều 44. Chính phủ cho ý kiến đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình và kiến nghị về luật, pháp lệnh1. Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình và kiến nghị về luật, pháp lệnh thì trước khi trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội gửi hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh quy định tại Điều 37 của Luật này để Chính phủ cho ý kiến.Chính phủ có trách nhiệm xem xét, trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, văn bản kiến nghị.2. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan chuẩn bị ý kiến của Chính phủ đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình và kiến nghị về luật, pháp lệnh để Chính phủ thảo luận.3. Chính phủ xem xét, thảo luận về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình và kiến nghị về luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:a) Đại diện Bộ Tư pháp trình bày dự thảo ý kiến của Chính phủ;b) Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;c) Chính phủ thảo luận;d) Thủ tướng Chính phủ kết luận.4. Bộ Tư pháp có trách nhiệm chỉnh lý dự thảo ý kiến của Chính phủ trên cơ sở kết luận của Thủ tướng Chính phủ, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.Điều 45. Trách nhiệm lập và xem xét, thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình1. Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận chỉ đạo việc lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; phân công cơ quan, đơn vị chủ trì lập đề nghị.2. Cơ quan, đơn vị được phân công lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh tiến hành các hoạt động quy định tại Điều 34 của Luật này.Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đơn vị được phân công lập đề nghị có trách nhiệm lấy ý kiến của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao trước khi báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.3. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận tổ chức phiên họp để xem xét, thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:a) Đại diện cơ quan, đơn vị được phân công lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh trình bày tờ trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;b) Đại diện Chính phủ phát biểu ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;c) Đại diện cơ quan, tổ chức khác tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;d) Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận thảo luận và biểu quyết thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh. Chính sách được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận biểu quyết tán thành.4. Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước xem xét, thông qua đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:a) Cơ quan, đơn vị được phân công lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh báo cáo Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;b) Chủ tịch nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước xem xét, quyết định việc trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.5. Đại biểu Quốc hội tự mình hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ để lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; trường hợp đề nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ thì đại biểu Quốc hội xem xét, quyết định việc trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:a) Cơ quan hỗ trợ đại biểu Quốc hội lập đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh báo cáo đại biểu Quốc hội về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;b) Đại biểu Quốc hội xem xét, quyết định việc trình đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh.Điều 46. Thời hạn và hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh1. Chậm nhất vào ngày 01 tháng 3 của năm trước, đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh phải được gửi đến Ủy ban thường vụ Quốc hội để lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, đồng thời được gửi đến Ủy ban pháp luật của Quốc hội để thẩm tra.2. Hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội được gửi Ủy ban thường vụ Quốc hội theo quy định sau đây:a) Đối với đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, hồ sơ gồm tờ trình của Chính phủ; dự kiến chương trình và bản điện tử các tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này;b) Đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức khác, đại biểu Quốc hội, hồ sơ gồm tài liệu quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37 của Luật này và ý kiến của Chính phủ về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kèm theo bản điện tử các tài liệu còn lại quy định tại Điều 37 của Luật này.Đối với kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội thì tài liệu gồm văn bản kiến nghị về luật, pháp lệnh và ý kiến của Chính phủ về kiến nghị về luật, pháp lệnh.Điều 47. Thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh1. Ủy ban pháp luật tập hợp và chủ trì thẩm tra đề nghị về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội và kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội.Nội dung thẩm tra tập trung vào sự cần thiết ban hành, phạm vi, đối tượng điều chỉnh, chính sách cơ bản của văn bản, tính thống nhất, tính khả thi, thứ tự ưu tiên, thời điểm trình, điều kiện bảo đảm để xây dựng và thi hành văn bản.2. Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban pháp luật trong việc thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh và phát biểu ý kiến về sự cần thiết ban hành, chính sách của văn bản, thứ tự ưu tiên trình dự án luật, pháp lệnh thuộc lĩnh vực do mình phụ trách.Điều 48. Lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh1. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:a) Đại diện Chính phủ trình bày tờ trình đề nghị của Chính phủ về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình, kiến nghị về luật, pháp lệnh.Đại diện cơ quan, tổ chức khác, đại biểu Quốc hội có thể được mời phát biểu ý kiến về đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh của mình;b) Đại diện Ủy ban pháp luật trình bày báo cáo thẩm tra;c) Đại biểu tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;d) Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận;đ) Đại diện Chính phủ, đại diện cơ quan, tổ chức khác, đại biểu Quốc hội có đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, kiến nghị về luật, pháp lệnh trình bày bổ sung những vấn đề được nêu ra tại phiên họp;e) Chủ tọa phiên họp kết luận.2. Căn cứ vào đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội, kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội, ý kiến thẩm tra của Ủy ban pháp luật, Ủy ban thường vụ Quốc hội lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trình Quốc hội xem xét, quyết định.Hồ sơ dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh gồm tờ trình và dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, kèm theo bản điện tử hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 46 của Luật này. Dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh phải được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội.3. Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.Điều 49. Trình tự xem xét, thông qua dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh1. Quốc hội xem xét, thông qua dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:a) Đại diện Ủy ban thường vụ Quốc hội trình bày tờ trình về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;b) Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh có thể được thảo luận ở Tổ đại biểu Quốc hội;c) Sau khi dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được Quốc hội thảo luận, cho ý kiến, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với đại diện Chính phủ và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và xây dựng báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết;d) Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;đ) Quốc hội biểu quyết thông qua nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.2. Nghị quyết về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh phải nêu rõ tên dự án luật, pháp lệnh và thời gian dự kiến trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án đó.Điều 50. Triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh1. Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm chỉ đạo và triển khai việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh thông qua các hoạt động sau đây:a) Phân công cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết; cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan tham gia thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.Trong trường hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội thì Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra hoặc thành lập Ủy ban lâm thời để thẩm tra.Trong trường hợp Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết thì Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định cơ quan thẩm tra;b) Thành lập Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Luật này;c) Quyết định tiến độ xây dựng dự án luật, pháp lệnh và các biện pháp cụ thể để bảo đảm việc thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.2. Ủy ban pháp luật có trách nhiệm giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội trong việc tổ chức triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.3. Bộ Tư pháp có trách nhiệm dự kiến cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp soạn thảo để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định và giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc việc soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết do Chính phủ trình.Điều 51. Điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh1. Ủy ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh trong các trường hợp sau đây:a) Đưa ra khỏi chương trình các dự án luật, pháp lệnh không cần thiết phải ban hành do có sự thay đổi về tình hình kinh tế - xã hội hoặc điều chỉnh thời điểm trình trong trường hợp cần thiết;b) Bổ sung vào chương trình các dự án luật, pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu cấp thiết phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tính mạng, tài sản của Nhân dân; các dự án luật, pháp lệnh cần sửa đổi theo các văn bản mới được ban hành để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật hoặc để thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.Việc bổ sung vào chương trình được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 32 đến Điều 42, các điều 44, 45, 47 và khoản 1 Điều 48 của Luật này.2. Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất về việc điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.Mục 2. SOẠN THẢO LUẬT, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾTĐiều 52. Thành lập Ban soạn thảo và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội1. Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập Ban soạn thảo và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo trong những trường hợp sau đây:a) Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết có nội dung liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực;b) Dự án luật, dự thảo nghị quyết do Ủy ban thường vụ Quốc hội trình;c) Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do đại biểu Quốc hội trình, thành phần Ban soạn thảo do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của đại biểu Quốc hội.2. Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình thì Thủ tướng Chính phủ giao cho một bộ hoặc cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo, cơ quan được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm thành lập Ban soạn thảo, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.3. Dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do cơ quan khác, tổ chức trình thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm thành lập Ban soạn thảo và chủ trì soạn thảo, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này.Điều 53. Thành phần Ban soạn thảo1. Ban soạn thảo gồm Trưởng ban là người đứng đầu cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và thành viên khác là đại diện cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học. Đối với Ban soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình thì thành phần Ban soạn thảo phải có các thành viên là đại diện lãnh đạo Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ. Ban soạn thảo phải có ít nhất là chín người.2. Thành viên Ban soạn thảo là chuyên gia, nhà khoa học phải là người am hiểu các vấn đề chuyên môn liên quan đến dự án, dự thảo và có điều kiện tham gia đầy đủ các hoạt động của Ban soạn thảo.Điều 54. Nhiệm vụ của Ban soạn thảo, Trưởng Ban soạn thảo, thành viên Ban soạn thảo1. Ban soạn thảo có trách nhiệm tổ chức việc soạn thảo và chịu trách nhiệm về chất lượng, tiến độ soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo.2. Ban soạn thảo có các nhiệm vụ sau đây:a) Xem xét, thông qua đề cương chi tiết dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết;b) Thảo luận về nội dung của dự thảo văn bản, tờ trình, nội dung giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân;c) Bảo đảm các quy định của dự thảo phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi của văn bản.3. Trưởng Ban soạn thảo có các nhiệm vụ sau đây:a) Thành lập Tổ biên tập giúp việc cho Ban soạn thảo và chỉ đạo Tổ biên tập biên soạn và chỉnh lý dự thảo văn bản;b) Tổ chức các cuộc họp và các hoạt động khác của Ban soạn thảo;c) Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên Ban soạn thảo.4. Thành viên Ban soạn thảo có nhiệm vụ tham dự đầy đủ các cuộc họp của Ban soạn thảo, chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất, tính khả thi của các nội dung được phân công trong dự thảo văn bản và tiến độ xây dựng dự thảo văn bản; trường hợp vì lý do khách quan mà không tham dự được thì phải có ý kiến góp ý bằng văn bản.Điều 55. Nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết1. Tổ chức xây dựng dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết theo mục đích, yêu cầu, phạm vi điều chỉnh, chính sách đã được xây dựng trong hồ sơ đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh; chịu trách nhiệm về chất lượng, tiến độ soạn thảo dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước cơ quan, tổ chức trình dự án, dự thảo.2. Chuẩn bị dự thảo, tờ trình và các tài liệu có liên quan đến dự án, dự thảo.3. Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về dự án, dự thảo và đăng tải dự án, dự thảo trên cổng thông tin điện tử quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 của Luật này và của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo; tổng hợp và nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý; đăng tải báo cáo giải trình, tiếp thu và dự thảo văn bản đã được chỉnh lý trên cổng thông tin điện tử quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 của Luật này và của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo.4. Nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định hoặc ý kiến tham gia của Chính phủ đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình.5. Chuẩn bị báo cáo giải trình về những chính sách mới phát sinh cần bổ sung vào dự án, dự thảo để trình cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội có thẩm quyền trình xem xét, quyết định.6. Dự kiến những nội dung cần được giao quy định chi tiết trong dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; kiến nghị phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết các điều, khoản, điểm của dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết.7. Đối với dự án, dự thảo do Ủy ban thường vụ Quốc hội trình và dự án, dự thảo do đại biểu Quốc hội tự mình soạn thảo thì cơ quan được Ủy ban thường vụ Quốc hội giao chủ trì soạn thảo, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm báo cáo tiến độ soạn thảo với Ủy ban thường vụ Quốc hội.Đối với dự án, dự thảo do Chính phủ trình thì bộ, cơ quan ngang bộ được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm báo cáo tiến độ soạn thảo với Bộ Tư pháp để tổng hợp, báo cáo Chính phủ.Trong quá trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết, nếu có sự thay đổi lớn về chính sách so với chính sách đã được Chính phủ thông qua thì bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo có trách nhiệm kịp thời báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.Điều 56. Nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết1. Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết có các nhiệm vụ sau đây:a) Chỉ đạo cơ quan chủ trì soạn thảo dự án, dự thảo trong quá trình soạn thảo.Đối với dự án, dự thảo do đại biểu Quốc hội tự mình soạn thảo thì đại biểu có thể đề nghị Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Viện nghiên cứu lập pháp, cơ quan, tổ chức có liên quan hỗ trợ trong quá trình soạn thảo;b) Xem xét, quyết định việc trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội dự án, dự thảo; trường hợp đặc biệt chưa thể trình dự án, dự thảo theo đúng tiến độ thì phải kịp thời báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định và nêu rõ lý do.2. Trường hợp dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết không do Chính phủ trình thì chậm nhất là 40 ngày trước ngày khai mạc phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết phải gửi hồ sơ dự án, dự thảo đến Chính phủ để Chính phủ cho ý kiến.Điều 57. Lấy ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết1. Trong quá trình soạn thảo văn bản, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và cơ quan, tổ chức có liên quan; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn dự thảo văn bản và tờ trình trên cổng thông tin điện tử quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 của Luật này và của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là 60 ngày, trừ những văn bản được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn, để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến. Trong thời gian dự thảo đang được lấy ý kiến, nếu cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý lại dự thảo văn bản mà khác với dự thảo đã đăng tải trước đó thì phải đăng lại dự thảo văn bản đã được chỉnh lý.Đối với trường hợp lấy ý kiến bằng văn bản, cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến.2. Ngoài đăng tải để lấy ý kiến theo quy định tại khoản 1 Điều này, việc lấy ý kiến có thể thông qua hình thức lấy ý kiến trực tiếp, gửi dự thảo đề nghị góp ý kiến, tổ chức hội thảo, tọa đàm, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng.3. Cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổng hợp, nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến góp ý và đăng tải nội dung giải trình, tiếp thu trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức mình để Nhân dân biết.4. Đối với dự án, dự thảo do đại biểu Quốc hội soạn thảo, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Viện nghiên cứu lập pháp có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến theo quy định tại Điều này.Điều 58. Thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết do Chính phủ trình1. Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước khi trình Chính phủ.Đối với dự án, dự thảo có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập hội đồng thẩm định, bao gồm đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học.2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:a) Tờ trình Chính phủ về dự án, dự thảo;b) Dự thảo văn bản;c) Bản đánh giá thủ tục hành chính trong dự án, dự thảo văn bản, nếu trong dự án, dự thảo văn bản có quy định thủ tục hành chính;d) Báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án, dự thảo, nếu trong dự án, dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;đ) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; bản chụp ý kiến góp ý của các bộ, cơ quan ngang bộ;e) Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.3. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:a) Sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với mục đích, yêu cầu, phạm vi điều chỉnh, chính sách trong đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh đã được thông qua;b) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật; tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;c) Sự cần thiết, tính hợp lý và chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo văn bản, nếu trong dự thảo văn bản có quy định thủ tục hành chính;d) Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành văn bản quy phạm pháp luật;đ) Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo văn bản, nếu trong dự thảo văn bản có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;e) Ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.Trong trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo về những vấn đề liên quan đến nội dung dự án, dự thảo.4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3 Điều này và ý kiến về việc dự án, dự thảo đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ. Trong trường hợp Bộ Tư pháp kết luận dự án, dự thảo chưa đủ điều kiện trình Chính phủ thì trả lại hồ sơ cho cơ quan chủ trì soạn thảo để tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo.Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo và đồng thời gửi báo cáo giải trình tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản đã được chỉnh lý đến cơ quan thẩm định khi trình Chính phủ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết.Điều 59. Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình Chính phủ1. Tờ trình Chính phủ về dự án, dự thảo.2. Dự thảo văn bản.3. Báo cáo thẩm định; báo cáo giải trình tiếp thu ý kiến thẩm định.4. Bản đánh giá thủ tục hành chính trong dự án, dự thảo, nếu trong dự án, dự thảo có thủ tục hành chính.5. Báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án, dự thảo, nếu trong dự án, dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới.6. Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý.7. Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.Điều 60. Chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trước khi trình Chính phủTrong trường hợp còn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan ngang bộ về dự án, dự thảo nghị quyết thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ triệu tập cuộc họp gồm đại diện lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan để thống nhất ý kiến trước khi trình Chính phủ xem xét, quyết định. Căn cứ vào ý kiến tại cuộc họp này, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với các cơ quan có liên quan tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo để trình Chính phủ.Điều 61. Chính phủ xem xét, quyết định việc trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết1. Chính phủ xem xét, thảo luận tập thể, biểu quyết theo đa số để quyết định việc trình dự án, dự thảo tại phiên họp của Chính phủ theo trình tự, thủ tục sau đây:a) Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình về dự án, dự thảo; việc giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan thẩm định;b) Đại diện cơ quan thẩm định phát biểu ý kiến về việc cơ quan chủ trì soạn thảo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;c) Đại diện Văn phòng Chính phủ trình bày những vấn đề còn có ý kiến khác nhau về dự án, dự thảo;d) Chính phủ thảo luận;đ) Chính phủ biểu quyết về việc trình dự án, dự thảo.2. Trong trường hợp Chính phủ không thông qua việc trình dự án, dự thảo thì Thủ tướng Chính phủ ấn định thời gian xem xét lại dự án, dự thảo.Điều 62. Chính phủ cho ý kiến đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết không do Chính phủ trình1. Đối với dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết không do Chính phủ trình, thì trước khi trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết phải gửi các tài liệu sau đây để Chính phủ cho ý kiến:a) Tờ trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội về dự án, dự thảo;b) Dự thảo văn bản;c) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; bản chụp ý kiến góp ý;d) Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.2. Chính phủ có trách nhiệm xem xét, trả lời bằng văn bản trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị và thể hiện rõ ý kiến của Chính phủ về dự án, dự thảo đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội.3. Bộ, cơ quan ngang bộ được Thủ tướng Chính phủ phân công chuẩn bị ý kiến, chủ trì phối hợp với Bộ Tư pháp dự kiến những nội dung cần cho ý kiến, trình Chính phủ xem xét, quyết định.Mục 3. THẨM TRA DỰ ÁN LUẬT, PHÁP LỆNH, DỰ THẢO NGHỊ QUYẾTĐiều 63. Thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội về dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết1. Dự án, dự thảo trước khi trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận, cho ý kiến phải được Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra (sau đây gọi chung là cơ quan thẩm tra).Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm chủ trì thẩm tra dự án, dự thảo thuộc lĩnh vực do mình phụ trách và dự án, dự thảo khác do Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao; tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra theo sự phân công của Ủy ban thường vụ Quốc hội.2. Cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm mời đại diện Thường trực Ủy ban pháp luật, Thường trực Ủy ban về các vấn đề xã hội và đại diện cơ quan khác được phân công tham gia thẩm tra tham dự phiên họp thẩm tra để phát biểu ý kiến về những nội dung của dự án, dự thảo liên quan đến lĩnh vực do cơ quan đó phụ trách và những vấn đề khác thuộc nội dung của dự án, dự thảo.3. Cơ quan chủ trì thẩm tra có thể mời đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học và đại diện các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản tham dự cuộc họp do mình tổ chức để phát biểu ý kiến về những vấn đề liên quan đến nội dung của dự án, dự thảo.4. Cơ quan thẩm tra có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu về những vấn đề liên quan đến nội dung của dự án, dự thảo; tự mình hoặc cùng cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo tổ chức hội thảo, khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự án, dự thảo.Cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu và đáp ứng các yêu cầu khác của cơ quan thẩm tra.Điều 64. Hồ sơ và thời hạn gửi hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết để thẩm tra1. Hồ sơ dự án, dự thảo để thẩm tra bao gồm:a) Tờ trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội về dự án, dự thảo;b) Dự thảo văn bản;c) Báo cáo thẩm định đối với dự án, dự thảo do Chính phủ trình; ý kiến của Chính phủ đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình; bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến góp ý; bản chụp ý kiến góp ý;d) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự án, dự thảo; báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong dự án, dự thảo;đ) Báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án, dự thảo, nếu trong dự án, dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;e) Dự thảo văn bản quy định chi tiết và tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.2. Đối với dự án, dự thảo trình Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chậm nhất là 20 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra, Ủy ban pháp luật, Ủy ban về các vấn đề xã hội và cơ quan khác tham gia thẩm tra để tiến hành thẩm tra.Đối với dự án, dự thảo trình Quốc hội thì chậm nhất là 30 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra, Ủy ban pháp luật, Ủy ban về các vấn đề xã hội và cơ quan khác tham gia thẩm tra để tiến hành thẩm tra.3. Cơ quan thẩm tra không tiến hành thẩm tra dự án, dự thảo khi chưa đủ các tài liệu trong hồ sơ hoặc hồ sơ gửi không đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.Điều 65. Nội dung thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyếtNội dung thẩm tra tập trung vào các vấn đề sau đây:1. Phạm vi, đối tượng điều chỉnh của văn bản.2. Nội dung của dự thảo văn bản và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; việc giao và chuẩn bị văn bản quy định chi tiết (nếu có).3. Sự phù hợp của nội dung dự thảo văn bản với chủ trương, đường lối của Đảng; tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật; tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.4. Tính khả thi của các quy định trong dự thảo văn bản.5. Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành văn bản quy phạm pháp luật.6. Việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo văn bản, nếu dự thảo văn bản có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới.7. Ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.Trong trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm tra yêu cầu cơ quan trình dự án, dự thảo báo cáo về những vấn đề liên quan đến nội dung dự án, dự thảo.Điều 66. Phương thức thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết1. Cơ quan chủ trì thẩm tra phải tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra; đối với dự án, dự thảo trình Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội thì có thể tổ chức phiên họp Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban để thẩm tra sơ bộ.2. Cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm mời cơ quan tham gia thẩm tra hoặc Thường trực cơ quan tham gia thẩm tra tham dự phiên họp thẩm tra.Điều 67. Báo cáo thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết1. Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra quy định tại Điều 65 của Luật này, đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung.2. Báo cáo thẩm tra phải phản ánh đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan chủ trì thẩm tra, ý kiến của cơ quan tham gia thẩm tra về nội dung dự án, dự thảo; về việc dự án, dự thảo đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội.Trong trường hợp cơ quan chủ trì thẩm tra có ý kiến dự án, dự thảo chưa đủ điều kiện trình Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội thì báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét trả lại hồ sơ cho cơ quan trình dự án, dự thảo để tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo.Điều 68. Trách nhiệm của Ủy ban pháp luật trong việc thẩm tra để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết với hệ thống pháp luật1. Ủy ban pháp luật có trách nhiệm tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự án, dự thảo với hệ thống pháp luật.2. Ủy ban pháp luật tổ chức phiên họp Thường trực Ủy ban hoặc phiên họp toàn thể Ủy ban để chuẩn bị ý kiến tham gia thẩm tra và cử đại diện Ủy ban tham dự phiên họp thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra.3. Nội dung thẩm tra để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự án, dự thảo với hệ thống pháp luật bao gồm:a) Sự phù hợp của quy định trong dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội với quy định của Hiến pháp; sự phù hợp của quy định trong dự thảo pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;b) Sự thống nhất về nội dung giữa quy định trong dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội với luật, nghị quyết của Quốc hội; giữa quy định trong dự thảo pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; giữa các quy định trong dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; sự thống nhất về kỹ thuật văn bản.Điều 69. Trách nhiệm của Ủy ban về các vấn đề xã hội trong việc thẩm tra việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết1. Ủy ban về các vấn đề xã hội có trách nhiệm tham gia thẩm tra dự án, dự thảo do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra để bảo đảm việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới khi dự án, dự thảo đó có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới.2. Ủy ban về các vấn đề xã hội tổ chức phiên họp Thường trực Ủy ban hoặc phiên họp toàn thể Ủy ban để chuẩn bị ý kiến tham gia thẩm tra và cử đại diện Ủy ban tham dự phiên họp thẩm tra của cơ quan chủ trì thẩm tra.3. Nội dung thẩm tra việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới bao gồm:a) Xác định vấn đề giới trong dự án, dự thảo;b) Việc bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong dự án, dự thảo;c) Việc tuân thủ trình tự, thủ tục đánh giá việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án, dự thảo;d) Tính khả thi của các quy định trong dự án, dự thảo để bảo đảm bình đẳng giới.Mục 4. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI XEM XÉT, CHO Ý KIẾN VỀ DỰ ÁN LUẬT, DỰ THẢO NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘIĐiều 70. Thời hạn gửi tài liệu cho Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hộiChậm nhất là 07 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều 64 của Luật này đến Ủy ban thường vụ Quốc hội để cho ý kiến.Dự thảo văn bản, tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự án, dự thảo được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội.Điều 71. Trình tự Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội1. Tùy theo tính chất và nội dung của dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể xem xét, cho ý kiến một lần hoặc nhiều lần.2. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến theo trình tự sau đây:a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo thuyết trình về nội dung cơ bản của dự án, dự thảo.Đại diện Chính phủ phát biểu ý kiến về dự án, dự thảo không do Chính phủ trình;b) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra, kiến nghị những vấn đề trình ra Quốc hội tập trung thảo luận;c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;d) Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận;đ) Chủ tọa phiên họp kết luận.Điều 72. Tiếp thu, chỉnh lý dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội theo ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội1. Trên cơ sở ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý dự án, dự thảo.Đối với dự án, dự thảo do Chính phủ trình thì người được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền trình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp tổ chức nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý dự án, dự thảo, trừ trường hợp cần báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.2. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, dự thảo nghị quyết có ý kiến khác với ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.Mục 5. THẢO LUẬN, TIẾP THU, CHỈNH LÝ VÀ THÔNG QUA DỰ ÁN LUẬT, PHÁP LỆNH, DỰ THẢO NGHỊ QUYẾTĐiều 73. Xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết1. Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một hoặc hai kỳ họp Quốc hội; trường hợp dự án luật lớn, nhiều điều, khoản có tính chất phức tạp thì Quốc hội có thể xem xét, thông qua tại ba kỳ họp.Chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, hồ sơ dự án, dự thảo trình Quốc hội phải được gửi đến các đại biểu Quốc hội.2. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại một hoặc hai phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội.Chậm nhất là 20 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, hồ sơ dự án, dự thảo phải được gửi đến các thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội.3. Hồ sơ dự án, dự thảo trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội bao gồm các tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 64 của Luật này và báo cáo thẩm tra về dự án, dự thảo.Tờ trình, dự thảo văn bản và báo cáo thẩm tra về dự án, dự thảo được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.Điều 74. Trình tự xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một kỳ họp Quốc hộiQuốc hội xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại một kỳ họp Quốc hội theo trình tự sau đây:1. Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự thảo.2. Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra.3. Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về những nội dung cơ bản, những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo. Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự án, dự thảo có thể được thảo luận ở Tổ đại biểu Quốc hội.4. Trong quá trình thảo luận, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo giải trình về những vấn đề liên quan đến dự án, dự thảo mà đại biểu Quốc hội nêu.5. Đối với những vấn đề quan trọng, những vấn đề lớn của dự án, dự thảo còn có ý kiến khác nhau thì Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Tổng thư ký Quốc hội và cơ quan, tổ chức có liên quan giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến những vấn đề quan trọng, những vấn đề lớn của dự án, dự thảo còn có ý kiến khác nhau trình Quốc hội biểu quyết.6. Sau khi dự án, dự thảo được các đại biểu Quốc hội thảo luận, cho ý kiến, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo trình tự sau đây:a) Cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và xây dựng báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo trình Ủy ban thường vụ Quốc hội;b) Chậm nhất là 07 ngày trước ngày Quốc hội biểu quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Ủy ban pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản. Thường trực Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức việc rà soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật.7. Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo.Trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác hoặc Chính phủ có ý kiến khác đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình thì Chính phủ, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.8. Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến khác nhau thì Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội trước khi biểu quyết thông qua dự thảo.9. Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội.Trong trường hợp dự thảo chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì Quốc hội xem xét, quyết định việc trình lại hoặc xem xét, thông qua tại kỳ họp tiếp theo theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Điều 75. Trình tự xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại hai kỳ họp Quốc hộiQuốc hội xem xét, thông qua dự án luật, dự thảo nghị quyết tại hai kỳ họp theo trình tự sau đây:1. Tại kỳ họp thứ nhất:a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự thảo;b) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;c) Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về những nội dung cơ bản, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo. Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự án, dự thảo có thể được thảo luận ở Tổ đại biểu Quốc hội.Trong quá trình thảo luận, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có trách nhiệm giải trình về những vấn đề liên quan đến dự án, dự thảo mà đại biểu Quốc hội nêu;d) Đối với những vấn đề quan trọng, những vấn đề lớn của dự án, dự thảo còn có ý kiến khác nhau thì Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Tổng thư ký Quốc hội và cơ quan, tổ chức có liên quan giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến những vấn đề quan trọng, những vấn đề lớn của dự án, dự thảo còn có ý kiến khác nhau trình Quốc hội biểu quyết;đ) Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Tổng thư ký Quốc hội tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội và kết quả biểu quyết làm cơ sở cho việc chỉnh lý.2. Trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo trình tự sau đây:a) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và xây dựng dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo. Cơ quan chủ trì thẩm tra tổ chức phiên họp có sự tham gia của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan để thảo luận về dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và dự thảo văn bản đã được chỉnh lý;b) Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thảo luận về dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và dự thảo văn bản đã được chỉnh lý; trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác với ý kiến của cơ quan thẩm tra trong việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo thì đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định;c) Ủy ban thường vụ Quốc hội gửi dự thảo đã được chỉnh lý và báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo đến Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội chậm nhất là 45 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm tổ chức thảo luận, góp ý kiến và gửi báo cáo tổng hợp ý kiến đến cơ quan chủ trì thẩm tra chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội;d) Cơ quan chủ trì thẩm tra tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội để phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và hoàn thiện báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo trình Ủy ban thường vụ Quốc hội.3. Tại kỳ họp thứ hai:a) Đại diện Ủy ban thường vụ Quốc hội trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo.Trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác hoặc Chính phủ có ý kiến khác đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình thì Chính phủ, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định;b) Quốc hội thảo luận về những nội dung còn có ý kiến khác nhau của dự án, dự thảo;c) Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;d) Chậm nhất là 07 ngày trước ngày biểu quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Ủy ban pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản. Thường trực Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức việc rà soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật;đ) Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến khác nhau thì Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;e) Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội.Trong trường hợp dự thảo chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì Quốc hội xem xét, quyết định việc trình lại hoặc xem xét, thông qua tại kỳ họp tiếp theo theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Điều 76. Trình tự xem xét, thông qua dự án luật tại ba kỳ họp Quốc hộiQuốc hội xem xét, thông qua dự án luật tại ba kỳ họp theo trình tự sau đây:1. Tại kỳ họp thứ nhất, trình tự xem xét, thảo luận dự án luật được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 75 của Luật này;2. Trong thời gian giữa kỳ họp thứ nhất và kỳ họp thứ hai của Quốc hội, việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật được thực hiện theo trình tự sau đây:a) Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật chủ trì, phối hợp với cơ quan chủ trì thẩm tra, Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật và xây dựng dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật;b) Tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về dự án luật theo quyết định của Ủy ban thường vụ Quốc hội (nếu có);c) Cơ quan chủ trì thẩm tra tổ chức thẩm tra dự án luật đã được chỉnh lý;d) Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về việc chỉnh lý dự thảo luật theo trình tự quy định tại Điều 71 của Luật này. Trên cơ sở ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý dự thảo luật theo quy định tại Điều 72 của Luật này.3. Tại kỳ họp thứ hai:a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật trình bày báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật; kết quả lấy ý kiến Nhân dân về dự án luật (nếu có);b) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra dự án luật đã được chỉnh lý;c) Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về dự án luật. Trước khi thảo luận tại phiên họp toàn thể, dự án luật có thể được thảo luận ở Tổ đại biểu Quốc hội.Trong quá trình thảo luận, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật có trách nhiệm giải trình về những vấn đề liên quan đến dự án mà đại biểu Quốc hội nêu;d) Đối với những vấn đề quan trọng, những vấn đề lớn của dự án luật còn có ý kiến khác nhau thì Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, Tổng thư ký Quốc hội và cơ quan, tổ chức có liên quan giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án luật trình Quốc hội biểu quyết;đ) Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Tổng thư ký Quốc hội tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội và kết quả biểu quyết làm cơ sở cho việc chỉnh lý.4. Trong thời gian giữa kỳ họp thứ hai và kỳ họp thứ ba của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật theo trình tự sau đây:a) Cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật và xây dựng dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật. Cơ quan chủ trì thẩm tra tổ chức phiên họp có sự tham gia của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan để thảo luận về dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và dự thảo luật đã được chỉnh lý;b) Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thảo luận về dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và dự thảo luật đã được chỉnh lý; trong trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật có ý kiến khác với ý kiến của cơ quan thẩm tra trong việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo thì đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định;c) Ủy ban thường vụ Quốc hội gửi dự thảo luật đã được chỉnh lý và dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo đến Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội chậm nhất là 45 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.Đoàn đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm tổ chức thảo luận, góp ý kiến và gửi báo cáo tổng hợp ý kiến đến cơ quan chủ trì thẩm tra chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội;d) Cơ quan chủ trì thẩm tra tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội để phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật và hoàn thiện báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo trình Ủy ban thường vụ Quốc hội.5. Tại kỳ họp thứ ba, trình tự xem xét, thông qua dự thảo luật được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 75 của Luật này.Trong trường hợp dự thảo luật chưa được thông qua hoặc mới được thông qua một phần thì Quốc hội xem xét, quyết định theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Điều 77. Trình tự xem xét, thông qua dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội1. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại một phiên họp theo trình tự sau đây:a) Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo thuyết trình về dự án, dự thảo;b) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;d) Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận, chủ tọa phiên họp kết luận;đ) Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo. Cơ quan chủ trì thẩm tra tổ chức phiên họp có sự tham gia của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan để thảo luận về dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và dự thảo văn bản đã được chỉnh lý;e) Chậm nhất là 07 ngày trước ngày biểu quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Ủy ban pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản. Thường trực Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức việc rà soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật;g) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo.Trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác hoặc Chính phủ có ý kiến khác đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình thì Chính phủ, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định;h) Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến khác nhau thì Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết về những vấn đề đó theo đề nghị của chủ tọa phiên họp trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;i) Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.2. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết tại hai phiên họp theo trình tự sau đây:a) Tại phiên họp thứ nhất, việc trình và thảo luận được thực hiện theo trình tự quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này. Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận, biểu quyết những vấn đề quan trọng, những vấn đề lớn của dự án, dự thảo theo đề nghị của cơ quan chủ trì thẩm tra để làm cơ sở cho việc chỉnh lý;b) Trong thời gian giữa hai phiên họp, cơ quan chủ trì thẩm tra chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Thường trực Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo sự chỉ đạo của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Cơ quan chủ trì thẩm tra tổ chức phiên họp có sự tham gia của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo, Ủy ban pháp luật, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức có liên quan để thảo luận về dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý và dự thảo văn bản đã được chỉnh lý;c) Chậm nhất là 05 ngày trước ngày biểu quyết thông qua, dự thảo được gửi đến Thường trực Ủy ban pháp luật để rà soát, hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản. Thường trực Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp với Thường trực cơ quan chủ trì thẩm tra, đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo tổ chức việc rà soát để bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo với hệ thống pháp luật;d) Tại phiên họp thứ hai, đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc chỉnh lý dự thảo.Trường hợp cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án, dự thảo có ý kiến khác hoặc Chính phủ có ý kiến khác đối với dự án, dự thảo không do Chính phủ trình thì Chính phủ, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định;đ) Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo. Trong trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến khác nhau thì Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết về vấn đề đó theo đề nghị của chủ tọa phiên họp trước khi biểu quyết thông qua dự thảo;e) Chủ tịch Quốc hội ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Điều 78. Hồ sơ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua1. Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo.2. Dự thảo đã được chỉnh lý.Điều 79. Ngày thông qua luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hộiNgày thông qua luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội là ngày Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết thông qua luật, pháp lệnh, nghị quyết đó.Mục 6. CÔNG BỐ LUẬT, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾTĐiều 80. Công bố luật, pháp lệnh, nghị quyết1. Chủ tịch nước công bố luật, pháp lệnh chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được thông qua.Đối với pháp lệnh đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua mà Chủ tịch nước đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét lại theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Hiến pháp thì chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, Chủ tịch nước gửi văn bản đến Ủy ban thường vụ Quốc hội yêu cầu xem xét lại. Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm xem xét lại những vấn đề mà Chủ tịch nước có ý kiến tại phiên họp gần nhất. Sau khi pháp lệnh được Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết, thông qua lại thì Chủ tịch nước công bố chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua lại. Trong trường hợp Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất.Đối với luật, pháp lệnh được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì Chủ tịch nước công bố luật, pháp lệnh chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày luật, pháp lệnh được thông qua.2. Tổng thư ký Quốc hội công bố nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nghị quyết được thông qua.Đối với nghị quyết được xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì Tổng thư ký Quốc hội công bố nghị quyết chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày nghị quyết được thông qua.Chương IVXÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHỦ TỊCH NƯỚCĐiều 81. Xây dựng, ban hành lệnh, quyết định của Chủ tịch nước1. Chủ tịch nước tự mình hoặc theo đề nghị của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định cơ quan soạn thảo dự thảo lệnh, quyết định.2. Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức soạn thảo lệnh, quyết định.3. Chủ tịch nước có thể yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo thảo luận về những vấn đề quan trọng của dự thảo lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.4. Tùy theo nội dung của dự thảo lệnh, quyết định, Chủ tịch nước quyết định việc đăng tải toàn văn trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo. Việc đăng tải dự thảo lệnh, quyết định phải bảo đảm thời gian ít nhất là 60 ngày, trừ trường hợp văn bản được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn, để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân để chỉnh lý dự thảo lệnh, quyết định và báo cáo Chủ tịch nước.6. Chủ tịch nước xem xét, ký ban hành lệnh, quyết định.Chương VXÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA CHÍNH PHỦ, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ, BỘ TRƯỞNG, THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN NGANG BỘMục 1. LẬP DANH MỤC VĂN BẢN QUY ĐỊNH CHI TIẾT LUẬT, NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI, PHÁP LỆNH, NGHỊ QUYẾT CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI, LỆNH, QUYẾT ĐỊNH CỦA CHỦ TỊCH NƯỚCĐiều 82. Trách nhiệm lập danh mục văn bản quy định chi tiết1. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo lập danh mục văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được giao ban hành.2. Danh mục văn bản quy định chi tiết do Thủ tướng Chính phủ ban hành gồm nghị định của Chính phủ, nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, trong đó nêu rõ tên văn bản, cơ quan ban hành văn bản, căn cứ ban hành, nội dung chính của văn bản, dự kiến thời gian ban hành.Điều 83. Triển khai xây dựng văn bản quy định chi tiết1. Bộ Tư pháp theo dõi, đôn đốc việc ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; định kỳ hàng quý và hàng năm báo cáo Chính phủ.2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm xây dựng, ban hành văn bản theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước trong danh mục văn bản quy định chi tiết; định kỳ hàng quý và hàng năm báo cáo tiến độ, tình hình ban hành văn bản quy định chi tiết với Bộ Tư pháp để theo dõi, tổng hợp báo cáo Chính phủ.Mục 2. XÂY DỰNG, BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNHĐiều 84. Đề nghị xây dựng nghị định1. Đề nghị xây dựng nghị định được áp dụng đối với việc xây dựng, ban hành nghị định quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Luật này.2. Bộ, cơ quan ngang bộ tự mình hoặc theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân chuẩn bị đề nghị xây dựng nghị định thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.3. Đề nghị xây dựng nghị định được xây dựng trên các căn cứ sau đây:a) Đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;b) Chương trình hành động của Chính phủ; yêu cầu quản lý, điều hành của Chính phủ cần phải điều chỉnh bằng nghị định;c) Kết quả nghiên cứu, tổng kết lý luận và thực tiễn;d) Cam kết trong điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.Điều 85. Trách nhiệm của cơ quan đề nghị xây dựng nghị định1. Tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến đề nghị xây dựng nghị định; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến đề nghị xây dựng nghị định.Trong trường hợp cần thiết, đề nghị cơ quan, tổ chức có liên quan tổng kết, đánh giá việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực do cơ quan, tổ chức đó phụ trách có liên quan đến đề nghị xây dựng nghị định.2. Tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có liên quan đến đề nghị xây dựng nghị định. Trong trường hợp cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến đề nghị xây dựng nghị định.3. Xây dựng nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định; đánh giá tác động của chính sách; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị định sau khi được Chính phủ thông qua.4. Chuẩn bị hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định theo quy định tại Điều 87 của Luật này.5. Tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan về đề nghị xây dựng nghị định; tổng hợp, nghiên cứu, giải trình tiếp thu các ý kiến góp ý.Điều 86. Lấy ý kiến đối với đề nghị xây dựng nghị địnhCơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định có trách nhiệm sau đây:1. Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định và cơ quan, tổ chức có liên quan; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và của cơ quan đề nghị xây dựng nghị định trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.Đối với trường hợp lấy ý kiến bằng văn bản, tùy theo tính chất, nội dung của đề nghị xây dựng nghị định, cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định gửi văn bản lấy ý kiến các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến.Bộ Tài chính có trách nhiệm góp ý kiến về nguồn tài chính, Bộ Nội vụ có trách nhiệm góp ý kiến về nguồn nhân lực, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm góp ý kiến về tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Bộ Tư pháp có trách nhiệm góp ý kiến về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của đề nghị xây dựng nghị định với hệ thống pháp luật.2. Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định có thể tổ chức lấy ý kiến trực tiếp, tổ chức hội thảo, tọa đàm để lấy ý kiến về các chính sách dự kiến trong đề nghị xây dựng nghị định.3. Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý; đăng tải báo cáo giải trình, tiếp thu trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và của cơ quan đề nghị xây dựng nghị định.Điều 87. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định1. Tờ trình đề nghị xây dựng nghị định, trong đó phải nêu rõ sự cần thiết ban hành nghị định; mục đích, quan điểm xây dựng nghị định; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị định; mục tiêu, nội dung chính sách trong nghị định, các giải pháp để thực hiện chính sách đã được lựa chọn và lý do của việc lựa chọn; thời gian dự kiến đề nghị Chính phủ xem xét, thông qua; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm việc thi hành nghị định.2. Nội dung đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định, trong đó phải nêu rõ vấn đề cần giải quyết; mục tiêu ban hành chính sách; các giải pháp để thực hiện chính sách; các tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ chức và lý do của việc lựa chọn; đánh giá tác động của thủ tục hành chính, đánh giá tác động về giới (nếu có).3. Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng các vấn đề liên quan đến chính sách.4. Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý; bản chụp ý kiến góp ý.5. Đề cương dự thảo nghị định.6. Tài liệu khác (nếu có).Điều 88. Thẩm định đề nghị xây dựng nghị định1. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao và các cơ quan, tổ chức có liên quan thẩm định đề nghị xây dựng nghị định.2. Hồ sơ thẩm định gửi đến Bộ Tư pháp gồm các tài liệu quy định tại Điều 87 của Luật này.Tài liệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 87 của Luật này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.3. Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định đề nghị xây dựng nghị định trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:a) Sự cần thiết ban hành nghị định; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị định;b) Sự phù hợp của nội dung chính sách với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;c) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của chính sách với hệ thống pháp luật, tính khả thi của nội dung chính sách và các giải pháp thực hiện chính sách dự kiến trong đề nghị xây dựng nghị định;d) Tính tương thích của nội dung chính sách và các giải pháp thực hiện chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;đ) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định, nếu chính sách liên quan đến thủ tục hành chính; việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong đề nghị xây dựng nghị định, nếu chính sách liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;e) Việc tuân thủ trình tự, thủ tục lập đề nghị xây dựng nghị định.4. Bộ Tư pháp kết luận về việc hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định đủ điều kiện trình Chính phủ, hồ sơ cần tiếp tục hoàn thiện, hồ sơ không đủ điều kiện trình Chính phủ.5. Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc thẩm định. Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị định có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định trình Chính phủ.Điều 89. Chính phủ xem xét, thông qua đề nghị xây dựng nghị định1. Bộ, cơ quan ngang bộ trình Chính phủ đề nghị xây dựng nghị định.2. Hồ sơ trình Chính phủ bao gồm:a) Các tài liệu quy định tại Điều 87 của Luật này đã được chỉnh lý; b) Báo cáo thẩm định; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định; c) Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 87 của Luật này và tài liệu quy định tại điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.3. Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ đề nghị xây dựng nghị định của các bộ, cơ quan ngang bộ và đề xuất đưa các đề nghị xây dựng nghị định vào thảo luận tại các phiên họp của Chính phủ.4. Chính phủ xem xét, thông qua đề nghị xây dựng nghị định tại phiên họp của Chính phủ theo trình tự sau đây:a) Đại diện bộ, cơ quan ngang bộ trình bày tờ trình đề nghị xây dựng nghị định;b) Đại diện Bộ Tư pháp trình bày báo cáo thẩm định;c) Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;d) Chính phủ thảo luận;đ) Chính phủ biểu quyết thông qua đề nghị xây dựng nghị định.5. Trên cơ sở thảo luận, thông qua đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ, Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, cơ quan đề nghị xây dựng nghị định soạn thảo nghị quyết về đề nghị xây dựng nghị định của Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét và ký ban hành.Điều 90. Nhiệm vụ của cơ quan chủ trì soạn thảo nghị định1. Cơ quan chủ trì soạn thảo nghị định chịu trách nhiệm trước Chính phủ về nội dung, chất lượng và tiến độ soạn thảo nghị định.2. Cơ quan chủ trì soạn thảo nghị định có nhiệm vụ sau đây:a) Tổ chức xây dựng dự thảo nghị định trên cơ sở các chính sách đã được Chính phủ thông qua đối với nghị định quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Luật này; bảo đảm tính thống nhất của văn bản quy định chi tiết với các quy định của văn bản được quy định chi tiết. Trong trường hợp quy định cụ thể các chính sách đã được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước thì phải đánh giá tác động chính sách đối với nghị định quy định tạikhoản 1 Điều 19 của Luật này;b) Trong trường hợp cần thiết, bộ, cơ quan ngang bộ có thể thành lập Ban soạn thảo. Ban soạn thảo gồm Trưởng ban là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo và các thành viên khác là đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học am hiểu các vấn đề chuyên môn thuộc nội dung của dự thảo nghị định và có điều kiện tham gia đầy đủ các hoạt động của Ban soạn thảo; bảo đảm điều kiện hoạt động của Ban soạn thảo;c) Tổ chức lấy ý kiến, nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo; xây dựng tờ trình, báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý về dự thảo và đăng tải các tài liệu này trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo.Điều 91. Lấy ý kiến đối với dự thảo nghị địnhTrong quá trình soạn thảo nghị định, cơ quan chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 57 của Luật này.Điều 92. Thẩm định dự thảo nghị định1. Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo nghị định trước khi trình Chính phủ.Đối với dự thảo nghị định có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập hội đồng thẩm định, bao gồm đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học.2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:a) Tờ trình Chính phủ về dự thảo nghị định;b) Dự thảo nghị định;c) Báo cáo tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; bản chụp ý kiến của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;d) Bản đánh giá thủ tục hành chính trong dự thảo, nếu trong dự thảo có quy định thủ tục hành chính; báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, nếu trong dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;đ) Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.3. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:a) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo nghị định với hệ thống pháp luật; tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị định với văn bản được quy định chi tiết đối với nghị định quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này; sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị định với các chính sách đã được thông qua trong đề nghị xây dựng nghị định đối với nghị định quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Luật này;c) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo nghị định, nếu trong dự thảo nghị định có quy định thủ tục hành chính; việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo nghị định, nếu trong dự thảo nghị định có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;d) Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành nghị định;đ) Ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.4. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề thuộc nội dung dự thảo nghị định; tự mình hoặc cùng cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo nghị định. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc thẩm định dự thảo nghị định.5. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3 Điều này và ý kiến về việc dự thảo đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ.Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời hạn chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày cơ quan thẩm định nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.6. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo nghị định và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản đã được chỉnh lý đến cơ quan thẩm định khi trình Chính phủ dự thảo nghị định.Điều 93. Hồ sơ dự thảo nghị định trình Chính phủ1. Tờ trình Chính phủ về dự thảo nghị định.2. Dự thảo nghị định.3. Báo cáo thẩm định; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.4. Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị định.5. Bản đánh giá thủ tục hành chính trong dự thảo, nếu trong dự thảo có quy định thủ tục hành chính; báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo, nếu trong dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới.6. Nghị quyết của Chính phủ thông qua các chính sách trong đề nghị xây dựng nghị định đối với nghị định quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 19 của Luật này.7. Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.Điều 94. Chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo nghị định trước khi trình Chính phủTrong trường hợp còn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về những vấn đề lớn thuộc nội dung của dự thảo nghị định thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ tổ chức cuộc họp gồm đại diện lãnh đạo của cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan để thảo luận trước khi trình Chính phủ xem xét, quyết định. Căn cứ vào ý kiến tại cuộc họp này, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với các cơ quan có liên quan tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo để trình Chính phủ.Điều 95. Xin ý kiến Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc ban hành nghị định1. Đối với nghị định quy định tại khoản 3 Điều 19 của Luật này, trước khi ban hành, Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến.2. Hồ sơ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội bao gồm:a) Tờ trình của Chính phủ về việc ban hành nghị định, trong đó nêu rõ sự cần thiết ban hành; các chính sách cơ bản và nội dung chính của dự thảo; phạm vi, đối tượng điều chỉnh của văn bản; những vấn đề cần xin ý kiến và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau;b) Dự thảo nghị định;c) Báo cáo đánh giá tác động của văn bản;d) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự thảo;đ) Báo cáo thẩm định, báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;e) Tài liệu khác (nếu có).3. Dự thảo nghị định phải được Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra trước khi Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến.4. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến, quyết định việc cho phép ban hành nghị định.5. Chính phủ có trách nhiệm tiếp thu ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Điều 96. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị địnhChính phủ xem xét, thông qua dự thảo nghị định theo trình tự sau đây:1. Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình về dự thảo nghị định.2. Đại diện Bộ Tư pháp phát biểu về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.3. Đại diện Văn phòng Chính phủ nêu những vấn đề cần thảo luận.4. Đại diện cơ quan, tổ chức tham dự phiên họp phát biểu ý kiến.5. Chính phủ thảo luận.Cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan chỉnh lý dự thảo nghị định theo ý kiến của Chính phủ.6. Chính phủ biểu quyết thông qua dự thảo nghị định.Trong trường hợp dự thảo nghị định chưa được thông qua thì Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo những vấn đề cần phải chỉnh lý và ấn định thời gian trình lại dự thảo, đồng thời giao cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện dự thảo để trình Chính phủ xem xét, thông qua.7. Thủ tướng Chính phủ ký nghị định.Mục 3. XÂY DỰNG, BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦĐiều 97. Nhiệm vụ của cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ1. Bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ.2. Cơ quan được giao chủ trì soạn thảo có nhiệm vụ sau đây:a) Tổ chức tổng kết việc thi hành pháp luật; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội; nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;b) Đánh giá tác động của từng chính sách trong dự thảo quyết định, trong đó phải nêu rõ vấn đề cần giải quyết; mục tiêu của chính sách; giải pháp để thực hiện chính sách; tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan và lý do của việc lựa chọn; đánh giá tác động thủ tục hành chính, tác động về giới (nếu có);c) Tổ chức soạn thảo dự thảo quyết định với sự tham gia của đại diện Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan, tổ chức có liên quan; có thể huy động sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học có đủ điều kiện và năng lực vào quá trình soạn thảo;d) Lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của các chính sách trong dự thảo quyết định và cơ quan, tổ chức có liên quan; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn dự thảo quyết định trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo dự thảo quyết định trong thời hạn ít nhất là 60 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.Đối với trường hợp lấy ý kiến bằng văn bản, tùy theo tính chất, nội dung của dự thảo quyết định, cơ quan chủ trì soạn thảo gửi văn bản lấy ý kiến các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Cơ quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến.Bộ Tài chính có trách nhiệm góp ý kiến về nguồn tài chính, Bộ Nội vụ có trách nhiệm góp ý kiến về nguồn nhân lực, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm góp ý kiến về tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Bộ Tư pháp có trách nhiệm góp ý kiến về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo quyết định với hệ thống pháp luật;đ) Tổng hợp, nghiên cứu, giải trình, tiếp thu các ý kiến góp ý; đăng tải báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định.Điều 98. Thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ1. Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trước khi trình Thủ tướng Chính phủ.Đối với dự thảo quyết định có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập hội đồng thẩm định, bao gồm đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học.2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:a) Tờ trình Thủ tướng Chính phủ về dự thảo quyết định;b) Dự thảo quyết định;c) Báo cáo tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; bản chụp ý kiến của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;d) Bản đánh giá thủ tục hành chính, nếu trong dự thảo có quy định thủ tục hành chính; báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới, nếu trong dự thảo có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;đ) Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.3. Nội dung thẩm định tập trung vào các vấn đề sau đây:a) Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo quyết định; sự cần thiết ban hành quyết định đối với quyết định quy định tại Điều 20 của Luật này;b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo quyết định với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;c) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo quyết định với hệ thống pháp luật; tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;d) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo quyết định, nếu trong dự thảo quyết định có quy định liên quan đến thủ tục hành chính; việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo quyết định, nếu trong dự thảo quyết định có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;đ) Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để bảo đảm thi hành quyết định;e) Ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.4. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan thẩm định yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề thuộc nội dung dự thảo quyết định; tự mình hoặc cùng cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo quyết định. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc thẩm định dự thảo quyết định.5. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định tại khoản 1 Điều nàyvà ý kiến về việc dự thảo đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Thủ tướng Chính phủ.Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.6. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, giải trình tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo quyết định và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản đã được chỉnh lý đến cơ quan thẩm định khi trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo quyết định.Điều 99. Hồ sơ dự thảo quyết định trình Thủ tướng Chính phủ1. Tờ trình về dự thảo quyết định.2. Dự thảo quyết định đã được chỉnh lý sau khi có ý kiến thẩm định.3. Báo cáo thẩm định; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.4. Báo cáo đánh giá tác động của chính sách trong dự thảo quyết định.5. Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân.6. Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được gửi bằng bản giấy, các tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.Điều 100. Kiểm tra, xử lý hồ sơ, trình ký ban hành quyết định của Thủ tướng Chính phủ1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ dự thảo quyết định, Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ dự thảo quyết định. Trường hợp còn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về những vấn đề lớn thuộc nội dung của dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ tổ chức cuộc họp gồm đại diện lãnh đạo của cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, lãnh đạo của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan để giải quyết trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.Căn cứ vào ý kiến tại cuộc họp này, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với các cơ quan có liên quan tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo quyết định trình Thủ tướng Chính phủ.Trong trường hợp Thủ tướng Chính phủ có ý kiến về dự thảo quyết định thì cơ quan chủ trì soạn thảo chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo quyết định và trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành quyết định.2. Thủ tướng Chính phủ xem xét, ký ban hành quyết định.Mục 4. XÂY DỰNG, BAN HÀNH THÔNG TƯ CỦA BỘ TRƯỞNG, THỦ TRƯỞNG CƠ QUAN NGANG BỘĐiều 101. Soạn thảo thông tư1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chỉ đạo việc xây dựng, ban hành thông tư; phân công đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì phối hợp với tổ chức pháp chế trong trường hợp tổ chức pháp chế không chủ trì soạn thảo và các đơn vị có liên quan tổ chức soạn thảo thông tư.2. Trong quá trình soạn thảo thông tư, bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn dự thảo trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và cổng thông tin điện tử của bộ, cơ quan ngang bộ trong thời gian ít nhất là 60 ngày.Tùy theo tính chất và nội dung của dự thảo thông tư, bộ, cơ quan ngang bộ có thể lấy ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ khác, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức khác, các chuyên gia, nhà khoa học. Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến.3. Đơn vị được phân công soạn thảo chủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến, hoàn thiện dự thảo thông tư.Điều 102. Thẩm định dự thảo thông tư1. Tổ chức pháp chế thuộc bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm thẩm định dự thảo thông tư trước khi trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.Đối với thông tư có quy định ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của người dân, doanh nghiệp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoặc do tổ chức pháp chế chủ trì soạn thảo thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thành lập hội đồng tư vấn thẩm định có sự tham gia của cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học.2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm: a) Tờ trình về dự thảo thông tư; b) Dự thảo thông tư;c) Bản tổng hợp, giải trình tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo; bản chụp ý kiến góp ý;d) Báo cáo đánh giá tác động; bản đánh giá thủ tục hành chính trong trường hợp được luật giao quy định thủ tục hành chính; báo cáo về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu có);đ) Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.3. Nội dung thẩm định tập trung vào những vấn đề sau đây:a) Sự cần thiết ban hành thông tư; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của thông tư;b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo thông tư với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;c) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo thông tư với hệ thống pháp luật; tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;d) Sự cần thiết, tính hợp lý, chi phí tuân thủ các thủ tục hành chính trong dự thảo thông tư, nếu trong dự thảo thông tư có quy định thủ tục hành chính; việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự thảo thông tư, nếu trong dự thảo thông tư có quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới;đ) Điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, tài chính để thi hành thông tư;e) Ngôn ngữ, kỹ thuật và trình tự, thủ tục soạn thảo văn bản.4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của tổ chức pháp chế về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3 Điều này.Báo cáo thẩm định phải được gửi đến đơn vị chủ trì soạn thảo chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.5. Đơn vị được phân công chủ trì soạn thảo có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị có liên quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý dự thảo.Điều 103. Hồ sơ dự thảo thông tư trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ1. Tờ trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ về dự thảo thông tư.2. Dự thảo thông tư.3. Báo cáo thẩm định; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.4. Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo.5. Báo cáo đánh giá tác động; bản đánh giá thủ tục hành chính trong trường hợp được luật giao quy định thủ tục hành chính; báo cáo lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (nếu có).6. Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.Điều 104. Trình tự xem xét, ký ban hành thông tư1. Đơn vị chủ trì soạn thảo báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ về dự thảo thông tư.Trong trường hợp dự thảo còn vấn đề có ý kiến khác nhau giữa các đơn vị thì tổ chức pháp chế chủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan thống nhất ý kiến trước khi trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.Căn cứ vào ý kiến tại cuộc họp này, đơn vị chủ trì soạn thảo phối hợp với tổ chức pháp chế, các đơn vị có liên quan chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo thông tư trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ xem xét, ký ban hành thông tư.Chương VIXÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO, CHÁNH ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO, VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO, TỔNG KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚCĐiều 105. Xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.2. Dự thảo nghị quyết được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao trong thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.Dự thảo nghị quyết phải gửi để lấy ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan, Hội Luật gia Việt Nam và Liên đoàn luật sư Việt Nam.3. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý về dự thảo nghị quyết.4. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thành lập hội đồng tư vấn thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học.5. Dự thảo nghị quyết được thảo luận tại phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp.6. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp để thông qua dự thảo nghị quyết.Trong trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp không nhất trí với nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì có quyền báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại phiên họp gần nhất.7. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ký nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.Điều 106. Xây dựng, ban hành thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao1. Dự thảo thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.2. Đơn vị được phân công chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật liên quan đến dự thảo; nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên quan; chuẩn bị đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự thảo; tổ chức lấy ý kiến; chuẩn bị tờ trình và tài liệu có liên quan đến dự thảo.Dự thảo thông tư được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao trong thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.Tùy theo tính chất và nội dung của dự thảo, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định gửi dự thảo thông tư để lấy ý kiến của Tòa án nhân dân địa phương, Tòa án quân sự và cơ quan, tổ chức có liên quan.3. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận và cho ý kiến đối với dự thảo thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.4. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem xét và ký ban hành thông tư.Điều 107. Xây dựng, ban hành thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao1. Dự thảo thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.2. Đơn vị được phân công chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật liên quan đến dự thảo; nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên quan; chuẩn bị đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự thảo; tổ chức lấy ý kiến; chuẩn bị tờ trình và tài liệu có liên quan đến dự thảo.Dự thảo thông tư được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.Tùy theo tính chất và nội dung của dự thảo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định gửi dự thảo thông tư để lấy ý kiến Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện kiểm sát quân sự và cơ quan, tổ chức có liên quan.3. Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao thảo luận và cho ý kiến đối với dự thảo thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.4. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem xét và ký ban hành thông tư.Điều 108. Xây dựng, ban hành quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước1. Dự thảo quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước do Tổng Kiểm toán nhà nước tổ chức và chỉ đạo việc soạn thảo.2. Dự thảo quyết định được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Kiểm toán nhà nước trong thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.3. Tùy theo tính chất và nội dung của dự thảo, Tổng Kiểm toán nhà nước quyết định gửi dự thảo để lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan.4. Tổng Kiểm toán nhà nước chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến góp ý, xem xét và ký ban hành quyết định.Chương VIIXÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT LIÊN TỊCHĐiều 109. Xây dựng, ban hành nghị quyết liên tịch1. Dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo.2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức soạn thảo dự thảo.3. Trong quá trình soạn thảo dự thảo nghị quyết liên tịch, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 57 của Luật này.4. Trước khi ban hành, dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải được Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra; dự thảo nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải được Bộ Tư pháp thẩm định.Hồ sơ, nội dung thẩm định theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 58; hồ sơ, nội dung thẩm tra theo quy định tại khoản 1 Điều 64 và Điều 65 của Luật này.5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tiếp thu ý kiến góp ý để chỉnh lý dự thảo.6. Dự thảo được thông qua khi có sự thống nhất ý kiến của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành nghị quyết liên tịch.Chủ tịch Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng ký ban hành nghị quyết liên tịch.Điều 110. Xây dựng, ban hành thông tư liên tịch1. Dự thảo thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ thỏa thuận, phân công cơ quan chủ trì soạn thảo.2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức soạn thảo dự thảo.3. Dự thảo được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.Dự thảo thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải được lấy ý kiến các thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thành viên Ủy ban kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân tối cao.4. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến góp ý để chỉnh lý dự thảo.5. Dự thảo được thông qua khi có sự thống nhất ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền ban hành thông tư liên tịch.Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ cùng ký ban hành thông tư liên tịch.Chương VIIIXÂY DỰNG, BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNHĐiều 111. Đề nghị xây dựng nghị quyết1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp căn cứ văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, tự mình hoặc theo đề xuất của cơ quan, tổ chức, đại biểu Hội đồng nhân dân, có trách nhiệm đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân để quy định chi tiết vấn đề được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.2. Đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân để xem xét, quyết định.3. Đề nghị xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có nội dung quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 27 của Luật này thì trước khi trình Thường trực Hội đồng nhân dân phải thực hiện theo quy định từ Điều 112 đến Điều 116 của Luật này.Điều 112. Nhiệm vụ của cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết1. Tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến đề nghị xây dựng nghị quyết; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự thảo nghị quyết.Trong trường hợp cần thiết, đề nghị cơ quan, tổ chức có liên quan tổng kết, đánh giá việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực do cơ quan, tổ chức đó phụ trách có liên quan đến nội dung của dự thảo.2. Tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp cần thiết, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu, thông tin liên quan đến dự thảo nghị quyết.3. Xây dựng nội dung của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết; đánh giá tác động của chính sách; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị quyết sau khi được Hội đồng nhân dân thông qua.4. Chuẩn bị hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết theo quy định tại Điều 114 của Luật này.5. Tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức có liên quan về đề nghị xây dựng nghị quyết; tổng hợp, nghiên cứu, giải trình tiếp thu ý kiến góp ý.Điều 113. Lấy ý kiến về đề nghị xây dựng nghị quyết1. Cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết có trách nhiệm lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết và các cơ quan, tổ chức có liên quan; nêu những vấn đề cần xin ý kiến phù hợp với từng đối tượng lấy ý kiến và xác định cụ thể địa chỉ tiếp nhận ý kiến; đăng tải toàn văn hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.Ngoài đăng tải để lấy ý kiến theo quy định tại khoản này, việc lấy ý kiến có thể bằng hình thức lấy ý kiến trực tiếp, gửi dự thảo đề nghị góp ý kiến, tổ chức hội thảo hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến.2. Khi lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo nghị quyết thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến và bảo đảm ít nhất là 10 ngày kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý kiến vào dự thảo nghị quyết. Trong trường hợp cần thiết, cơ quan đề nghị xây dựng nghị quyết tổ chức đối thoại trực tiếp về chính sách với các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của dự thảo nghị quyết.3. Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến về đề nghị xây dựng nghị quyết có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị góp ý kiến.Điều 114. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết1. Tờ trình đề nghị xây dựng nghị quyết, trong đó phải nêu rõ sự cần thiết ban hành nghị quyết; mục đích, quan điểm xây dựng nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị quyết; mục tiêu, nội dung chính sách trong dự thảo nghị quyết và các giải pháp để thực hiện chính sách đã được lựa chọn; thời gian dự kiến đề nghị Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị quyết.2. Nội dung đánh giá tác động của từng chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết, trong đó phải nêu rõ vấn đề cần giải quyết; mục tiêu ban hành chính sách; các giải pháp để thực hiện chính sách; các tác động tích cực, tiêu cực của chính sách; chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của các giải pháp; lựa chọn giải pháp của cơ quan, tổ chức và lý do lựa chọn; xác định vấn đề giới và tác động giới của chính sách.3. Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng các vấn đề liên quan đến chính sách.4. Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp; bản chụp ý kiến góp ý.5. Đề cương dự thảo nghị quyết.6. Tài liệu khác (nếu có).Điều 115. Thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình1. Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Nội vụ và các cơ quan, tổ chức có liên quan thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết.2. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết gửi để thẩm định gồm các tài liệu theo quy định tại Điều 114 của Luật này.Tài liệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 114 của Luật này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.3. Thời hạn thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết là 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định. Nội dung thẩm định theo quy định tại khoản 3 Điều 39 của Luật này.4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của Sở Tư pháp về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3 Điều này và về đề nghị xây dựng nghị quyết đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.5. Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị quyết chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày kết thúc thẩm định. Cơ quan lập đề nghị xây dựng nghị quyết có trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý đề nghị xây dựng nghị quyết và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo đề nghị xây dựng nghị quyết đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh dự thảo nghị quyết.Điều 116. Thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết1. Đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình thì Ủy ban nhân dân có trách nhiệm xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số để thông qua các chính sách trong từng đề nghị xây dựng nghị quyết.2. Đối với đề nghị xây dựng nghị quyết do cơ quan, tổ chức khác quy định tại Điều 111 của Luật này đề nghị thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm thông qua các chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết.Điều 117. Trình đề nghị xây dựng nghị quyết1. Cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật này trình Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết.2. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật này bao gồm:a) Tờ trình về đề nghị xây dựng nghị quyết;b) Bản thuyết minh về căn cứ ban hành nghị quyết; đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị quyết; nội dung chính của nghị quyết; thời gian dự kiến đề nghị Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua; dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành nghị quyết.3. Hồ sơ đề nghị xây dựng nghị quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 27 của Luật này bao gồm:a) Tài liệu quy định tại Điều 114 của Luật này;b) Báo cáo thẩm định đề nghị xây dựng nghị quyết của Sở Tư pháp;c) Quyết định thông qua chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết của cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 116 của Luật này.Điều 118. Phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo nghị quyếtThường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét đề nghị xây dựng nghị quyết; nếu chấp thuận thì phân công cơ quan, tổ chức trình dự thảo nghị quyết và quyết định thời hạn trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh dự thảo nghị quyết; cơ quan, tổ chức trình phân công cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp soạn thảo dự thảo nghị quyết.Điều 119. Nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo nghị quyết1. Tổ chức xây dựng dự thảo nghị quyết, bảo đảm sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật đã giao quy định chi tiết đối với nghị quyết quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật này; bảo đảm sự thống nhất của dự thảo nghị quyết với các chính sách đã được thông qua đối với nghị quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 27 của Luật này.2. Tổ chức lấy ý kiến, nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo; xây dựng tờ trình, báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý về dự thảo và các tài liệu khác; đăng tải các tài liệu này trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.Điều 120. Lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được đăng tải toàn văn trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong thời hạn ít nhất là 30 ngày để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến.2. Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan. Trong trường hợp lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến và bảo đảm ít nhất là 30 ngày kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo văn bản.3. Cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo văn bản.Điều 121. Thẩm định dự thảo nghị quyết do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh do Ủy ban nhân dân cùng cấp trình phải được Sở Tư pháp thẩm định trước khi trình Ủy ban nhân dân.Trong trường hợp cần thiết, Sở Tư pháp yêu cầu cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo nghị quyết; tự mình hoặc cùng cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức khảo sát về những vấn đề thuộc nội dung của dự thảo nghị quyết. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc thẩm định dự thảo nghị quyết.Đối với dự thảo nghị quyết liên quan đến nhiều lĩnh vực hoặc do Sở Tư pháp chủ trì soạn thảo thì Giám đốc Sở Tư pháp thành lập hội đồng tư vấn thẩm định, bao gồm đại diện các cơ quan, tổ chức có liên quan, các chuyên gia, nhà khoa học.Chậm nhất là 20 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Sở Tư pháp để thẩm định.2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:a) Tờ trình Ủy ban nhân dân về dự thảo nghị quyết;b) Dự thảo nghị quyết;c) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý kiến góp ý;d) Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.3. Nội dung thẩm định bao gồm:a) Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo nghị quyết;b) Tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo nghị quyết với hệ thống pháp luật;c) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với các quy định trong văn bản đã giao cho Hội đồng nhân dân quy định chi tiết; nội dung dự thảo nghị quyết với các chính sách trong đề nghị xây dựng nghị quyết đã được thông qua theo quy định tại Điều 116 của Luật này;d) Ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.4. Báo cáo thẩm định phải thể hiện rõ ý kiến của cơ quan thẩm định về nội dung thẩm định quy định tại khoản 3 Điều này và ý kiến về việc dự án đủ điều kiện hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban nhân dân.Báo cáo thẩm định phải được gửi đến cơ quan chủ trì soạn thảo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ gửi thẩm định.5. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo nghị quyết và đồng thời gửi báo cáo giải trình, tiếp thu kèm theo dự thảo văn bản đã được chỉnh lý đến Sở Tư pháp khi trình Ủy ban nhân dân dự thảo nghị quyết.Điều 122. Hồ sơ dự thảo nghị quyết trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh1. Hồ sơ dự thảo nghị quyết trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bao gồm:a) Tờ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về dự thảo nghị quyết;b) Dự thảo nghị quyết;c) Báo cáo thẩm định; báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân;đ) Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại các điểm a, b và c khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Ủy ban nhân dân để chuyển đến các thành viên Ủy ban nhân dân chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày Ủy ban nhân dân họp.Điều 123. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp1. Đối với dự thảo nghị quyết do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình thì Ủy ban nhân dân có trách nhiệm xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số để quyết định việc trình dự thảo nghị quyết ra Hội đồng nhân dân cùng cấp.2. Đối với dự thảo nghị quyết do cơ quan, tổ chức khác trình thì Ủy ban nhân dân có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản.Chậm nhất là 25 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, cơ quan, tổ chức trình dự thảo nghị quyết phải gửi tờ trình, dự thảo nghị quyết và các tài liệu có liên quan đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để Ủy ban nhân dân tham gia ý kiến.Chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phải gửi ý kiến bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức trình dự thảo nghị quyết.Điều 124. Thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải được Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp thẩm tra trước khi trình Hội đồng nhân dân.2. Chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, cơ quan trình dự thảo nghị quyết phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra để thẩm tra. Hồ sơ gửi thẩm tra bao gồm:a) Tờ trình Hội đồng nhân dân về dự thảo nghị quyết;b) Dự thảo nghị quyết;c) Báo cáo thẩm định và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định đối với dự thảo nghị quyết do Ủy ban nhân dân trình; ý kiến của Ủy ban nhân dân và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của Ủy ban nhân dân đối với dự thảo do Ban của Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh trình;d) Bản tổng hợp, giải trình, tiếp thu ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân; bản chụp ý kiến góp ý;đ) Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại các điểm a, b và c khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.3. Nội dung thẩm tra tập trung vào các vấn đề sau đây:a) Nội dung của dự thảo nghị quyết và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau;b) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước;c) Sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với tình hình, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;d) Tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo nghị quyết với hệ thống pháp luật.4. Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra quy định tại khoản 3 Điều này và đề xuất những nội dung cần sửa đổi, bổ sung, phương án xử lý của cơ quan chủ trì thẩm tra đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau.Báo cáo thẩm tra phải được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân.Điều 125. Hồ sơ dự thảo nghị quyết trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh1. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc chuẩn bị hồ sơ dự thảo nghị quyết để gửi đến đại biểu Hội đồng nhân dân. Hồ sơ dự thảo nghị quyết bao gồm:a) Tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 124 của Luật này;b) Báo cáo thẩm tra;c) Ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với dự thảo nghị quyết do cơ quan, tổ chức khác trình;d) Tài liệu khác (nếu có).Tài liệu quy định tại điểm a khoản 2 Điều 124 của Luật này và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.2. Hồ sơ dự thảo nghị quyết phải được gửi đến các đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là 07 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân.Điều 126. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh1. Việc xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân được tiến hành theo trình tự sau đây:a) Đại diện cơ quan, tổ chức trình dự thảo nghị quyết thuyết trình dự thảo nghị quyết;b) Đại diện Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;c) Hội đồng nhân dân thảo luận;d) Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra chủ trì, phối hợp cơ quan, tổ chức trình, Sở Tư pháp giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết;đ) Hội đồng nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo nghị quyết.2. Dự thảo nghị quyết được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.3. Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực nghị quyết.Chương IXXÂY DỰNG, BAN HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNHĐiều 127. Đề nghị xây dựng quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh1. Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm đề nghị xây dựng quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.2. Đề nghị xây dựng quyết định phải nêu rõ tên gọi, sự cần thiết ban hành, đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nội dung chính của quyết định, dự kiến thời gian ban hành, cơ quan chủ trì soạn thảo. Đối với quyết định quy định những vấn đề được giao quy định chi tiết, cơ quan đề xuất phải rà soát văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước trung ương và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp để xác định rõ nội dung, phạm vi giao quy định cụ thể.3. Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì phối hợp với Sở Tư pháp xem xét kiểm tra việc đề nghị ban hành quyết định, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.Điều 128. Soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân công cơ quan chủ trì soạn thảo quyết định.2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có các nhiệm vụ sau đây:a) Khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội ở địa phương; nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và tài liệu có liên quan đến dự thảo quyết định;b) Xây dựng dự thảo và tờ trình dự thảo quyết định;c) Đánh giá tác động văn bản trong trường hợp dự thảo quyết định có quy định cụ thể các chính sách đã được quy định trong văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đánh giá tác động của thủ tục hành chính trong trường hợp được luật giao, đánh giá tác động về giới (nếu có);d) Tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu ý kiến, chỉnh lý hoàn thiện dự thảo quyết định. Điều 129. Lấy ý kiến về dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản và các cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định tại Điều 120 của Luật này.Điều 130. Thẩm định dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnhSở Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Thời hạn, hồ sơ, nội dung thẩm định, báo cáo thẩm định được thực hiện theo quy định tại Điều 121 của Luật này.Điều 131. Hồ sơ dự thảo quyết định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnhCơ quan chủ trì soạn thảo gửi hồ sơ dự thảo quyết định đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày Ủy ban nhân dân họp để chuyển đến các thành viên Ủy ban nhân dân. Hồ sơ dự thảo quyết định theo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Luật này.Điều 132. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh1. Tùy theo tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phương thức xem xét, thông qua dự thảo quyết định. Trong trường hợp dự thảo quyết định được xem xét, thông qua tại phiên họp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì theo trình tự sau đây:a) Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo thuyết trình dự thảo quyết định;b) Đại diện Sở Tư pháp phát biểu về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;c) Đại diện Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình bày ý kiến;d) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo quyết định.2. Dự thảo quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh biểu quyết tán thành.3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký quyết định.Chương XXÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆNĐiều 133. Soạn thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện do Ủy ban nhân dân cùng cấp trình. Căn cứ vào tính chất và nội dung của nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện phân công cơ quan chủ trì soạn thảo. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm xây dựng dự thảo và tờ trình dự thảo nghị quyết.2. Căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết.Cơ quan, tổ chức có liên quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo nghị quyết.Trong trường hợp lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết thì cơ quan, tổ chức lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến, địa chỉ tiếp nhận ý kiến và bảo đảm ít nhất là 07 ngày kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo nghị quyết.Điều 134. Thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện1. Phòng Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp huyện.Chậm nhất là 10 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp, cơ quan chủ trì soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện đến Phòng Tư pháp để thẩm định.2. Thời hạn, hồ sơ, nội dung thẩm định và báo cáo thẩm định thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 121 của Luật này.Điều 135. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp1. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm xem xét, thảo luận và biểu quyết về việc trình dự thảo nghị quyết ra Hội đồng nhân dân cùng cấp.2. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm gửi tờ trình, dự thảo nghị quyết và các tài liệu có liên quan đến Thường trực Hội đồng nhân dân để chuyển đến các đại biểu Hội đồng nhân dân cùng cấp chậm nhất là 07 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.Điều 136. Thẩm tra dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyệnDự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện phải được Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp thẩm tra trước khi trình Hội đồng nhân dân. Chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm gửi dự thảo nghị quyết đến Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra. Hồ sơ, nội dung thẩm tra và báo cáo thẩm tra theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 124 của Luật này.Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra có trách nhiệm gửi báo cáo thẩm tra đến Thường trực Hội đồng nhân dân để chuyển đến các đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là 07 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.Điều 137. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện1. Việc xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp Hội đồng nhân dân được tiến hành theo trình tự sau đây:a) Đại diện Ủy ban nhân dân thuyết trình dự thảo nghị quyết;b) Đại diện Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;c) Hội đồng nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo nghị quyết.2. Dự thảo nghị quyết được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.3. Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực nghị quyết.Điều 138. Soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện1. Dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân phân công và trực tiếp chỉ đạo cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân soạn thảo. Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm xây dựng dự thảo và tờ trình dự thảo quyết định.2. Căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, cơ quan soạn thảo tổ chức lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của quyết định.Cơ quan, tổ chức có liên quan được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo quyết định.Trong trường hợp lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của quyết định thì cơ quan lấy ý kiến có trách nhiệm xác định những vấn đề cần lấy ý kiến và bảo đảm ít nhất là 07 ngày kể từ ngày tổ chức lấy ý kiến để các đối tượng được lấy ý kiến góp ý vào dự thảo quyết định.Điều 139. Thẩm định dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện1. Phòng Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện trước khi trình.Chậm nhất là 10 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp, cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo quyết định đến Phòng Tư pháp để thẩm định.2. Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:a) Tờ trình Ủy ban nhân dân về dự thảo quyết định;b) Dự thảo quyết định;c) Bản tổng hợp ý kiến về dự thảo quyết định;d) Tài liệu khác (nếu có).3. Nội dung và báo cáo thẩm định thực hiện theo quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 121 của Luật này.4. Chậm nhất là 05 ngày trước ngày Ủy ban nhân dân họp, Phòng Tư pháp gửi báo cáo thẩm định đến cơ quan soạn thảo.Điều 140. Hồ sơ dự thảo quyết định trình Ủy ban nhân dân cấp huyện1. Cơ quan soạn thảo gửi hồ sơ dự thảo quyết định đến Ủy ban nhân dân cấp huyện chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày Ủy ban nhân dân họp để chuyển đến các thành viên Ủy ban nhân dân.2. Hồ sơ dự thảo quyết định trình Ủy ban nhân dân bao gồm:a) Tài liệu quy định tại khoản 2 Điều 139 của Luật này;b) Báo cáo thẩm định.Tài liệu quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 139 của Luật này và điểm b khoản này được gửi bằng bản giấy, tài liệu còn lại được gửi bằng bản điện tử.Điều 141. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện1. Tùy theo tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định phương thức xem xét, thông qua dự thảo quyết định. Trong trường hợp xem xét, thông qua dự thảo quyết định tại phiên họp Ủy ban nhân dân thì được tiến thành theo trình tự sau đây:a) Đại diện cơ quan soạn thảo trình bày dự thảo quyết định;b) Đại diện Phòng Tư pháp phát biểu về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;c) Ủy ban nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo quyết định.2. Dự thảo quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân biểu quyết tán thành.3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký ban hành quyết định.Chương XIXÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃĐiều 142. Soạn thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã do Ủy ban nhân dân cùng cấp tổ chức soạn thảo và trình Hội đồng nhân dân.2. Căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo nghị quyết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tổ chức việc lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan, của Nhân dân tại các thôn, làng, buôn, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố về dự thảo nghị quyết bằng các hình thức thích hợp.Điều 143. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã1. Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã phải được Ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp thẩm tra trước khi trình Hội đồng nhân dân cấp xã. Chậm nhất là 03 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân gửi tờ trình, dự thảo nghị quyết và các tài liệu có liên quan đến các đại biểu Hội đồng nhân dân.2. Việc xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp Hội đồng nhân dân được tiến hành theo trình tự sau đây:a) Đại diện Ủy ban nhân dân thuyết trình dự thảo nghị quyết;b) Đại diện Ban của Hội đồng nhân dân được phân công thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;c) Hội đồng nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo nghị quyết.3. Dự thảo nghị quyết được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.4. Chủ tịch Hội đồng nhân dân ký chứng thực nghị quyết.Điều 144. Soạn thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã1. Dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức, chỉ đạo việc soạn thảo.2. Căn cứ vào tính chất và nội dung của dự thảo quyết định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan, của Nhân dân tại các thôn, làng, buôn, ấp, bản, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố, khối phố và chỉnh lý dự thảo quyết định.Điều 145. Trình tự xem xét, thông qua dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã1. Tổ chức, cá nhân được phân công soạn thảo gửi tờ trình, dự thảo quyết định, bản tổng hợp ý kiến và các tài liệu có liên quan đến các thành viên Ủy ban nhân dân cấp xã chậm nhất là 03 ngày làm việc trước ngày Ủy ban nhân dân họp.2. Việc xem xét, thông qua dự thảo quyết định tại phiên họp Ủy ban nhân dân cấp xã được tiến hành theo trình tự sau đây:a) Đại diện tổ chức, cá nhân được phân công soạn thảo trình bày dự thảo quyết định;b) Ủy ban nhân dân thảo luận và biểu quyết thông qua dự thảo quyết định.3. Dự thảo quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân cấp xã biểu quyết tán thành.4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký ban hành quyết định.Chương XIIXÂY DỰNG, BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT THEO TRÌNH TỰ, THỦ TỤC RÚT GỌNĐiều 146. Các trường hợp xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn1. Trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp; trường hợp đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ; trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn theo quyết định của Quốc hội.2. Trường hợp để ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của văn bản quy phạm pháp luật trong một thời hạn nhất định.3. Trường hợp cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.Điều 147. Thẩm quyền quyết định việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn1. Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; trình Quốc hội quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội.2. Chủ tịch nước quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.3. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.4. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.Điều 148. Trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọnViệc xây dựng, ban hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo trình tự, thủ tục rút gọn được thực hiện như sau:1. Cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức việc soạn thảo.2. Cơ quan chủ trì soạn thảo có thể tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về dự thảo văn bản. Trong trường hợp lấy ý kiến thì thời hạn lấy ý kiến không quá 20 ngày.3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được dự thảo văn bản, cơ quan thẩm định có trách nhiệm thẩm định, cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm thẩm tra dự thảo văn bản.Hồ sơ thẩm định gồm tờ trình và dự thảo; hồ sơ thẩm tra gồm tờ trình, dự thảo, báo cáo thẩm định và báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định.Điều 149. Hồ sơ, trình tự, thủ tục xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn1. Hồ sơ trình xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn được quy định như sau:a) Hồ sơ trình dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bao gồm tờ trình, dự thảo, báo cáo thẩm tra;b) Hồ sơ trình dự thảo lệnh, dự thảo quyết định của Chủ tịch nước bao gồm tờ trình, dự thảo;c) Hồ sơ trình dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bao gồm tờ trình, dự thảo, báo cáo thẩm định.2. Trình tự xem xét, thông qua:a) Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội tại kỳ họp gần nhất theo trình tự quy định tại Điều 74 của Luật này;b) Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội tại phiên họp gần nhất theo trình tự quy định tại khoản 1 Điều 77 của Luật này;c) Chủ tịch nước xem xét, ký ban hành lệnh, quyết định ngay sau khi nhận được dự thảo lệnh, quyết định theo trình tự quy định tại Điều 81 của Luật này;d) Chính phủ xem xét, thông qua dự thảo nghị định tại phiên họp gần nhất theo trình tự quy định tại Điều 96 của Luật này;đ) Thủ tướng Chính phủ xem xét, ký ban hành quyết định ngay sau khi nhận được dự thảo văn bản theo trình tự quy định tại Điều 100 của Luật này;e) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết tại kỳ họp gần nhất theo trình tự quy định tại Điều 126 của Luật này;g) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, thông qua dự thảo quyết định tại phiên họp gần nhất theo trình tự quy định tại Điều 132 của Luật này.Chương XIIIHIỆU LỰC CỦA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG, CÔNG KHAI VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬTĐiều 150. Đăng Công báo văn bản quy phạm pháp luật1. Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan ở Trung ương phải được đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước.2. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt phải được đăng Công báo cấp tỉnh.3. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã phải được niêm yết công khai và phải được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương. Thời gian và địa điểm niêm yết công khai do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định.4. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăng Công báo hoặc niêm yết công khai.Cơ quan Công báo có trách nhiệm đăng toàn văn văn bản quy phạm pháp luật trên Công báo chậm nhất là 15 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan trung ương ban hành, 07 ngày đối với văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt ban hành kể từ ngày nhận được văn bản.5. Văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Công báo in và Công báo điện tử là văn bản chính thức và có giá trị như văn bản gốc.6. Chính phủ quy định về Công báo và niêm yết văn bản quy phạm pháp luật.Điều 151. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật1. Thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương; không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; không sớm hơn 07 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã.2. Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì có thể có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành, đồng thời phải được đăng ngay trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc Công báo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là sau 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.Điều 152. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật1. Chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước.2. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:a) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.3. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt không được quy định hiệu lực trở về trước.Điều 153. Ngưng hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật1. Văn bản quy phạm pháp luật ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần cho đến khi có quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong các trường hợp sau đây:a) Bị đình chỉ việc thi hành theo quy định tại khoản 3 Điều 164, khoản 2 Điều 165, khoản 2 và khoản 3 Điều 166, khoản 2 và khoản 3 Điều 167 của Luật này. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định bãi bỏ thì văn bản hết hiệu lực; nếu không ra quyết định bãi bỏ thì văn bản tiếp tục có hiệu lực;b) Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật quyết định ngưng hiệu lực của văn bản đó trong một thời hạn nhất định để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội phát sinh.2. Thời điểm ngưng hiệu lực, tiếp tục có hiệu lực của văn bản hoặc hết hiệu lực của văn bản phải được quy định rõ tại văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.3. Quyết định đình chỉ việc thi hành, quyết định xử lý văn bản quy phạm pháp luật phải đăng Công báo, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.Điều 154. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lựcVăn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:1. Hết thời hạn có hiệu lực đã được quy định trong văn bản.2. Được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật mới của chính cơ quan nhà nước đã ban hành văn bản đó.3. Bị bãi bỏ bằng một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.4. Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực.Điều 155. Hiệu lực về không gian1. Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương có hiệu lực trong phạm vi cả nước và được áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân, trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.2. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở đơn vị hành chính nào thì có hiệu lực trong phạm vi đơn vị hành chính đó và phải được quy định cụ thể ngay trong văn bản đó.Trường hợp có sự thay đổi về địa giới hành chính thì hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng của văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương được xác định như sau:a) Trường hợp một đơn vị hành chính được chia thành nhiều đơn vị hành chính mới cùng cấp thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được chia vẫn có hiệu lực đối với đơn vị hành chính mới cho đến khi Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế;b) Trường hợp nhiều đơn vị hành chính được nhập thành một đơn vị hành chính mới cùng cấp thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được nhập vẫn có hiệu lực đối với đơn vị hành chính đó cho đến khi Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính mới ban hành văn bản quy phạm pháp luật thay thế;c) Trường hợp một phần địa phận và dân cư của đơn vị hành chính được điều chỉnh về một đơn vị hành chính khác thì văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân của đơn vị hành chính được mở rộng có hiệu lực đối với phần địa phận và bộ phận dân cư được điều chỉnh.Điều 156. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.5. Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.Điều 157. Đăng tải và đưa tin văn bản quy phạm pháp luậtVăn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành phải được đăng tải toàn văn trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành và đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng, trừ văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về bí mật nhà nước.Văn bản quy phạm pháp luật đăng tải trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật có giá trị sử dụng chính thức.Chương XIVGIẢI THÍCH HIẾN PHÁP, LUẬT, PHÁP LỆNHĐiều 158. Các trường hợp và nguyên tắc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh1. Việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được thực hiện trong trường hợp quy định của Hiến pháp, luật, pháp lệnh có cách hiểu khác nhau trong việc thi hành.2. Việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:a) Đúng với tinh thần, mục đích, yêu cầu, quan điểm chỉ đạo ban hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh;b) Phù hợp với nội dung, ngôn ngữ của Hiến pháp, luật, pháp lệnh;c) Không được sửa đổi, bổ sung hoặc đặt ra quy định mới.Điều 159. Thẩm quyền đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh1. Chủ tịch nước, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của Mặt trận và đại biểu Quốc hội có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.2. Ủy ban thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội quy định tại khoản 1 Điều này quyết định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.Điều 160. Trình tự, thủ tục giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh1. Tùy theo tính chất, nội dung của vấn đề cần được giải thích, Ủy ban thường vụ Quốc hội giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội soạn thảo dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh trình Ủy ban thường vụ Quốc hội.Ủy ban thường vụ Quốc hội giao Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội thẩm tra về sự phù hợp của dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh với tinh thần và nội dung của văn bản được giải thích.2. Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh theo trình tự sau đây:a) Đại diện cơ quan được phân công chuẩn bị dự thảo nghị quyết giải thích thuyết trình và đọc toàn văn dự thảo;b) Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;c) Đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến;d) Ủy ban thường vụ Quốc hội thảo luận;đ) Chủ tọa phiên họp kết luận;e) Ủy ban thường vụ Quốc hội biểu quyết;g) Chủ tịch Quốc hội ký nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.Điều 161. Đăng Công báo, đăng tải và đưa tin nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh1. Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh phải được đăng Công báo theo quy định tại Điều 150 của Luật này, đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội và đăng tải, đưa tin theo quy định tại Điều 157 của Luật này.2. Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh được áp dụng cùng với văn bản được giải thích.Chương XVGIÁM SÁT, KIỂM TRA, XỬ LÝ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬTĐiều 162. Giám sát văn bản quy phạm pháp luật1. Văn bản quy phạm pháp luật phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát theo quy định của pháp luật.2. Việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật được tiến hành nhằm phát hiện những nội dung trái với Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc không còn phù hợp để kịp thời đình chỉ việc thi hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản, đồng thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản trái pháp luật.Điều 163. Nội dung giám sát văn bản quy phạm pháp luật1. Sự phù hợp của văn bản với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.2. Sự phù hợp của hình thức văn bản với nội dung của văn bản đó.3. Sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản.4. Sự thống nhất giữa văn bản quy phạm pháp luật hiện hành với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành của cùng một cơ quan.Điều 164. Giám sát, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật1. Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát văn bản quy phạm pháp luật.2. Quốc hội bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.3. Ủy ban thường vụ Quốc hội đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.4. Hội đồng nhân dân bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp, văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp dưới trái với nghị quyết của mình, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.5. Trình tự, thủ tục giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.Điều 165. Chính phủ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật1. Chính phủ kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.2. Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ.3. Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thực hiện việc kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật của bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.Đối với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên đã bị Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành thì Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan chuẩn bị hồ sơ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét việc đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ.4. Chính phủ quy định chi tiết về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành.Điều 166. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành và do bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành về những nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ trách.Khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành trái pháp luật thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm tự mình bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản.2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực có quyền đề nghị Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ khác, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có nội dung trái pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực do mình phụ trách; báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có nội dung trái pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực do mình phụ trách.3. Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt có nội dung trái pháp luật không được xử lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Bộ trưởng Bộ Tư pháp báo cáo Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật đó.Điều 167. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái pháp luật1. Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp trên kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp dưới ban hành.Khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành trái pháp luật thì Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm tự mình bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản.Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành.Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện tổ chức kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành.2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp huyện và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bãi bỏ.Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp xã và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp huyện bãi bỏ.3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp dưới.Chương XVIHỢP NHẤT VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT, PHÁP ĐIỂN HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT, RÀ SOÁT, HỆ THỐNG HÓA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬTĐiều 168. Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật1. Văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung phải được hợp nhất với văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung nhằm góp phần bảo đảm hệ thống pháp luật đơn giản, rõ ràng, dễ sử dụng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.2. Việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Điều 169. Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật1. Cơ quan nhà nước sắp xếp các quy phạm pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực, trừ Hiến pháp, để xây dựng Bộ pháp điển.2. Việc pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội.Điều 170. Rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật1. Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật; nếu phát hiện có quy định trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội thì tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới hoặc thay thế văn bản quy phạm pháp luật.Cơ quan, tổ chức và công dân có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét đình chỉ việc thi hành, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới hoặc thay thế văn bản quy phạm pháp luật.2. Hoạt động rà soát văn bản phải được tiến hành thường xuyên, ngay khi có căn cứ rà soát văn bản. Hoạt động hệ thống hóa văn bản phải được tiến hành định kỳ, kịp thời công bố Tập hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực.3. Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; các cơ quan nhà nước quyết định rà soát theo chuyên đề, lĩnh vực, địa bàn căn cứ vào yêu cầu quản lý nhà nước.4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.Chương XVIIĐIỀU KHOẢN THI HÀNHĐiều 171. Bảo đảm nguồn lực xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luậtNhà nước có chính sách thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ, công chức tham gia xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ quy định tại Luật này; hiện đại hóa phương tiện, hạ tầng kỹ thuật; bảo đảm kinh phí cho hoạt động xây dựng chính sách, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý, hoàn thiện và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.Chính phủ quy định chi tiết Điều này.Điều 172. Hiệu lực thi hành1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.2. Thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, chỉ thị của Ủy ban nhân dân các cấp là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục có hiệu lực cho đến khi có văn bản bãi bỏ hoặc bị thay thế bằng văn bản quy phạm pháp luật khác.3. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân số 31/2004/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.4. Những quy định về thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 4 Điều 14 của Luật này được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục được áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ bằng văn bản khác hoặc bị thay thế bằng thủ tục hành chính mới.Điều 173. Quy định chi tiếtỦy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ có trách nhiệm quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật.Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 22 tháng 6 năm 2015./.  CHỦ TỊCH QUỐC HỘINguyễn Sinh Hùng  
Đặng Quỳnh
251 ngày trước
Bài viết
LÝ LUẬN VỀ NHIỀU TỘI PHẠM VÀ CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ LIÊN QUAN ĐẾN NHIỀU TỘI PHẠM
 1.1. Lý luận về nhiều tội phạm1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của nhiều tội phạmThực tiễn xét xử cho thấy, một người không chỉ thực hiện một tội phạm mà còn có thể thực hiện nhiều tội phạm khác nhau, xâm phạm đến nhiều nhóm quan hệ xã hội khác nhau hoặc nhiều lần xâm phạm đến cùng một nhóm quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ. Do đó, khi một người thực hiện nhiều tội phạm thì thông thường gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn cũng như thể hiện nhân thân của người phạm tội trong tình trạng xấu hơn so với trường hợp phạm một tội và đương nhiên người phạm tội phải gánh chịu hậu quả pháp lý nghiêm khắc hơn. Từ khi ban hành BLHS năm 1985 cho đến nay thì vấn đề nhiều tội phạm vẫn chưa được quan tâm một cách toàn diện, do đó các BLHS vẫn chưa đưa ra định nghĩa về “nhiều tội phạm”. Điều này dẫn đến thực tiễn xét xử gặp nhiều khó khăn khi xác định các hình thức của nhiều tội phạm, chẳng hạn như trong trường hợp chủ thể thực hiện nhiều hành vi phạm tội, trường hợp nào chỉ phạm vào một tội được quy định trong các khoản khác nhau của cùng một điều luật hoặc trường hợp nào phạm vào các điều luật khác nhau trong Phần các tội phạm của BLHS … Mặc dù khái nhiệm “nhiều tội phạm” chưa được ghi nhận chính thức bằng một quy phạm pháp luật riêng biệt nhưng vấn đề nhiều tội phạm là sự kiện pháp lý khách quan, vì vậy khái niệm này vẫn đang được các nhà khoa học pháp lý hình sự trong nước và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, tác giả khái quát một số quan điểm như sau. Khoa học pháp lý hình sự Việt Nam hiện nay có các quan điểm khác nhau về nhiều tội phạm, cụ thể là:Tác giả Võ Khánh Vinh cho rằng: “Nhiều tội phạm được hiểu là việc một người thực hiện một hoặc nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội chứa đựng hai cấu thành tội phạm độc lập trở lên”.24 Quan điểm này tác giả đã đưa ra được các đặc trưng cơ bản của nhiều tội phạm là trường hợp người phạm tội thực hiện một hoặc nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội trong cùng một khoảng thời gian hoặc vào các khoảng thời gian khác nhau nhưng những hành vi nguy hiểm này phải thỏa mãn dấu hiệu từ hai CTTP độc lập trở lên. Tuy nhiên, quan điểm này chỉ đưa ra các đặc điểm trong hành vi của nhiều tội phạm mà chưa mô tả các đặc điểm pháp lý, các rào cản pháp lý của các hành vi phạm tội này. Chẳng hạn như người phạm tội thực hiện nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội thỏa mãn dấu hiệu của hai CTTP độc lập nhưng một trong hai tội phạm này không còn án tích hoặc hết thời hiệu truy cứu TNHS thì có được xem là nhiều tội phạm hay không thì định nghĩa này chưa mô tả hết các dấu hiệu đặc trưng của nhiều tội phạm.Tác giả Lê Văn Đệ cho rằng: “Nhiều tội phạm là trường hợp một người phạm từ hai tội trở lên, không phụ thuộc vào người đó đã bị xét xử về các tội đã phạm hay chưa; các tội này chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS và không có những trở ngại về mặt tố tụng hình sự để khởi tố vụ án hình sự”.25 Quan điểm này đã đưa ra đặc điểm của nhiều tội phạm rõ ràng và cụ thể hơn so với quan điểm thứ nhất, cụ thể là tác giả cho rằng nhiều tội phạm bao gồm hai đặc điểm cơ bản nêu sau: một là số lượng hành vi phạm tội là người phạm tội phải thực hiện từ hai tội phạm trở lên; hai là tính chất của hành vi phạm tội thì các hành vi phạm tội này không phụ thuộc vào việc đã từng bị xét xử hay chưa nhưng phải đảm bảo chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS cũng như không có bất kỳ những trở ngại về mặt tố tụng hình sự để khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, quan điểm này chưa mô tả cụ thể tính chất của các loại tội phạm mà người phạm tội thực hiện trong trường hợp nhiều tội phạm là các loại tội phạm khác nhau hoặc cùng một tội phạm. Trong khi vấn đề này là một trong những căn cứ để xác định các hình thức biểu hiện của nhiều tội phạm là bao gồm các hình thức phạm tội nào.Tác giả Lê Cảm cho rằng: “Đa tội phạm (nhiều tội phạm) là một chế định độc lập của luật hình sự Việt Nam bao gồm các dạng (trường hợp) như phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội, tái phạm và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, mà trong những điều kiện như nhau các dạng này thường cho thấy tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn của tội phạm được thực hiện, cũng như của nhân thân người phạm tội”.26 Ngược lại với hai quan điểm nêu trên thì quan điểm này tác giả không đưa ra khái niệm về nhiều tội phạm nhưng lại đưa ra bốn hình thức biểu hiện của nhiều tội phạm bao gồm: phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội, tái phạm và phạm tội có tính chất chuyên nghiệpvà cho rằng trong trường hợp nhiều tội phạm thì hành vi phạm tội sẽ thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với trường hợp phạm tội thông thường. Mặc dù cách định nghĩa này chưa mô tả các đặc điểm cơ bản của nhiều tội phạm nhưng thông qua các trường hợp nhiều tội phạm mà tác giả đã liệt kê nêu trên thì cho thấy rằng đặc điểm cơ bản của nhiều tội phạm là người phạm tội có thể thực hiện từ hai tội phạm trở lên hoặc thực hiện một tội phạm nhưng từ hai lần trở lên. Tuy nhiên, cách liệt kê các hình thức của định nghĩa này chưa mô tả rõ nét các dấu hiệu của nhiều tội phạm và lý giải tại sao nhiều tội phạm lại bao gồm các hình thức phạm tội này.Đây là ba quan điểm điển hình về nhiều tội phạm trong khoa học pháp lý hình sự ở Việt Nam hiện nay. Về cơ bản các quan điểm này đều cho rằng nhiều tội phạm là trường hợp phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với trường hợp thực hiện một tội phạm và thể hiện yếu tố nhân thân xấu của người phạm tội và cần được ghi nhận là một chế định độc lập trong pháp luật hình sự Việt Nam. Thông qua định nghĩa về nhiều tội phạm thì các quan điểm nêu trên đã dần đưa ra các đặc điểm của nhiều tội phạm và thống nhất cho rằng dấu hiệu đặc trưng nhất của nhiều tội phạm là trường hợp người phạm tội thực hiện từ 02 (hai) tội phạm trở lên. Tuy nhiên vì các quan điểm này chưa xác định rõ tính chất của từng loại tội phạm thực hiện là cùng một loại tội phạm hay bao gồm các loại tội phạm khác nhau nên các quan điểm này còn chưa thống nhất với nhau về các hình thức biểu hiện của nhiều tội phạm cũng như chưa mô tả đầy đủ các rào cản pháp lý (nếu có) của các hành vi phạm tội mà người phạm tội thực hiện.Khi nghiên cứu quan điểm của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự ở nước ngoài thì tác giả nhận thấy rằng về mặt thuật ngữ sử dụng thì nhiều tội phạm được sử dụng với tên gọi tiếng Anh là “multiple crimes” nhưng về mặt nội dung các quan điểm có cách tiếp cận nghiên cứu và đưa ra định nghĩa là khác nhau. Theo tác giả V.P Malkôv – một trong những người đặt nền móng đầu tiên về nhiều tội phạm trong khoa học luật hình sự Liên Xô trước đây thì tác giả không đưa ra khái niệm về nhiều tội phạm mà chỉ đưa ra các hình thức của nhiều tội phạm, cụ thể là tác giả cho rằng: nhiều tội phạm bao gồm phạm tội lặp lại và phạm nhiều tội trừu trượng, cụ thể bao gồm hai trường hợp: một là những hành vi có sự lặp lại mà những hành vi này không gắn liền với sự kết tội về một hành vi đã thực hiện trước đó; hai là những hành vi lặp đi lặp lại nhưng trong số những hành vi này đã từng bị kết án và tái phạm sau khi chấp hành xong bản án về tội đã phạm trước đó.27 Phát triển kết quả nghiên cứu của V.P Malkôv và các nhà nghiên cứu khoa học luật hình sự của Liên Bang Nga thì tác giả Dosaeva Glera Suleimanovna cho rằng không có một phương pháp tiếp cận nào để đưa ra một khái niệm tổng thể và nhất quán về nhiều tội phạm và tác giả cho rằng để đưa ra khái niệm chính xác nhất về nhiều tội phạm thì trước tiên phải đưa ra các trường hợp của nhiều tội phạm. Cụ thể tác giả cho rằng nhiều tội phạm có thể bao gồm các trường hợp nêu sau: thứ nhất, người phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội và phải chịu trách nhiệm TNHS về tất cả các hành vi này trong cùng một lần kết án; thứ hai là sau khi bị kết án nhưng người phạm tội vẫn tiếp tục phạm một hoặc nhiều tội mới và những tội phạm này có thể cùng loại hoặc khác loại với các tội phạm trước đây mà người phạm tội đã thực hiện.28 Ngoài ra, khi tìm hiểu về cách định nghĩa về nhiều tội phạm của khu vực Châu Âu thì các quan điểm cho rằng nhiều tội phạm là trường hợp người phạm tội ít nhất hai tội trong cùng một lần xét xử, những tội phạm này có thể cùng một loại tội phạm hoặc khác loại tội phạm mà do cùng một người thực hiện29 hoặc là trường hợp người thực hiện ít nhất là hai tội phạm trở lên, những loại tội phạm này có thể cùng loại tội phạm hoặc là các tội phạm khác nhau, nhưng phải trong cùng một lần xét xử.30 Như vậy, mặc dù có cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau nhưng hầu như quan điểm của các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự ở nước ngoài đều xem dấu hiệu người phạm tội thực hiện từ hai tội phạm trở lên là dấu hiệu đặc trưng của nhiều tội phạm. Theo các quan điểm này thì những hành vi phạm tội trong trường hợp nhiều tội phạm có thể được thực hiện sau khi người phạm tội đã bị kết án hoặc trước khi bị kết án nhưng các quan điểm này lại không đưa ra điều kiện các hành vi phạm tội này chưa được xóa án tích hoặc chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS. Tác giả cho rằng chưa hợp lý, bởi vì có nhiều trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội mới ngay sau khi được xóa án tích đối với tội phạm cũ được thực hiện trước đây hoặc ngay sau khi hết thời hiệu truy cứu TNHS đối với tội đã phạm trước đây, thì trong trường hợp này cũng không được xem là nhiều tội phạm. Do đó, ngoài dấu hiệu người phạm tội thực hiện từ hai tội phạm trở lên thì dấu hiệu tất cả những tội phạm này chưa được xóa án tích hoặc chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS cũng là dấu hiệu đặc trưng của nhiều tội phạm.1.1.2. Các hình thức biểu hiện của nhiều tội phạmHình thức biểu hiện của nhiều tội phạm là cách thức tổ chức, cơ cấu của nhiều tội phạm.34 Khi chủ thể thực hiện một tội phạm thì cách thức tổ chức thực hiện tội phạm đã đa dạng và phức tạp. Do đó, khi chủ thể thực hiện nhiều tội phạm thì cách thức tổ chức thực hiện tội phạm lại càng phức tạp và khó xác định hơn. Đó là lý do mà hiện nay khi đưa ra các hình thức biểu hiện của nhiều tội phạm còn có nhiều quan điểm khác nhau. Tác giả đưa ra 2 nhóm quan điểm điển hình như sau:Quan điểm thứ nhất cho rằng: nhiều tội phạm chỉ bao gồm ba hình thức biểu hiện, đó là: phạm nhiều tội, phạm tội nhiều lần và tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Quan điểm này cho rằng phạm tội có tính chất chuyên nghiệpkhông phải là một hình thức riêng biệt của nhiều tội phạm mà là một dạng đặc biệt của hình thức phạm tội nhiều lần.35Quan điểm thứ hai cho rằng: nhiều tội phạm có bốn hình thức biểu hiện là phạm nhiều tội; phạm tội nhiều lần; tái phạm, tái phạm nguy hiểm và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.36 Ngược với nhóm quan điểm thứ nhất thì nhóm quan điểm này cho rằng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp không phải là một hình thức của phạm tội nhiều lần mà là một hình thức phạm tội riêng của nhiều tội phạm.Từ nội dung tác giả nghiên cứu về khái niệm và đặc điểm của nhiều tội phạm nêu trên, tác giả cho rằng cả hai nhóm quan điểm nêu trên không hợp lý hoàn toàn. Bởi vì, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp cố ý phạm tội từ 05 lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu TNHS hay chưa bị truy cứu TNHS, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa được xóa án tích; đồng thời, người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.37 Trong khi đó, phạm tội nhiều lần là trường hợp người phạm tội có từ hai lần trở lên phạm cùng một loại tội phạm, trong đó mỗi lần đều đã đủ yếu tố CTTP, chưa bị truy cứu TNHS và chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS, nay các lần phạm tội đó được xét xử trong cùng một lần.38 Do đó, trường hợp một người cố ý phạm tội từ 05 lần về cùng một tội phạm nhưng trong số các lần phạm tội này chỉ có một lần chưa bị truy cứu TNHS và người phạm tội lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính thì trong trong trường hợp này mặc dù người phạm tội có 05 lần phạm tội nhưng không thỏa mãn các dấu hiệu của phạm tội nhiều lần vì trong số các lần phạm tội này chỉ có một lần người phạm tội chưa bị truy cứu TNHS. Do đó, tác giả cho rằng tùy trường hợp cụ thể mà phạm tội có tính chất chuyên nghiệp được xem là một dạng đặc biệt của phạm tội nhiều lần. Ngoài ra, đối với quan điểm thứ hai, tác giả cho rằng nếu chỉ đưa tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm là một trong các hình thức của nhiều tội phạm thì sẽ không bao quát hết được các trường hợp tái phạm tội xảy ra trong thực tiễn xét xử. Bởi vì, thực tiễn xét xử cho thấy nhiều trường hợp người phạm tội đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới hoặc trong một số trường hợp người phạm tội đã bị kết án chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội mới nhưng không thuộc các trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm thì cũng xem là nhiều tội phạm. Do đó, tái phạm và tái phạm nguy hiểm không phải là hai hình thức duy nhất của hành vi tái phạm tội.Pháp lý hình sự Việt Nam nêu trên đã khá thống nhất đưa ra các đặc điểm của phạm nhiều tội là trường hợp người phạm tội phạm từ hai tội phạm trở lên; những tội này chưa bị truy cứu TNHS và được đưa ra xét xử một lần. Tuy nhiên các quan điểm còn chưa đồng nhất nội dung là phạm nhiều tội chỉ tồn tại trong các điều luật khác nhau hoặc có thể trong cùng một điều luật của BLHS. Tác giả cho rằng trong nhiều trường hợp khi thực hiện hai hành vi phạm tội trở lên và những hành vi này thỏa mãn dấu hiệu của hai tội phạm trở lên và những tội phạm này được quy định trong cùng một điều luật của BLHS thì vẫn bị xem là nhiều tội phạm. Vì hiện nay trong BLHS năm 2015, kỹ thuật lập pháp có trường hợp một điều luật chứa đựng các dấu hiệu của một tội phạm44 nhưng cũng có trường hợp chứa đựng dấu hiệu pháp lý của hai tội phạm khác nhau trong cùng một điều luật. Do đó, theo tác giả mặc dù trong cùng một điều luật nhưng điều luật này chứa từ dấu hiệu pháp lý của hai tội phạm trở lên thì vẫn tồn tại phạm nhiều tội.Trong khoa học pháp lý hình sự nước ngoài thì phạm nhiều tội được định nghĩa với nhiều quan điểm khác nhau, cụ thể là:Tác giả Tomas Girdenis cho rằng phạm nhiều tội là trường hợp người phạm tội từ hai hoặc nhiều tội trở lên nhưng người phạm tội phải bị đưa ra xét xử và kết án một lần và phạm nhiều tội được xây dựng dựa trên 02 thuộc tính cơ bản: một là người phạm tội bị khởi tố vì nhiều tội danh; hai là những tội này được thực hiện trước khi bị kết án.46 Ngoài ra, trong công trình nghiên cứu này, tác giả đưa ra quan điểm không đồng ý khi định nghĩa phạm nhiều tội là phạm hai hoặc nhiều tội trở lên, bất kể người phạm tội có bị kết án trước đó hay chưa. Như vậy theo tác giả Tomas Girdenis thì những hành vi phạm tội của người phạm tội phải bị đưa ra xét xử và kết án trong cùng một lần là dấu hiệu cơ bản của phạm nhiều tội.Tác giả A. B. Shnitenkov cho rằng phạm nhiều tội là trường hợp một người có đủ năng lực TNHS thực hiện hai hay nhiều hành vi phạm tội có dấu hiệu của nhiều cấu thành khác nhau. Và theo tác giả, phạm nhiều tội được xác định bởi các yếu tố sau: một là, một người thực hiện thực hiện một số hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS được xem là tội phạm, hai là mỗi hành vi phạm tội chứa đựng các dấu hiệu pháp lý của một cấu thành độc lập.47 Quan điểm này thì nhấn mạnh hành vi phạm tội của người phạm tội phải thỏa mãn các dấu hiệu của các CTTP khác nhau được quy định trong BLHS là dấu hiệu cơ bản của phạm nhiều tội. Tác giả cho rằng chưa hợp lý, bởi vì có trường hợp người phạm tội phạm tội mới ngay sau khi được xóa án tích hoặc ngay sau khi hết thời hiệu truy cứu TNHS đối với các tội phạm cũ đã thực hiện trước đây, thì trong trường hợp này cũng không được xem là phạm nhiều tội. Do đó, theo tác giả, ngoài dấu hiệu chủ thể thực hiện từ hai tội phạm trở lên thì dấu hiệu tất cả những tội phạm này chưa được xóa án tích hoặc chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS và phải cùng bị đưa ra kết án trong một lần cũng là dấu hiệu đặc trưng của phạm nhiều tội.Từ phân tích các quan điểm nêu trên, tác giả cho rằng để làm rõ khái niệm “phạm nhiều tội” chúng ta cần phải làm rõ hai khái niệm “phạm tội” và “nhiều”. Trong đó, “phạm tội” được hiểu là những hành vi thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một hoặc nhiều CTTP được quy định trong BLHS; từ “nhiều” được hiểu là từ hai lần trở lên. Do đó, theo tác giả: “Phạm nhiều tội là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội thỏa mãn cấu thành tội phạm của hai tội phạm trở lên được quy định trong Bộ luật hình sự và được đưa ra xét xử cùng một lần trong một vụ án”. Từ định nghĩa này, phạm nhiều tội có các đặc điểm nêu sau:Một là, người phạm tội thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên hoặc một hành vi phạm tội nhưng phải thỏa mãn từ hai CTTP độc lập trở lên. Dấu hiệu đầu tiên của phạm nhiều tội là người phạm tội phải phạm từ hai tội phạm tội trở lên, người phạm tội có thể thực hiện nhiều hành vi phạm tội độc lập hoặc chỉ thực hiện một hành vi phạm tội nhưng phải thỏa mãn hai CTTP trở lên được quy định trong BLHS. Các CTTP này có thể được quy định trong các điều luật khác nhau quy định về các tội phạm khác nhau của BLHS hoặc trong cùng một điều luật mà điều luật này quy định nhiều tội phạm khác nhau của BLHS (ví dụ như Điều 304 BLHS năm 2015 về Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).Hai là, các tội phạm trong phạm nhiều tội chưa từng bị đưa ra xét xử, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS và các tội phạm này cùng bị đưa ra xét xử một lần. Trường hợp người thực hiện hai tội phạm nhưng một trong hai tội phạm này đã bị đưa ra xét xử trong một bản án có hiệu lực pháp luật thì không xem là phạm nhiều tội, mà có thể là các trường hợp tái phạm tội của người phạm tội.1.1.2.2. Phạm tội nhiều lầnPhạm tội nhiều lần là một trong các hình thức của nhiều tội phạm, nó không chỉ đóng vai trò là tình tiết tăng nặng TNHS mà còn là các dấu hiệu định khung hình phạt trong một số tội danh tại Phần các tội phạm của BLHS. Trong pháp luật hình sự Việt Nam, phạm tội nhiều lần được quy định với các tên gọi khác nhau. Cụ thể, theo quy định của pháp luật hình sự trước năm 1985, BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999, hình thức này được gọi là “phạm tội nhiều lần”.48 Còn theo quy định của BLHS năm 2015, nhà làm luật đã thay thuật ngữ “phạm tội nhiều lần” bằng thuật ngữ “phạm tội 02 lần trở lên”. Do đó, nếu xét về bản chất thì hình thức “phạm tội nhiều lần” và “phạm tội 02 lần trở lên” là giống nhau về mặt nội dung và chỉ khác nhau về cách dùng từ. Mặc dù BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 đều quy định phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng TNHS nhưng cho đến nay chưa có một văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm cụ thể về tình tiết này. Do đó hiện nay trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam thì phạm tội nhiều lần vẫn còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau.Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Phạm tội nhiều lần với tư cách là một loại nhiều tội phạm được hiểu là trường hợp một người phạm tội từ hai lần trở lên. Các tội phạm do người đó thực hiện có thể là giống nhau hoặc cũng có thể là các tội phạm khác nhau (cùng loại hoặc không cùng loại)”.Quan điểm thứ hai cho rằng: "Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên như hai lần trộm cắp, hai lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ba lần chứa mại dâm, bốn lần tham ô... và mỗi lần thực hiện hành vi đã cấu thành một tội phạm độc lập nhưng tất cả các tội phạm đó đều bị xét xử trong cùng một bản án".51Quan điểm thứ ba cho rằng: "Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều luật (hoặc tại cùng một khoản của điều luật) tương ứng trong phần riêng BLHS, đồng thời đối với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu TNHS và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử".52Quan điểm thứ tư cho rằng: “Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên đối với cùng một tội phạm”.53Quan điểm thứ năm cho rằng: “Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp phạm tội mà trước đó người phạm tội đã phạm tội này ít nhất là một lần và chưa bị xét xử”.Quan điểm thứ sáu cho rằng: “Phạm tội 02 lần trở lên là trường hợp người phạm tội có từ hai lần trở lên phạm cùng một loại tội, trong đó mỗi lần đều đã có đủ yếu tố CTTP, chưa bị truy cứu TNHS và chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS, nay các lần phạm tội đó được xét xử trong cùng một lần”.Như vậy, có thể thấy, trong khoa học pháp lý thế nào là phạm tội nhiều lần vẫn chưa có sự thống nhất và tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau. Tác giả không đồng ý với năm quan điểm đầu tiên vì nhóm quan điểm này khi đưa ra định nghĩa về phạm tội nhiều lần chưa mô tả đầy đủ các dấu hiệu của nó, cụ thể là: có quan điểm cho rằng dấu hiệu phạm tội nhiều lần đối với cùng một tội phạm là dấu hiệu cơ bản củ tình tiết này nhưng cũng có quan điểm cho rằng dấu hiệu tất cả các lần phạm tội phải bị xét xử cùng một lần là dấu hiệu bắt buộc của tình tiết này. Tác giả cho rằng là chưa phù hợp, vì ngoài dấu hiệu số lần phạm tội từ 02 lần trở lên thì dấu hiệu các lần phạm tội của người phạm tội phải bị xét xử cùng một lần cũng là dấu hiệu cơ bản của tình tiết phạm tội nhiều lần. Do đó, tác giả đồng tình với cách hiểu của quan điểm thứ sáu vì quan điểm này đã mô tả đầy đủ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của phạm tội nhiều lần: số lượng hành vi phạm tội, tính chất của từng hành vi phạm tội, …nên tác giả cho rằng: “Phạm tội nhiều lần là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội hai lần trở lên cùng một loại tội, trong đó mỗi hành vi đều đã có đủ yếu tố CTTP, chưa bị truy cứu TNHS, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS và các hành vi phạm tội đó được xét xử trong cùng một lần”.Từ khái niệm trên, có thể xác định các đặc điểm của phạm tội nhiều lần nhưsau:Thứ nhất, người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên.Thứ hai, hành vi nguy hiểm cho xã hội trong từng lần thực hiện tội phạm thỏa mãn đầy đủ dấu hiệu của một CTTP cụ thể được quy định trong BLHS.Thứ ba, các tội phạm được thực hiện phải cùng một loại tội phạm với nhau. Người phạm tội 02 lần trở lên phải thực hiện từ hai lần trở lên hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi lần thực hiện hành vi phải thỏa mãn các dấu hiệu của một CTTP độc lập và các hành vi này cùng thực hiện một loại tội phạm. Các hành vi phạm tội trong phạm tội 02 lần trở lên có thể cùng một CTTP (cùng là CTTP cơ bản hoặc CTTP tăng nặng hoặc CTTP giảm nhẹ) nhưng cũng có thể thuộc các CTTP khác nhau của cùng một tội phạm. Như tác giả phân tích các dấu hiệu của phạm nhiều tội nêu trên thì hiện nay trong BLHS năm 2015, kỹ thuật lập pháp có trường hợp một điều luật chứa đựng các dấu hiệu của một tội phạm nhưng cũng có trường hợp chứa đựng dấu hiệu pháp lý của hai tội phạm khác nhau trong cùng một điều luật. Do đó, hành vi của người phạm tội trong trường hợp phạm tội 02 lần trở lên có thể tồn tại trong cùng một điều luật hoặc trong các điều luật khác nhau nhưng phải đảm bảo điều kiện các hành vi phạm tội này là cùng một loại tội phạm.Thứ tư, các hành vi phạm tội trong phạm tội 02 lần trở lên chưa bị truy cứu TNHS và phải còn thời hiệu truy cứu TNHS nay các hành vi phạm tội này bị đưa ra xét xử cùng một lần.Như vậy, để đánh giá và xác định đúng phạm tội nhiều lần thì cần xác định những hành vi phạm tội của người phạm tội phải thỏa mãn đầy đủ cả bốn đặc điểm nêu trên, cả về số lần phạm tội và tính chất của từng hành vi phạm tội. Trường hợp các hành vi phạm tội không thỏa mãn đầy đủ một trong bốn đặc điểm nêu trên thì đây không thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần.1.1.2.3. Phạm tội có tính chất chuyên nghiệpMặc dù phạm tội có tính chất chuyên nghiệp được quy định trong BLHS từ khi ban hành BLHS năm 1985 cho đến nay, nó không chỉ được quy định với vai trò là tình tiết tăng nặng TNHS mà còn được quy định là dấu hiệu định khung hình phạt của một số tội danh trong các BLHS. Tuy nhiên, khái niệm của tình tiết này vẫn chưa được quy định chính thức trong các BLHS mà nó chỉ được đề cập trong các văn bản hướng dẫn của TANDTC khi áp dụng tình tiết này trong hoạt động xét xử. Cụ thể tại mục 5.1 của Nghị quyết số 01 thì phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp cố ý phạm tội từ 05 lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu TNHS hay chưa bị truy cứu TNHS, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa được xóa án tích; đồng thời, người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.56 Ngoài hướng dẫn của Nghị quyết số 01, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp còn được hướng dẫn tại điểm 3 Điều 5 Nghị quyết số 03 hướng dẫn áp dụng Điều 324 BLHS năm 2015 về tội rửa tiền, theo đó tình tiết “có tính chất chuyên nghiệp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 324 BLHS là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi rửa tiền từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu TNHS hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc rửa tiền làm nguồn thu nhập”.57 Tuy nhiên, do nội dung hướng dẫn tại Nghị quyết số 01 và Nghị quyết số 03 không hoàn toàn giống nhau, nên trong khoa học luật hình sự Việt Nam vẫn còn có một số quan điểm khác nhau về phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, cụ thể:Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm, không phân biệt đã bị truy cứu TNHS, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa được xóa án tích, đồng thời người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính”.Quan điểm thứ hai cho rằng: “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là một dạng của chế định đa tội phạm. Theo đó, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là một dạng của phạm tội nhiều lần, có tính chất liên tục và nhằm mục đích vụ lợi hay làm giàu bất chính mà hoạt động phạm tội đã trở thành hệ thống và tạo nên nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu của người phạm tội”.Quan điểm thứ ba cho rằng: “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là phạm tội có tính chất liên tiếp từ năm lần trở lên, chuyên lấy việc phạm tội làm nghề sống và lấy tài sản, kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính”.Quan điểm thứ tư cho rằng: “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp người phạm tội chuyên lấy việc phạm tội làm nghề sống chính hoặc tạo ra nguồn thu nhập chính. Mức độ tăng nặng của tình tiết phụ thuộc vào mức độ chuyên nghiệp, thời gian hoạt động phạm tội, mức độ thu nhập bằng con đường phạm tội”.61Như vậy, hầu hết các quan điểm trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam đều cho rằng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp người phạm tội lấy các khoản lợi thu được từ các lần phạm tội để làm nguồn thu nhập phục vụ cho cuộc sống của người phạm tội. Tuy nhiên, các quan điểm nêu trên chưa đồng nhất với nhau về việc xác định số lần phạm tội trong phạm tội có tính chất chuyên nghiệp: có quan điểm cho rằng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp phải từ 05 lần trở lên, có quan điểm cho rằng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là hành vi phạm tội lặp đi lặp lại nhiều lần (có thể hai lần, ba lần, bốn lần, … tùy thuộc vào tính chất của từng loại tội phạm được thực hiện). Ngoài ra, phần lớn các quan điểm trên còn nhận định cho rằng người phạm tội trong phạm tội có tính chất chuyên nghiệp phải xem việc phạm tội là “nghề sinh sống” và lấy các khoản thu được từ các lần phạm tội làm “nguồn sống chính”. Tác giả không đồng ý với nội dung này, bởi vì thực tiễn cho thấy trong nhiều trường hợp người phạm tội có công việc làm ổn định, có nguồn thu nhập chính nhưng vẫn thực hiện nhiều hành vi phạm tội mang tính chuyên nghiệp về cùng một tội phạm hoặc trong một số trường hợp không xem việc phạm tội là phương tiện để kiếm sống mà chỉ có nhu cầu làm tăng thu nhập nên phạm tội lặp đi lặp lại nhiều lần để phục vụ thêm cho nhu cầu sống của bản thân. Cho nên, theo tác giả việc xác định dấu hiệu “nghề sinh sống” hoặc “nguồn sống chính” trong mọi trường hợp khi áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là không phù hợp và khó xác định trong thực tiễn xét xử.Nghiên cứu một số quan điểm của các nhà khoa học pháp lý hình sự nước ngoài thì hiện nay phạm tội có tính chất chuyên nghiệp cũng được quan tâm và định nghĩa ở nhiều góc độ khác nhau, cụ thể là:Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Hoạt động tội phạm chuyên nghiệp là hoạt động bất hợp pháp của người có kinh nghiệm, kỹ năng, phương pháp và công cụ tương ứng, người coi hoạt động này là nghề cơ bản và là nguồn thu nhập tiền chính hoặc phụ”.Quan điểm thứ hai cho rằng: “Phạm tội chuyên nghiệp được xem như là một nghề vi phạm pháp luật, là nguồn cung cấp phương kế cho tội phạm; nó đòi hỏi kiến thức và kỹ năng cần thiết để đạt được mục tiêu cuối cùng; nó tạo ra những mối quan hệ nhất định với tư tưởng chống đối xã hội; nó xác định việc phạm tội là công việc ổn định (đáp ứng đủ các yếu tố giống như các nghề thông thường). Tính chuyên nghiệp trong việc phạm tội tạo cơ hội cho việc chuẩn bị, phạm tội và che đậy dấu vết để tránh trách nhiệm hình sự, có thu nhập ổn định”.Quan điểm thứ ba cho rằng: “Người phạm tội chuyên nghiệp là một người đã nhiều lần phạm tội, sử dụng kiến thức và kỹ năng đặc biệt, để tạo ra nguồn thu nhập chính hoặc phụ”.Nhìn chung quan điểm của các nhà khoa học pháp lý hình sự nước ngoài thì cho rằng đặc điểm nổi bật của phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là người phạm tội đã sử dụng các kinh nghiệm, kỹ năng, phương pháp thực hiện tội phạm một cách chuyên nghiệp. Ngoài ra, để xác định tính “chuyên nghiệp” trong phạm tội có tính chất chuyên nghiệp thì các quan điểm này còn cho rằng người phạm tội xem việc phạm tội như một nghề cơ bản để kiếm các nguồn thu nhập phục vụ cho bản thân cũng như cho rằng số lần phạm tội của người phạm tội sẽ không đánh giá một cách đầy đủ là người phạm tội có tính chuyên nghiệp hay không.Từ các nội dung nêu trên, theo tác giả, để đưa ra khái niệm phạm tội có tính chất chuyên nghiệp chính xác và đầy đủ thì cần phải làm rõ bản chất của cụm từ “có tính chất chuyên nghiệp” trong tên gọi của tình tiết này. Theo từ điển tiếng Việt thì “chuyên nghiệp là chuyên một nghề làm ăn nhất định và có học hành về nghề nghiệp đó”.65 Tuy nhiên, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội và phải gánh chịu hậu quả pháp lý là TNHS nên không thể đồng nhất cách hiểu “chuyên nghiệp” nêu trên trong tội phạm giống như là một nghề nghiệp bình thường của xã hội. Theo tác giả, bản chất của cụm từ “có tính chất chuyên nghiệp” đối với hành vi phạm tội được thể hiện ở chỗ hành vi phạm tội này được lặp đi lặp lại nhiều lần mà người phạm tội đã sử dụng những kỹ năng, phương pháp nhất định trong các lần thực hiện tội phạm và lấy các khoản thu được từ việc phạm tội làm nguồn thu nhập. Do đó, theo tác giả để làm rõ khái niệm phạm tội có tính chất chuyên nghiệp cần làm sáng tỏ các nội dung sau:Thứ nhất, tội phạm được lặp đi lặp lại nhiều lần được hiểu như thế nào? Tội phạm được thực hiện bao nhiêu lần thì được coi là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp? Như tác giả phân tích nêu trên thì hiện nay vấn đề này còn nhiều quan điểm khác nhau: có quan điểm cho rằng phạm tội từ 02 lần trở lên thì được xem là lặp đi lặp lại nhiều lần, hoặc có quan điểm cho rằng phải từ 05 lần phạm tội trở lên thì mới được xem là lặp đi lặp lại nhiều lần. Tác giả cho rằng phạm tội 02 lần trở lên không thể xem là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp được, bởi vì quy định này sẽ dẫn đến trùng lặp với tình tiết phạm tội 02 lần trở lên và với 02 lần phạm tội thì không thể đánh giá hành vi của người phạm tội là “chuyên nghiệp” hay “không chuyên nghiệp”. Còn trường hợp khi cho phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là phải phạm tội từ 05 lần trở lên cũng không phù hợp, bởi vì nếu quy định như thế này chủ yếu để phân biệt phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và phạm tội 02 lần trở lên và thực tiễn xét xử hầu hết chỉ quan tâm đến số lần phạm tội để kết luận có phạm tội có tính chất chuyên nghiệp hay không mà không quan tâm đến các dấu hiệu khác của phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Do đó theo tác giả, tội phạm được lặp đi lặp lại nhiều lần được hiểu là hành vi phạm tội đã được thực hiện nhiều lần, lặp đi lặp lại trong một khoảng thời gian nhất định, không phụ thuộc các hành vi phạm tội này đã bị xét xử hay chưa mà chỉ cần những hành vi phạm tội này chưa được xóa án tích hoặc chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS, cùng gây thiệt hại cho một khách thể trực tiếp hoặc khách thể có cùng tính chất được Luật hình sự bảo vệ.Thứ hai, người phạm tội lấy các khoản thu được từ việc phạm tội làm nguồn thu nhập được hiểu như thế nào? Hiện nay có hai cách hiểu khác nhau về dấu hiệu này: một là người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính; hai là, người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nguồn sống chính. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy rằng trong nhiều trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội lặp đi lặp lại nhiều lần nhưng không xem việc phạm tội là một nghề để kiếm sống mà chỉ nhằm mục đích có thu nhập để đáp ứng các nhu cầu của người phạm tội. Xuất phát từ bản chất “có tính chất chuyên nghiệp” là hành vi phạm tội được lặp đi lặp lại nhiều lần nên tác giả cho rằng không nên xem việc phạm tội trong phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là một nghề kiếm sống mà chỉ cần xác định người phạm tội lấy việc phạm tội để tạo ra các nguồn thu nhập cho bản thân phục vụ các nhu cầu của người phạm tội, nguồn thu nhập này có thể là nguồn thu nhập chủ yếu hoặc nguồn thu nhập thứ yếu chỉ giúp làm tăng thu nhập cho người phạm tội.Từ các nội dung phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm như sau: “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là trường hợp hành vi phạm tội lặp đi lặp lại nhiều lần trong một khoản thời gian nhất định, những hành vi phạm tội này chưa được xóa án tích hoặc chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS, cùng xâm hại đến một hoặc nhiều khách thể có cùng tính chất và người phạm tội lấy các lần phạm tội làm nguồn thu nhập cho bản thân”Tóm lại, theo tác giả, các trường hợp tái phạm tội là hành vi phạm tội lại lần nữa của người đã từng bị kết án nhưng chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội mới. Do đó, để đưa ra một khái niệm về tái phạm tội chính xác nhất thì trong khái niệm phải chứa đựng bản chất pháp lý và những điều kiện đặc trưng của tái phạm tội, cụ thể là:+  Thứ nhất, người phạm tội là người đã từng bị kết án về ít nhất một tội phạm theo quy định của pháp luật và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật;+  Thứ hai, người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội mới sau khi bản án của những hành vi phạm tội cũ đã có hiệu lực pháp luật;+  Thứ ba, bản án kết tội đối với hành vi phạm tội cũ vẫn chưa được xóa án tích vào thời điểm người phạm tội thực hiện tội phạm mới.Từ nội dung phân tích trên, tác giả có thể đưa ra khái niệm các trường hợp tái phạm tội như sau: “Tái phạm tội là trường hợp người phạm tội thực hiện tội phạm mới trong thời gian chưa được xóa án tích về tội phạm mà người đó đã bị kết án trước đó”. Từ định nghĩa này cho thấy, tái phạm tội không chỉ bao gồm tái phạm, tái phạm nguy hiểm hoặc tái phạm đặc biệt nguy hiểm mà còn bao gồm các trường hợp người phạm tội đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nhưng không thuộc các trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm hoặc tái phạm đặc biệt nguy hiểm.1.1.3. Phân biệt nhiều tội phạm với các dạng cấu trúc đặc biệt của hành vi khách quan của tội phạmTrong thực tiễn xét xử nhận thấy rằng mỗi một tội phạm, người phạm tội thực hiện một hành vi khách quan tại một thời điểm nhất định nhưng cũng có trường hợp hành vi khách quan được thực hiện ở dạng cấu trúc đặc biệt, bao gồm tội kéo dài, tội liên tục, tội ghép. Tuy nhiên, hiện nay một số hình thức của các dạng cấu trúc đặc biệt của hành vi khách quan của tội phạm có những dấu hiệu rất dễ nhầm lẫn với các dấu hiệu của nhiều tội phạm. Do đó, để đảm bảo tính chính xác khi định tội danh và QĐHP thì cần phân biệt ranh giới giữa nhiều tội phạm và các dạng cấu trúc đặc biệt của hành vi khách quan của tội phạm. Cụ thể như sau:Tội kéo dài là tội phạm có hành vi khách quan diễn ra không gián đoạn trong một khoảng thời gian dài.72 Hành vi khách quan trong tội kéo dài được thực hiện một lần có thể bằng hành động hoặc không hành động, hành vi kéo dài trong một khoản thời gian nhất định và hành vi kéo dài cho đến khi người phạm tội bị bắt giữ. Trong trường hợp này, về bản chất hành vi phạm tội kéo dài từ lúc bắt đầu được thực hiện và thường chỉ kết thúc khi tội phạm bị phát hiện bắt giữ hoặc người phạm tội chủ động kết thúc việc phạm tội đó. Ví dụ: Tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng (Điều 304 BLHS năm 2015) bắt đầu từ khi người phạm tội có hành vi cất giữ vũ khí quân dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đến khi bị phát hiện hoặc họ tự ra đầu thú. Như vậy, sự khác nhau cơ bản của tội kéo dài và nhiều tội phạm thể hiện ở chỗ: tội kéo dài thì người phạm tội chỉ thực hiện một hành vi phạm tội nhưng mang tính chất kéo dài và hành vi này cấu thành một tội phạm duy nhất, còn nhiều tội phạm thì hành vi của người phạm tội thực hiện thỏa mãn dấu hiệu của từ hai tội phạm độc lập trở lên.Tội liên tục là tội phạm mà hành vi khách quan có tính liên tục, bao gồm nhiều hành vi cùng loại xảy ra kế tiếp nhau về mặt thời gian, cùng xâm hại một quan hệ xã hội và cùng bị chi phối bởi một ý định phạm tội cụ thể, thống nhất.73 Nói cách khác, phạm tội liên tục là trường hợp người phạm tội thực hiện liên tục nhiều hành động phạm tội cùng tính chất đối với cùng một đối tượng và vì vậy cấu thành một tội phạm. Ví dụ: Tội bức tử (Điều 130 BLHS năm 2015) người phạm tội đã có hành vi thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình dẫn đến việc người đó tự sát. Hành vi ức hiếp, ngược đãi phải xảy ra liên tục, thường xuyên thì mới cấu thành tội bức tử. Hoặc trường hợp tội đầu cơ (Điều 196 BLHS năm 2015), hành vi “mua vét” hàng hóa - mua số lượng lớn hàng hóa, có thể mua một lần hoặc nhiều lần với số lượng hàng hóa nào đó vượt quá nhiều lần nhu cầu tiêu dùng của gia đình, nhu cầu dự trữ của nghề nghiệp trong điều kiện hàng hóa khan hiếm, … đồng thời việc mua vét này có căn cứ chứng minh nhằm bán lại để thu lợi bất chính. Nhìn chung, trong trường hợp tội liên tục và nhiều tội phạm thì người phạm tội đều thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên nhưng đối với tội liên tục thì các hành vi phạm tội này chỉ cấu thành một tội phạm cụ thể, còn trường hợp nhiều tội phạm thì các hành vi phạm tội cấu thành hai tội phạm độc lập với nhau. Đây chính là sự khác biệt giữa phạm tội liên tục và nhiều tội phạm.Tội ghép là loại tội phạm mà hành vi khách quan được hình thành từ nhiều hành vi khác nhau, xảy ra đồng thời, xâm phạm các khách thể khác nhau.74 Nói cách khác, tội ghép có thể được hiểu là trường hợp phạm tội bao gồm hai hành vi phạm tội trở lên, nhưng vì sự thống nhất bên trong của các hành vi đó nên chỉ cấu thành một tội phạm. Ví dụ: Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169 BLHS năm 2015). Tội danh này bao gồm hai hành vi phạm tội, xâm hại đến hai khách thể khác nhau đó là quan hệ sở hữu tài sản và quan hệ nhân thân. Tuy nhiên, về mặt chủ quan, mục đích của người phạm tội là chỉ nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản nên chỉ cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169 BLHS năm 2015). Mỗi hành vi phạm tội trong tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169 BLHS năm 2015) có thể được đánh giá như một tội phạm độc lập, nhưng vì sự thống nhất bên trong (mục đích chiếm đoạt tài sản) của chúng mà các hành vi đó hợp lại thành cấu thành một tội phạm chứ không phải nhiều tội phạm. Như vậy, có thể thấy đó các hành vi phạm tội trong tội ghép xảy ra cùng nhau tại một thời điểm, mặc dù từng hành vi phạm tội có thể được đánh giá như một tội phạm độc lập, xâm hại những khách thể khác nhau nhưng vì sự thống nhất bên trong của các hành vi phạm tội này mà chỉ được quy định thành một tội phạm trong BLHS và chỉ bị xét xử cùng một tội được quy định trong BLHS. Trong khi đó trường hợp nhiều tội phạm, mặc dù người phạm tội thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên nhưng những hành vi này không có tính thống nhất bên trong và xâm hại đến các khách thể khác nhau hoặc xâm hại đến cùng một khách thể nhưng nhiều lần khác nhau1.2. Lý luận về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự liên quan đến nhiều tội phạm1.2.1. Khái niệm của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự liên quan đến nhiều tội phạmĐể đưa ra khái niệm các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm thì tác giả nghiên cứu làm rõ nội dung khái niệm các tình tiết tăng nặng TNHS. Từ khái niệm về các tình tiết tăng nặng TNHS theo góc độ tác giả đã tiếp cận kết hợp cùng khái niệm, đặc điểm của nhiều tội phạm được nghiên cứu tại mục 1.1, tác giả đưa ra khái niệm các tình tiết tăng nặng TNHS liên quan đến nhiều tội phạm.Theo quy định của BLHS, khi QĐHP, Tòa án ngoài việc căn cứ theo quy định của BLHS thì Tòa án còn căn cứ vào nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS.77 Vì vậy việc nghiên cứu làm rõ khái niệm các tình tiết tăng nặng TNHS góp phần to lớn cho hoạt động xét xử của Tòa án. Hiện nay, trong văn bản pháp luật hình sự Việt Nam, khái niệm các tình tiết tăng nặng TNHS vẫn chưa được ghi nhận chính thức bằng một quy phạm pháp luật hình sự. Do đó, trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam hiện nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm các tình tiết tăng nặng TNHS, cụ thể như sau:Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết không có ý nghĩa về mặt định tội, định khung hình phạt mà chỉ có ý nghĩa làm tăng mức độ TNHS trong phạm vi một khung hình phạt nhất định”.78Quan điểm thứ hai cho rằng: “Tình tiết tăng nặng TNHS là tình tiết làm cho mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể của một loại tội phạm tăng lên so với trường hợp bình thường và do đó được coi là căn cứ để tăng nặng TNHS đối với trường hợp phạm tội đó”.79Quan điểm thứ ba cho rằng: “Các tình tiết tăng nặng TNHS có ảnh hưởng tới mức độ nguy hiểm của một tội phạm trong các trường hợp cụ thể khác nhau và có ý nghĩa khi QĐHP vì chúng làm tăng lên mức hình phạt cần áp dụng đối với tội phạm đã thực hiện trong giới hạn khung hình phạt mà luật hình sự quy định với tội phạm đó”.80Quan điểm thứ tư cho rằng: “Những tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết làm cho một hành vi phạm tội hoặc người phạm tội tăng lên mức độ nguy hiểm cho xã hội để từ đó cần áp dụng hình phạt nặng hơn trong phạm vi một khung hình phạt đã được xác định”.81Quan điểm thứ năm cho rằng: “Các tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết được quy định trong BLHS phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khả năng cải tạo giáo dục của người phạm tội. Các tình tiết tăng nặng có ý nghĩa trong việc QĐHP, làm tăng hình phạt trong giới hạn một khung hình phạt”.Theo: Nguyễn Thị Minh TrâmLink luận án: https://docs.google.com/document/d/11K7u7VITITpKZGu49A2YEKYmObB6f6LX/edit
Đặng Quỳnh
251 ngày trước
Bài viết
HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA TÒA ÁN
 4.2. Giải pháp hoàn thiện hoạt động giải thích văn bản quy phạm pháp luật của tòa án Việt Nam4.2.1.   Thừa nhận thẩm quyền giải thích văn bản quy phạm pháp luật theo vụ việc của tòa ánThực tiễn đã chứng minh một hoạt động mang tính pháp lý chỉ phát triển thực sự khi chủ thể thực hiện hoạt động đó có thẩm quyền và có cơ sở pháp lý đầy đủ để triển khai. Đối với hoạt động GTVBQPPL thì điều này cũng không ngoại lệ. Xuất phát từ câu châm ngôn “de minimis non curat lex”609 (luật pháp không tự thân quan tâm đến các tiểu tiết) nên giải thích của TANDTC qua các VBQPPL hướng dẫn áp dụng pháp luật hay công văn giải đáp cũng chỉ là các giải thích chung chung không gắn với kết quả áp dụng cho từng vụ việc, không thể đáp ứng kịp thời nhu cầu giải thích và sản phẩm giải thích khó có thể đảm bảo công bằng.Chức năng xét xử được thực hiện bởi thẩm phán, vì vậy khi đề cập đến thẩm quyền GTVBQPPL của tòa án chính là đề cập đến thẩm quyền của thẩm phán vì thẩm phán luôn là thành phần chính là hiện thân của tòa án.610 Ciecero đã nhấn mạnh “đạo luật là một quan tòa câm, quan tòa là một đạo luật biết nói”.611 Montesquieu cũng đã từng ví “thẩm phán” không phải “tòa án” như “cái miệng của pháp luật”. Chính vì vậy, GTVBQPPL đúng nghĩa nhất phải là giải thích của thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ việc cụ thể.Nguyên tắc “bất khẳng thụ lý” nổi tiếng trong Bộ luật Dân sự Pháp cho thấy nghĩa vụ GTVBQPPL cũng thuộc về cá nhân thẩm phán: “nếu thẩm phán viện lý do rằng luật im lặng, không rõ ràng hoặc không đầy đủ để không phán quyết thì có thể bị kết tội trì hoãn công lý”.613 Nguyên tắc này từng được ghi nhận lại trong các bộ luật dân sự ở Việt Nam thời Pháp thuộc để cấm thẩm phán tạo ra các quy tắc chung trong quá trình phán quyết nhưng phải có nghĩa vụ GTVBQPPL.614 Đến năm 2015, nguyên tắc này được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự nước ta hiện hành nhưng rất tiếc rằng nghĩa vụ trong quy định được chuyển từ cá nhân thẩm phán sang tổ chức tòa án: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”.Từ đó những phân tích trên cho thấy Việt Nam nên thừa nhận thẩm quyền GTVBQPPL của tòa án theo hướng đây là thẩm quyền của thẩm phán trong quá trình giải quyết các vụ việc cụ thể không phải đặc quyền của TANDTC. Bất kỳ thẩm phán nào, thuộc tòa án cấp nào cũng có thẩm quyền giải thích tất cả các VBQPPL có liên quan trong quá trình xét xử. GTVBQPPL của thẩm phán tòa án cấp dưới sẽ được kiểm tra bởi thẩm phán tòa án cấp trên thông qua quá trình tố tụng và theo đó thẩm quyền GTVBQPPL cao nhất trong ngành tòa án thuộc về Hội đồng thẩm phán TANDTC. Kết quả giải thích có tính chuẩn mực trong việc định hướng áp dụng pháp luật sẽ được chọn lọc và công bố thành án lệ.Về cách thức thừa nhận thẩm quyền GTVBQPPL của tòa án, có quan điểm cho rằng nếu thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh của UBTVQH nước ta đã là quyền hiến định thì thẩm quyền GTVBQPPL mang tính vụ việc của tòa án cũng cần được ghi nhận rõ ràng trong Hiến pháp. Tuy nhiên, từ kết quả phân tích thẩm quyền GTVBQPPL của tòa án ở các nước Thông luật và Dân luật cho thấy thẩm quyền GTVBQPPL (trừ hiến pháp ở một số nước) không được chính thức ghi nhận trong các VBQPPL mà được hiểu thông qua giải thích hoặc thông qua tập quán. Từ kinh nghiệm có được về vấn đề ghi nhận thẩm quyền GTVBQPPL của tòa án các nước Thông luật và Dân luật, trong điều kiện chưa thể sửa đổi Hiến pháp như hiện nay thì UBTVQH cần triển khai thẩm quyền hiến định của mình để giải thích làm rõ nội hàm “quyền tư pháp” tại khoản 1 Điều 102 của Hiến pháp năm 2013. Bằng phương pháp giải thích hệ thống (như đã được trình bày trong phần 4.1.1.1 của luận án) và bằng phương pháp so sánh cách hiểu quyền tư pháp ở các nước, kết hợp với quan điểm của các học giả trong nước hiện nay, UBTVQH hoàn toàn có thể công nhận tòa án có thẩm quyền giải thích tất cả các VBQPPL kể cả Hiến pháp trong quá trình áp dụng pháp luật.Trong tương lai, quyền bảo hiến nếu được trao cho TANDTC hay một cơ quan chuyên trách khác như Tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng Hiến pháp thì cơ quan đó sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc giải thích Hiến pháp. Kinh nghiệm từ các nước Thông luật và cả Dân luật đều cho thấy, thẩm phán cần dựa vào Hiến pháp để làm rõ nghĩa các quy định thành văn khác trong cùng hệ thống pháp luật. Bản chất hiến pháp là giống nhau ở các nước, đều là luật gốc, có giá trị pháp lý tối thượng. Do đó, không ngoại lệ thẩm phán nước ta cũng cần có quyền giải thích Hiến pháp để lấy đó làm căn cứ cho việc giải thích các VBQPPL khác có liên quan nhằm đảm bảo tính hệ thống, tính hợp hiến trong quá trình tìm nghĩa của các quy định thành văn. Việc trao quyền GTVBQPPL theo vụ việc cho tòa án là hoàn toàn có cơ sở và có tính khả thi vì các lý do sau đây:4.2.1.1. Thẩm quyền giải thích văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhánh lập pháp đã được lịch sử chứng minh là không phù hợpLà một nước xã hội chủ nghĩa, kế thừa từ pháp luật Xô Viết, Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ trao quyền GTPL nói chung (Hiến pháp năm 1959) và trao quyền giải thích hiến pháp, luật và pháp lệnh (Hiến pháp năm 1980, 1992 và năm 2013) cho UBTVQH. Qua hơn nửa thế kỷ được trao quyền, UBTVQH dường như bỏ quên việc triển khai thẩm quyền giải thích các VBQPPL được giao. Đây chính là một minh chứng cho thấy tính không hợp lý và không hiệu quả của việc trao thẩm quyền GTVBQPPL cho nhánh lập pháp. Việc bỏ quên nhiệm vụ GTVBQPPL này không hẳn là lỗi của UBTVQH, mà còn ở cách thức hay mô hình tổ chức quyền lực nhà nước. Về bản chất, UBTVQH chủ yếu thực hiện chức năng của một cơ quan thường trực như triệu tập Quốc hội, điều hòa phối hợp hoạt động của các Ủy ban Quốc hội, hằng ngày UBTVQH không va chạm với các vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật nên không thể tự nhận ra nhu cầu giải thích.4.2.1.2. Giải thích văn bản quy phạm pháp luật của tòa án trong quá trình áp dụng pháp luật là hoạt động tất yếu, không thể phủ nhậnTòa án là cơ quan xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng, để giải quyết một vụ án từ lúc nhận đơn, đến lúc ra phán quyết tòa án phải trải qua nhiều công đoạn trong đó không thể thiếu việc phải tìm kiếm quy định có liên quan, giải thích làm rõ nghĩa và xác định được phạm vi áp dụng của các quy định đó. Nếu có nhiều quy định liên quan tòa án phải giải thích để chọn lựa quy định nào phù hợp hơn, nếu không có quy định điều chỉnh trực tiếp tòa án cũng phải giải thích để có thể áp dụng tương tự pháp luật hoặc lẽ công bằng. Chính vì GTVBQPPL gắn liền với hoạt động áp dụng VBQPPL nên GTVBQPPL không chỉ diễn ra trong quá trình xét xử mà còn diễn ra khi các chủ thể khác trong tòa án xem xét đơn khởi kiện; quyết định áp dụng hay không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; giải quyết các khiếu nại trong quá trình tố tụng hay giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử …Ví dụ, để nhận hay yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện vụ án dân sự mà đơn này không có ghi quốc hiệu “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thẩm phán phải giải thích Điều 193 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Theo đó, thẩm phán chỉ được yêu cầu sửa đổi, bổ sung trong trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 4 Điều 189 trên không có đề cập đến quốc hiệu. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng cần phải sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện vì không đúng với mẫu đơn khởi kiện được ban hành kèm theo Nghị quyết 01/2017/NQ-HDTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC. Đây chính là trường hợp thẩm phán cần GTVBQPPL, để có được quyết định đúng đắn thẩm phán phải cân nhắc nhiều yếu tố như tập quán viết đơn từ, mục đích của các nội dung cần phải có trong đơn khởi kiện, bản chất dân chủ của nhà nước, tính chất pháp lý của các mẫu do cơ quan nhà nước ban hành, giá trị hiệu lực pháp lý của Bộ luật và nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TANDTC.Vì tính tất yếu của hoạt động GTVBQPPL của tòa án nên trao  thẩm quyền GTVBQPPL cho tòa án phù hợp với thực tế đã và đang diễn ra tại Việt Nam. Hàng chục năm nay, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã quen với việc hướng dẫn tòa án cấp dưới hiểu và áp dụng các quy định pháp luật thành văn một cách thống nhất thông qua các nghị quyết, báo cáo tổng kết đến các công văn và giải đáp. Không ít căn cứ, phương pháp GTVBQPPL được thẩm phán Thông luật và Dân luật sử dụng bước đầu đã được TANDTC sử dụng làm rõ nghĩa của các quy định thành văn. Trao quyền GTVBQPPL thông qua hoạt động xét xử thì Hội đồng thẩm phán TANDTC sẽ trở thành cơ quan có thẩm quyền GTVBQPPL cao nhất và cũng là cơ quan có thẩm quyền giải thích cuối cùng. Chỉ có điều kinh nghiệm giải thích của TANDTC trong điều kiện mới nên thể hiện tập trung trong các phán quyết tư pháp cá biệt của Hội đồng thẩm phán, góp phần phát triển án lệ và việc áp dụng thống nhất pháp luật sẽ được thực hiện thông qua án lệ.4.2.1.3. Thừa nhận thẩm quyền giải thích văn bản quy phạm pháp luật theo vụ việc của tòa án phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta hiện nayBắt đầu từ việc tổng kết nhận thức và thực tiễn về tư pháp trong quá khứ, Đảng và nhà nước đã phát hiện ra những vấn đề có tính quy luật để từ đó đề xuất những thay đổi cần phải có về tư pháp trong tương lai. Theo đó, vấn đề cải cách tư pháp ở Việt Nam đã được Bộ chính trị đề ra trong Nghị quyết 08-NQ/TW năm 2002 và Nghị quyết 49-NQ/TW năm 2005 và gần đây nhất tiếp tục được đặt ra trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng như một điều kiện để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Theo ông Nguyễn Hòa Bình, Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TANDTC thì nội dung đầu tiên cần cải cách tư pháp ở nước ta trong thời gian tới là phải làm rõ chủ thể thực hiện quyền tư pháp và nội hàm quyền tư pháp.621 Hiện nay, Hiến pháp năm 2013 của nước ta đã phân định Quốc hội giữ quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, Tòa án thực hiện quyền tư pháp.622 Như vậy, chỉ duy nhất “Tòa án thực hiện quyền tư pháp” nhưng nội hàm quyền tư pháp bao gồm những quyền gì vẫn chưa được làm rõ. Theo tác giả Võ Khánh Vinh thì thẩm quyền GTPL của tòa án xuất phát từ quyền tư pháp được phân giao. Nội dung của quyền tư pháp bao gồm thẩm quyền xét xử và phán quyết về các tranh chấp, xây dựng và phát triển án lệ; kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các quyết định, hoạt động của các cơ quan nhà nước trong đó có thẩm quyền GTPL nói chung.623 Nhìn nhận quyền GTPL là một phần không thể thiếu của quyền tư pháp, tác giả Nguyễn Đăng Dung cho rằng trao quyền giải thích hiến pháp, luật và pháp lệnh cho UBTVQH là nhầm lẫn giữa quyền lập pháp và tư pháp.624 Mặc dù vậy, bên trên chỉ là quan điểm của các chuyên gia, để cải cách tư pháp hiệu quả cần có giải thích chính thức của UBTVQH để có cách hiểu thống nhất về nội hàm quyền tư pháp. Giải thích làm rõ nội hàm quyền tư pháp bao gồm quyền GTVBQPPL vừa phù hợp với cách hiểu của thông lệ quốc tế, của các nhà khoa học trong nước đồng thời sớm hoàn thành nội dung cốt lõi của cải cách tư pháp nước ta trong thời gian tới.Tài sản quý giá nhất của nhánh tư pháp chính là niềm tin của công chúng. Để có được niềm tin của công chúng tòa án không chỉ cần phải công khai quyết định tư pháp mà từ lý lẽ nào để có được các quyết định đó cũng cần được công khai. Chính vì vậy, việc thừa nhận thẩm quyền GTVBQPPL theo vụ việc của tòa án là điều kiện cần thiết để pháp luật tố tụng có cơ sở yêu cầu thẩm phán công khai tư duy của mình trong các phán quyết tư pháp về cách hiểu các quy định được áp dụng. Để làm được điều này đòi hỏi các thẩm phán phải không ngừng cập nhật kiến thức pháp luật, kiến thức kinh tế - xã hội một cách toàn diện, trao dồi kỹ năng giải thích, áp dụng pháp luật, kỹ năng viết bản án hợp lý, đúng pháp luật và đủ sức thuyết phục. Công khai tư pháp là liều thuốc hiệu quả để phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng, xây dựng một nền tư pháp vừa chuyên nghiệp vừa trong sạch theo định hướng cải cách tư pháp.625 Như vậy, làm rõ thẩm quyền GTVBQPPL theo vụ việc của tòa án góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp và độc lập của thẩm phán, là điều kiện tiên quyết để nâng cao uy tín của tòa án theo Chiến lược cải cách tư pháp mà Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra.626 Cho dù con đường đi đến việc xây dựng các phán quyết tư pháp công khai, minh bạch với đầy đủ các lập luận giải thích làm rõ lý do dẫn đến phán quyết không phải con đường ngắn và thuận tiện trong điều kiện hiện nay nhưng mục tiêu có đạt được hay không phụ thuộc vào quyết tâm và thời gian khởi động những điều cần thiết.4.2.1.4. Thừa nhận thẩm quyền giải thích văn bản quy phạm pháp luật cho tòa án trong quá trình áp dụng pháp luật tạo điều kiện cho án lệ phát triểnGTVBQPPL thông qua thực tiễn xét xử là điều kiện tiên quyết để án lệ được hình thành và phát triển. Để một phán quyết trở thành án lệ thì phán quyết đó phải chỉ rõ trong một vụ án cụ thể có những vấn đề pháp lý nào và các vấn đề đó được giải quyết ra sao. Đó có thể là các vấn đề mà pháp luật chưa quy định cụ thể, đầy đủ hoặc quy định được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Không có sự thể hiện yếu tố giải thích trong các bản án thì không thể có được các phán quyết mang tính án lệ, điều này được miêu tả theo lối so sánh của một luật sư nổi tiếng là “không có bột” làm sao “gột nên hồ”.627Lý lẽ tạo lập án lệ là yếu tố cốt lõi tạo ra sức thuyết phục của án lệ, giá trị của án lệ phụ thuộc chủ yếu vào các lý lẽ đó.628 Một khi tòa án chưa có thẩm quyền GTVBQPPL trong quá trình áp dụng pháp luật thì cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý để thực hiện quyền giải thích đó chưa thể được hình thành và phát triển. Chính vì vậy mà giải pháp đưa ra trong các án lệ nước ta thiên về áp đặt, thiếu sức thuyết phục. Trong các án lệ ở Việt Nam hiện nay, lý lẽ của thẩm phán thường rất ngắn gọn, nội dung lý lẽ không thể hiện các quan điểm khác nhau. Có thể cho rằng án lệ ở nước ta hiện nay chưa thật sự là sản phẩn của hoạt động GTVBQPPL vì yếu tố “làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau” theo tiêu chí tuyển chọn án lệ còn mờ nhạt.629 Trong khi đó, án lệ ở các nước Thông luật và Dân luật đều là sản phẩm của hoạt động GTVBQPPL, là một chuỗi các suy luận trùng hợp về cách hiểu và áp dụng cùng một quy định thành văn, trong đó có cả yếu tố sáng tạo pháp luật. Thẩm phán các nước Thông luật không cho rằng họ vi phạm nguyên tắc phân quyền vì họ chỉ sáng tạo pháp luật trong quá trình họ thực hiện chức năng giải quyết các vụ việc cụ thể trên cơ sở đảm bảo công bằng, công lý. Qua hoạt động GTVBQPPL gắn với vụ việc cụ thể, tòa án không lạm quyền lập pháp, mà còn qua đó góp phần làm cho hệ thống pháp luật đầy đủ và hoàn thiện hơn bằng con đường án lệ.Thừa nhận thẩm quyền GTVBQPPL theo vụ việc cho tòa án, thẩm phán có thể GTVBQPPL ngay trong quá trình giải quyết vụ việc cụ thể và tạo lập án lệ. Thực hiện điều này cả xã hội sẽ phải lấy kết quả giải thích của tòa án như mô hình mẫu để các cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà nước, đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước nhìn vào đó điều chỉnh cách hiểu và thực hiện các quy định đúng như cách hiểu của tòa án về các quy định trong VBQPPL.Liên quan đến vấn đề này, tác giả Phạm Duy Nghĩa khẳng định rằng muốn cho pháp luật nước ta gần lại với cuộc sống thì cần tạo cơ hội cho quan tòa ung dung, độc lập mà giải thích pháp luật để sáng tạo ra án lệ theo cảm nhận của lương tâm.630 Như vậy, muốn án lệ phát triển đúng bản chất của nó thì trước hết cần công khai thừa nhận thẩm quyền GTVBQPPL của tòa án, từ đó thiết lập các quy tắc, phương pháp GTVBQPPL.4.2.2.   Thiết lập Bộ quy tắc giải thích văn bản quy phạm pháp luật cho tòa ánPhần này của luận án chuẩn bị hành trang cho trật tự giải thích mới của tòa án nước ta, GTVBQPPL thông qua xét xử. VBQPPL nói chung và văn bản luật nói riêng được ban hành theo quy trình pháp lý chặt chẽ, phản ánh nguyện vọng của nhân dân và chúng luôn có những điểm chung nhất định dẫn đến nhu cầu tất yếu cần được giải thích. Do đó, phương cách đi tìm nội dung, ý nghĩa của các quy định pháp luật thành văn có những điểm tương đồng nhất định, dù ở các quốc gia khác nhau với truyền thống pháp luật khác nhau. Nhìn chung các quy tắc GTVBQPPL ở các nước được thiết lập dựa trên đặc trưng cơ bản của VBQPPL, quy trình, kỹ thuật soạn thảo cũng như quy tắc sử dụng ngữ pháp thông thường trong giao tiếp.Với truyền thống luật thành văn, nhiều quan điểm cho rằng Việt Nam cần có Luật GTPL để quy định chủ thể có thẩm quyền giải thích, đối tượng giải thích, nguyên tắc, quy trình, phương pháp, căn cứ có thể dựa vào làm cơ sở cho việc giải thích…631 Tuy nhiên, từ kinh nghiệm thực tiễn của các nước Dân luật, dù đề cao vai trò của luật thành văn họ cũng không có luật riêng và cũng có rất ít quy định thành văn điều chỉnh hoạt động GTVBQPPL mang tính vụ việc của tòa án. Các nước Thông luật có ban hành luật riêng để điều chỉnh hoạt động GTVBQPPL của tòa án nhưng nhìn chung ở cả hai hệ thống, GTVBQPPL của tòa án đều được xem là vấn đề của kinh nghiệm thực tiễn, mang tính linh hoạt. Chính vì vậy, để tránh tình trạng văn bản được ban hành thiếu tính khoa học, không khả thi, đặc biệt đây là lĩnh vực khá mới mẻ và mang tính thực tiễn cao nên bước đầu Hội đồng thẩm phán TANDTC cần ban hành Bộ quy tắc hướng dẫn GTVBQPPL trong ngành tòa án. Thay vì ban hành nhiều nghị quyết hướng dẫn áp dụng các quy định pháp luật khác nhau, Hội đồng thẩm phán TANDTC sẽ ban hành một Nghị quyết đính kèm theo là Bộ quy tắc hướng dẫn GTVBQPPL.Bộ quy tắc này chỉ mang tính hướng dẫn thẩm phán nhằm đảm bảo tính phù hợp, khách quan, công bằng cho kết quả có được trong từng vụ việc. Nội dung của Bộ quy tắc bao gồm quy tắc về sử dụng căn cứ, phương pháp giải thích, quy tắc về cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ cảnh, quy tắc giải quyết xung đột và các quy tắc suy luận trong GTVBQPPL. Việc thiết lập Bộ quy tắc này góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp giữa chủ thể ban hành và chủ thể GTVBQPPL, nâng cao tính độc lập của hoạt động xét xử. Sau một thời gian thi hành, TANDTC có thể chọn lựa và công nhận nhiều án lệ hơn liên quan đến GTVBQPPL tạo điều kiện cho lĩnh vực này phát triển phù hợp với xu hướng chung của thế giới.4.2.2.1. Thiết lập quy tắc về sử dụng căn cứ giải thích●   Câu chữ của quy định luôn là căn cứ đầu tiên trong quá trình giải thíchTrên cơ sở học thuyết pháp quyền, so với tài liệu lịch sử lập pháp, ý định, mục đích lập pháp, đạo đức, truyền thống... thì chỉ có ngôn ngữ của quy định được thông qua theo thủ tục pháp lý chặt chẽ, có tính ràng buộc nên câu từ của quy định luôn là căn cứ đầu tiên trong quá trình giải thích quy định đó. Tuy nhiên, dùng câu từ để diễn đạt ý muốn của nhà làm luật không phải lúc nào cũng chính xác vì vậy thẩm phán cần xem xét đến sự hỗ trợ hoặc phản đối từ các căn cứ giải thích khác.●   Các bộ phận cấu thành của văn bản quy phạm pháp luật là căn cứ giải thích quy định trong văn bản đóVề nguyên tắc, bất kỳ quy tắc pháp luật thành văn nào cũng gắn với ngữ cảnh của toàn thể VBQPPL, nghĩa của từ được nhận biết từ các từ xung quanh, nghĩa của quy định được nhận ra từ các quy định khác trong văn bản và tất cả các phần còn lại cấu thành nên văn bản. Do đó, tất cả các yếu tố cấu thành bên trong của VBQPPL đều có giá trị hỗ trợ làm rõ nghĩa của quy định pháp luật cần giải thích: trước hết là từ ngữ của quy định cần giải thích, kế đến là các từ ngữ xung quanh và các quy định khác trong cùng VBQPPL, kể cả tên của VBQPPL, tựa của chương, tiêu đề của điều luật, dấu câu, phụ lục, điều luật giải thích và điều luật quy định phạm vi áp dụng. Thẩm phán tiến hành giải thích tùy từng trường hợp cụ thể mà xem xét, phối hợp và cân nhắc yếu tố cấu thành nào trong VBQPPL giúp đem đến kết quả giải thích đúng đắn, phù hợp.●   Toàn bộ hệ thống pháp luật là căn cứ để giải thích văn bản quy phạm pháp luậtPháp luật luôn có tính hệ thống, vì vậy khi giải thích các quy định thành văn thẩm phán cần phải biết đặt quy định đó trong mối quan hệ tổng thể thống nhất của hệ thống pháp luật bao gồm án lệ, Hiến pháp, các VBQPPL khác có liên quan như văn bản thể hiện nguyên tắc chung của pháp luật; văn bản điều chỉnh cùng lĩnh vực trước và sau đó; văn bản quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành; văn bản có chứa đựng từ ngữ cần giải thích và cả các điều ước quốc tế có liên quan.●   Các tài liệu chuẩn bị trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật là căn cứ hỗ trợ để giải thích văn bản đóVBQPPL luôn được ban hành theo trình tự thủ tục nhất định, do đó có một niềm tin nhất quán rằng việc GTVBQPPL có thể được hỗ trợ bởi các tài liệu chuẩn bị như các tờ trình, bản thảo, các báo cáo, các góp ý thảo luận… Ở nước ta hiện nay, để hỗ trợ thẩm phán GTVBQPPL, các tài liệu liên quan đến quá trình hình thành một VBQPPL từ khi được đề xuất, soạn thảo đến khi công bố nên được thu thập, sắp xếp và công khai dướihình thức dễ tiếp cận và dễ tra cứu. Tuy nhiên, do chứa đựng các ý kiến thảo luận đa chiều, các ý kiến có thể mâu thuẫn nhau nên các tài liệu này chỉ có giá trị tham khảo.●   Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng lãnh đạo nên được xem là căn cứ giải thích văn bản quy phạm pháp luật ở nước taKhác với các nước Thông luật và Dân luật được xem xét, Việt Nam là nhà nước xã hội chủ nghĩa, với hệ thống chính trị nhất nguyên dưới sự lãnh đạo của một Đảng cầm quyền duy nhất là Đảng Cộng sản, với VBQPPL là công cụ để thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Do đó, muốn tìm nghĩa của quy định đòi hỏi thẩm phán phải nắm vững quan điểm chính trị của Đảng lãnh đạo như mục đích bao quát mà chủ thể ban hành VBQPPL muốn đạt được. Tư tưởng này hiện nay được thể hiện rõ qua việc Quốc hội nước ta điều chỉnh hoạt động giải thích mang tính quy phạm của UBTVQH như sau: Việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh phải đúng với tinh thần, mục đích, yêu cầu, quan điểm chỉ đạo ban hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh.632● Không hạn chế các căn cứ giải thích khác bên ngoài văn bản quy phạm pháp luậtĐể bảo vệ công bằng, công lý, phát huy tính dân chủ thì GTVBQPPL của thẩm phán nên được thực hiện trong môi trường giàu thông tin để thẩm phán có thể xem xét đa dạng các quan điểm và cân nhắc các lợi ích khác nhau. Thẩm phán có thể tham khảo từ điển, sách ngữ pháp, các công trình nghiên cứu xoay quanh những vấn đề điều chỉnh trong văn bản, các bài viết bàn luận, góp ý cho VBQPPL trong quá trình ban hành, kể cả VBQPPL cùng lĩnh vực ở quốc gia khác, cách giải thích của luật sư các bên, các tài liệu phản ánh giá trị kinh tế, văn hóa, tôn giáo, học thuyết pháp lý tồn tại vào thời kỳ VBQPPL được ban hành hoặc được giải thích… Ngoài ra, khi thỏa mãn điều kiện cần thiết theo quy định của Bộ luật Dân sự nước ta hiện nay, thẩm phán có thể áp dụng đạo đức, lẽ công bằng để cập nhật, sáng tạo pháp luật.GTVBQPPL là hoạt động mang tính thực tiễn cao nên rất khó liệt kê đầy đủ các căn cứ có thể dựa vào để giải thích, cũng như sắp xếp thứ bậc về tầm quan trọng của các căn cứ đó. Tùy theo từng vụ việc, thẩm phán sẽ cân nhắc, lựa chọn yếu tố nào quan trọng gắn với kết quả giải quyết của vụ việc nhằm đảm bảo khách quan và công bằng. Trong các căn cứ giải thích, thẩm phán có thể sử dụng kiến thức phổ thông, kiến thức chuyên môn, cả kiến thức về luật so sánh để có được các lập luận giải thích sắc bén, thuyết phục. Nhìn chung, các yếu tố cấu thành nên VBQPPL chính là ngữ cảnh gần hơn của văn bản,4.2.2.2. Thiết lập quy tắc về việc sử dụng phương pháp giải thích●   Thẩm phán cần kết hợp, cân nhắc nhiều phương pháp giải thíchHoạt động GTVBQPPL là hoạt động không chắc chắn, thẩm phán không thể biết chính xác kết quả có được là đúng hay sai. Chính vì vậy, khi giải thích thẩm phán cần phải kết hợp và đối chiếu nhiều phương pháp để có được kết quả thuyết phục. Kết quả giải thích giống nhau có được từ các phương pháp giải thích khác nhau sẽ rất thuyết phục, nếu kết quả không giống nhau thẩm phán phải cân nhắc, lựa chọn kết quả phù hợp. Có quan điểm cho rằng khi nghĩa theo câu chữ của quy định rõ ràng thì phải dừng lại ở nghĩa đó. Tuy nhiên, tính rõ ràng của câu chữ chỉ là tương đối, càng lâu, càng nhiều sự tranh cãi về nghĩa của quy định, đối chiếu nhiều căn cứ, sử dụng nhiều phương pháp thẩm phán càng dễ nhận ra câu chữ mơ hồ.Khi làm rõ quy định “nam từ 20 tuổi, nữ từ 18 tuổi được đăng ký kết hôn”, trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, theo PGS.TS. Nguyễn Ngọc Điện thì quy định này lấy lại nguyên văn của quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 và năm 1986. Thời kỳ 1959 - 1986 khi nhắc đến người “từ 18 tuổi” không chỉ người bình thường mà cả người có chuyên môn đều cho rằng đó là người trưởng thành. Tuy nhiên, đến khi xây dựng khái niệm người thành niên trong Điều 18 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì từ “đủ” được đặt trước cột mốc 18 tuổi: “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên”. Hiểu theo cách giải thích hệ thống, gắn với quy định mới của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 vô tình thừa nhận quyền đăng ký kết hôn của người phụ nữ chưa thành niên. Trong trường hợp này, giải thích theo lịch sử lập pháp và theo hệ thống đem đến kết quả khác nhau. Thực tế pháp lý nước ta đã chấp nhận kết quả giải thích hệ thống có tính cập nhật đồng thời vừa có được sự ủng hộ bởi nghĩa văn phạm từ câu từ. Hơn nữa, không phải người giải thích nào cũng có điều kiện nắm bắt được những thông tin thuộc về lịch sử lập pháp trong điều kiện chúng chưa được tập hợp và công bố công khai.●   Không có thứ tự ưu tiên giữa các phương pháp giải thíchHoạt động GTVBQPPL phức tạp và mang tính thực tiễn cao, do đó thẩm phán cần được quyền tự quyết về phương pháp giải thích trong từng vụ việc nhưng cần chú ý đến các gợi ý sau đây:-          Đối với các văn bản mới quy định cụ thể hoặc được soạn thảo với kỹ thuật lập pháp cao thích hợp hơn với phương pháp giải thích văn phạm.-          Đối với các VBQPPL cũ hoặc mang tính khái quát cao thẩm phán cần chú ý nhiều hơn tới phương pháp giải thích hệ thống, logic và giải thích thực tế để có thể khắc phục sự không đầy đủ, không rõ ràng hay lạc hậu của văn bản.633-          Khi giải thích các VBQPPL về gia đình thẩm phán nên quan tâm nhiều hơn đến phương pháp thực tế, chú ý các giá trị đạo đức như lợi ích của trẻ em, mục đích của gia đình.634-          Khi giải thích luật hình sự, các quy định khác hạn chế tự do hay áp đặt nghĩa vụ, các quy định mang tính ngoại lệ thẩm phán cần chú ý phương pháp văn phạm, hạn chế suy luận tương tự, hạn chế giải thích mở rộng quy định theo hướng bất lợi cho người dân.635●   Cho phép thẩm phán giải thích theo hướng lấp lỗ hổng pháp lýHọc thuyết lập pháp tối thượng trong hoạt động GTVBQPPL đòi hỏi thẩm phán phải tôn trọng câu chữ của quy định được thông qua, đảm bảo tính dân chủ. Tuy nhiên, dân chủ nghị viện (hay quốc hội) là dân chủ đại diện cho đa số trong khi đó tòa án cũng có trách nhiệm đảm bảo và kiểm chứng dân chủ bằng cách bảo vệ lợi ích chính đáng của các cá nhân, tổ chức trong từng vụ việc. Hơn nữa, do VBQPPL không thể nào dự liệu đầy đủ, chính xác các vụ việc xảy ra nên khi giải quyết các vụ việc cụ thể thẩm phán phải lấp lỗ hổng pháp luật.Theo quy định pháp luật nước ta hiện hành thì UBTVQH không được phép đặt ra quy tắc mới trong quá trình giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh, nhưng điều này không thể áp dụng đối với GTVBQPPL theo vụ việc của thẩm phán. Lấp lỗ hổng pháp luật không có nghĩa là thẩm phán phải đặt ra một quy tắc hoàn toàn mới mà có thể chỉ là sự thay đổi nghĩa văn phạm theo hướng rộng hoặc hẹp hơn so với nghĩa được thể hiện trên bề mặt câu chữ của quy định. Ở Việt Nam, giải thích mở rộng và giải thích thu hẹp được nhiều học giả xem là các phương pháp giải thích.637 Theo quan điểm của tác giả luận án, đây không phải là phương pháp giải thích mà chỉ là kết quả so sánh giữa giải thích văn phạm và giải thích bằng các phương pháp khác. Ví dụ, thẩm phán có thể giải thích người đứng trên xe gắn máy vẫn phải đội mũ bảo hiểm mặc dù theo câu chữ của quy định chỉ có người điều kiển và người ngồi trên xe đó phải đội mũ bảo hiểm. Để đạt được mục đích bảo vệ não bộ của người tham gia giao thông bằng xe gắn máy thì việc thay đổi kết quả theo sự diễn đạt của câu chữ là cần thiết. Hơn nữa, dùng phương pháp giải thích logic với kỹ thuật suy lý mạnh, khi luật đã ngăn cản hành vi ít nguy hiểm hơn (ngồi trên xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm) thì đồng thời luật ngăn cản hành vi nguy hiểm nhiều hơn (đứng trên xe gắn máy không đội mũ bảo hiểm). Với phương pháp giải thích mục đích hoặc logic người giải thích bổ sung quy định yêu cầu người đứng trên xe gắn máy cũng phải đội mũ bảo hiểm, lấp khoảng trống pháp lý do nhà làm luật không trực tiếp diễn đạt hoặc không dự liệu được lúc ban hành.Từ quy định của Hiến pháp: “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người…”638 cho thấy luật học thực chứng ở nước ta đã ghi nhận tinh thần của lý thuyết luật học tự nhiên. Thẩm phán có thể lấp khoảng trống pháp lý bằng cách căn cứ vào các yếu tố hỗ trợ khác bên ngoài VBQPPL được giải thích như: mục đích của quy định hay của văn bản được giải thích, quy định của pháp luật các nước khác về cùng vấn đề, ý định của chủ thể ban hành, nguyên tắc chung của pháp luật, lẽ phải, tập quán, tôn giáo, lý thuyết pháp lý và sự thay đổi tình hình kinh tế xã hội… Khi không thể tìm thấy ý định của chủ thể ban hành qua câu chữ của quy định, thẩm phán vượt qua ngưỡng của giải thích văn phạm và tự tìm kiếm nghĩa của quy định bằng phương pháp giải thích logic, đặc biệt là giải thích thực tế hay giải thích phát triển. Khi đó, thẩm phán sẽ đóng vai trò là người hợp tác với nhà làm luật để sáng tạo pháp luật. Hiện tại, pháp luật dân sự nước ta cho phép thẩm phán lấp lỗ hổng pháp lý bằng cách áp dụng tập quán và tương tự pháp luật. Trong trường hợp không có quy phạm điều chỉnh vụ việc tương tự, thẩm phán áp dụng nguyên tắc chung của pháp luật và lẽ công bằng để giải quyết vụ việc.Kinh nghiệm từ các nước Dân luật cho thấy từ rất sớm thẩm phán đã tham khảo lý thuyết pháp lý được thể hiện qua các tác phẩm khảo luận, sách, giáo trình, bài tham luận, bài báo khoa học… để xây dựng giải pháp của riêng mình. Truyền thống pháp lý của Việt Nam từ trước đến nay không thừa nhận học thuyết pháp lý có giá trị bổ sung cho hệ thống các quy phạm pháp luật thực định. Tuy nhiên, điều này cần nhìn nhận lại trong thời đại ngày nay khi mà Bộ luật Dân sự và Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 đã thừa nhận nguyên tắc bất khẳng thụ lý và đa dạng hóa các nguồn của luật dân sự. Đây cũng chính là hai nguyên tắc mà trước đây đã được chính quyền Pháp biên soạn trong các Bộ luật dân sự của nước ta thời kỳ Pháp thuộc và ắt hẳn đã có cân nhắc sự phù hợp của các nguyên tắc đó với hoàn cảnh lý luận và thực tiễn của nước ta. Để có quan niệm đầy đủ về nguồn luật, đặc biệt là luật dân sự, lĩnh vực luật ít chịu ảnh hưởng về mặt chính trị thì cần thừa nhận vai trò của học thuyết pháp lý – một sản phẩm của quá trình nhận thức khoa học sáng tạo về hiện thực xã hội, sản phẩm của nghiên cứu khoa học tự do và dân chủ.640 Cụ thể, học thuyết pháp lý, quan điểm khoa học của các học giả nên được bổ sung trong Bộ luật Dân sự như một nguồn để thẩm phán dựa vào đó tìm giải pháp cho vụ việc đang giải quyết.Phương pháp giải thích so sánh là một trong những phương pháp có khả năng lấp khoảng trống pháp lý. Theo đó, thẩm phán có thể xem xét, học hỏi các giải pháp pháp lý từ các VBQPPL quy định về cùng vấn đề, các phán quyết tư pháp nước ngoài, kể cả các bài viết học thuật nước ngoài. Nhược điểm của phương pháp giải thích này được cho là áp đặt pháp luật nước ngoài vào luật trong nước, ảnh hưởng đến dân chủ và bản chất giai cấp của pháp luật. Sử dụng phương pháp này có thể dẫn đến việc chọn lựa kết quả giải thích theo mong muốn chủ quan của thẩm phán. Tuy nhiên, trong thời đại toàn cầu hoá các nước phải giải quyết nhiều vấn đề pháp lý giống nhau vì thế kinh nghiệm hay nên được cầu thị. Để hạn chế nhược điểm nêu trên, phương pháp so sánh không nên được sử dụng như là phương pháp duy nhất đem đến kết quả giải thích, chỉ mang tính bỗ trợ cho các phương pháp giải thích khác. Tính thuyết phục của phương pháp này phụ thuộc vào mức độ hợp lý và khách quan của kết quả đem lại.●   Không được lấp lỗ hổng pháp lý khi giải thích các quy định về tội phạmBộ luật Hình sự hiện hành của nước ta quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” và “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự”.641 Do đó, khi giải thích các quy định về tội phạm, thẩm phán không thể lấp lỗ hổng pháp lý bằng cách áp dụng suy luận tương tự, suy lý mạnh, quy nạp, diễn dịch hay áp dụng phương pháp giải thích mục đích, giải thích so sánh, giải thích thực tế nhằm để mở rộng hành vi phạm tội. Sự thật rằng không một Bộ luật hình sự nào có thể dự liệu chuẩn xác các hành vi cần xem là tội phạm để phải chịu hình phạt. Tuy nhiên, việc không được phép suy luận tương tự, không giải thích theo hướng mở rộng hành vi phạm tội sẽ đảm bảo tính chắc chắn pháp lý của luật hình sự, bảo vệ nhân quyền, để lại quyền xác định hành vi phạm tội duy nhất thuộc về cơ quan lập pháp dân chủ được bầu chọn.Đáng chú ý, ngoài các quy định về tội phạm và hình phạt, Bộ luật Hình sự nước ta còn có các quy định khác trong phần chung. Do đó, khi giải thích các quy định trong phần chung của bộ luật hình sự, liệu thẩm phán có được áp dụng tương tự pháp luật, hay áp dụng các phương pháp giải thích khác đem lại kết quả giải thích rộng hoặc hẹp hơn kết quả có được từ câu chữ của quy định.4.2.2.3. Thiết lập quy tắc giải thích liên quan đến ngữ nghĩa của quy định●   Tôn trọng nghĩa thông thường và nghĩa kỹ thuật của ngôn ngữVăn bản quy phạm pháp luật là công cụ giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa chủ thể ban hành với chủ thể đọc VBQPPL đó. Về nguyên tắc, ngôn ngữ trong VBQPPL được viết theo nghĩa thông thường,643 phù hợp với ngữ cảnh, mục đích của văn bản, ý định của chủ thể ban hành và thống nhất cách sử dụng ngôn ngữ với các VBQPPL khác. Theo đó, khi GTVBQPPL thẩm phán cần chú ý nghĩa thông thường, phổ biến thể hiện trên bề mặt câu chữ của quy định vì những lý do sau:-     Đảm bảo tính tối cao của cơ quan lập pháp và các giá trị dân chủ trong khi GTVBQPPL.-     Hạn chế sự thay thế quan điểm của cá nhân thẩm phán cho quan điểm của chủ thể ban hành.-     Đề cao trách nhiệm và tính cẩn trọng của chủ thể soạn thảo và ban hành VBQPPL.-     Giúp tiết kiệm thời gian và chi phí của các bên có liên quan trong việc tìm kiếm các căn cứ giải thích khác.644Bên cạnh nghĩa thông thường, khi thẩm phán giải thích các quy định trong lĩnh vực chuyên ngành cụ thể cần chú ý đến nghĩa kỹ thuật của lĩnh vực đó. Trong lĩnh vực chuyên ngành, nghĩa kỹ thuật có thể được ưu tiên hơn nghĩa thông thường nhưng thẩm phán chỉ nên chọn nghĩa nào sau khi đã xem xét yếu tố ngữ cảnh của quy định trong toàn thể VBQPPL được giải thích cũng như xem xét đến kết quả của vụ việc được giải quyết. Khi có cơ sở cho rằng nghĩa thông thường của quy định đem đến một kết quả giải thích máy móc, thiếu khách quan, thiếu công bằng thì với lý lẽ khác mạnh hơn thẩm phán được quyền rời bỏ nghĩa thông thường và chỉ rõ lý do của sự rời bỏ đó.●   Nghĩa của quy định có thể thay đổi theo thời gianNgôn ngữ thay đổi theo thời gian vì vậy TANDTC cần thừa nhận quy tắc rằng khi giải thích thẩm phán được quyền cập nhật nghĩa thay đổi theo thời gian. Quy tắc này giúp thẩm phán có được kết quả giải thích phù hợp với điều kiện, kinh tế xã hội hiện tại, đặc biệt đối với các quy định được soạn thảo theo cách thức chung chung khá bao quát và đã duy trì hiệu lực trong khoảng thời gian dài. Kinh nghiệm từ Úc và Đức, thẩm phán cần phân biệt giữa nghĩa của từ và sự biểu thị của từ theo nghĩa đó. Ví dụ nghĩa của từ “vũ khí” hay “phương tiện giao thông” không thay đổi theo thời gian nhưng những gì được xem là “vũ khí” hay “phương tiện giao thông” cần được cập nhật theo sự phát triển của thời đại.4.2.2.4. Thiết lập quy tắc giải thích liên quan đến ngữ cảnh của quy địnhĐể đảm bảo cách hiểu thống nhất, đảm bảo mục đích giao tiếp chuẩn xác giữa chủ thể ban hành và GTVBQPPL, các quy ước sau đây cần được đặt ra:●   Trong một văn bản quy phạm pháp luật, từ giống nhau nghĩa giống nhau, từ khác nhau nghĩa khác nhauĐể quy tắc này được áp dụng, trước tiên nhà soạn thảo cần chú ý sử dụng từ ngữ với nghĩa thống nhất trong toàn văn bản, trừ khi có định nghĩa riêng trước mỗi phần cụ thể. Hiện nay, quy tắc này chưa được thiết lập trong quá trình soạn thảo VBQPPL ở nước ta. Ngay trong chính điều đầu tiên nhằm xác định phạm vi điều chỉnh của Luật Ban hành VBQPPL hiện hành lại sử dụng ba từ rất gần nhau về ngữ nghĩa: “Luật này quy định nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành VBQPPL…Luật này không quy định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp.”●   Từ ngữ trong quy định không được sử dụng một cách dư thừaKhi ban hành VBQPPL, các chủ thể soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, thảo luận và thông qua cần chú ý nguyên tắc không sử dụng từ ngữ trong VBQPPL một cách dư thừa. Mỗi từ trong văn bản đều cần thiết, có nghĩa và có vai trò riêng để khi giải thích thẩm phán không được bỏ qua nghĩa của từ nào đó, xem đó là các từ dư thừa.●   Nghĩa của từ trong quy định được nhận ra qua các từ xung quanh nóCác từ chung quanh là ngữ cảnh rất gần để hỗ trợ trong việc tìm nghĩa của từ ngữ cần giải thích. Từ điều khiển trong quy định nghiêm cấm “Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở” 645 có bao gồm hành vi dắt xe? Theo nghĩa thông thường thì dắt, dẫn xe cũng là điều khiển.646 Tuy nhiên, khi xem xét các quy định xung quanh như cấm “điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”, hoặc cấm “điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định”647 giúp chúng ta nhận ra rằng từ “điều khiển” được dùng trong Luật này có nghĩa là lái xe với một tốc độ nhất định.●   Khi quy định được diễn đạt bằng sự liệt kê nhiều từ cùng đặc điểm thì từ theo sau bao quát hơn cần được hiểu trong giới hạn đặc điểm chung của các từ được liệt kêQuy tắc này sẽ hỗ trợ đáng kể cho thẩm phán trong GTVBQPPL, đặc biệt trong điều kiện VBQPPL nước ta thường dùng các “cụm từ quét” để bao quát nhiều trường hợp nhất có thể. Theo Điều 12 Luật Khiếu nại năm 2011 thì “Trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được ủy quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác…” Có thể gọi tên đây là quy tắc từ cùng loại, theo đó lý do khách quan khác cần được hiểu là lý do liên quan đến thể chất gây khó khăn cho việc đi lại giống như ốm đau, già yếu; người khác là người có mối quan hệ gia đình thân thích như những người được liệt kê.4.2.2.5. Thiết lập quy tắc giải thích liên quan đến cấu trúc ngữ pháp của quy địnhBên cạnh việc xem xét câu chữ thì việc phân tích cấu trúc ngữ pháp của quy định cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ngữ nghĩa của quy định. Các quy ước chung liên quan đến sử dụng dấu câu, sự bổ nghĩa giữa các từ, giữa các thành tố trong quy định cần được thiết lập để mục đích giao tiếp thông qua phương tiện là VBQPPL có thể đạt được một cách chuẩn xác. Sau khi thiết lập, các quy ước này sẽ trở thành căn cứ chung dựa vào đó để ban hành và cũng dựa vào đó để giải thích VBQPPL đã ban hành. Để xây dựng các quy tắc giải thích liên quan đến cấu trúc ngữ pháp một cách hợp lý và khoa học, TANDTC cần có trợ giúp của các chuyên gia soạn thảo VBQPPL dày dặn kinh nghiệm và các chuyên gia ngữ pháp tiếng Việt.4.2.2.6. Thiết lập quy tắc suy luận trong giải thích văn bản quy phạm pháp luậtDựa trên các nguyên tắc ban hành VBQPPL được ghi nhận hiện nay, TANDTC nên thiết lập các quy tắc mang tính suy luận liên quan đến ý chí của nhà làm luật khi GTVBQPPL như sau: chủ thể ban hành VBQPPL muốn hướng đến kết quả khả thi; phù hợp với VBQPPL cấp trên và điều ước quốc tế; đảm bảo bình đẳng giới, đảm bảo yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và dân chủ. Theo đó, thẩm phán cần giải thích các quy định mơ hồ theo hướng thuận tiện cho người dân trong thủ tục hành chính, đảm bảo bình đẳng giới, đảm bảo dân chủ, đảm bảo kết quả giải thích có được tính khả thi… Suy luận rằng chủ thể ban hành VBQPPL có nhận biết về các giải thích của tòa án hoặc án lệ hiện hành, nếu chủ thể ban hành sử dụng lại từ ngữ đã được tòa án giải thích xem như chủ thể ban hành đã chấp nhận cách giải thích đó. Ngược lại, khi một quy định đã được tòa án giải thích nhưng được diễn đạt khác đi trong quá trình sửa đổi, hoặc ban hành lại thì thẩm phán suy luận rằng nghĩa của quy định đó cũng khác đi. Dựa vào sự thay đổi cách diễn đạt của quy định thì khó có thể cho rằng chủ thể ban hành vẫn giữ nguyên nội dung của quy định.649 Thiết lập các nguyên tắc suy luận chung trong quá trình GTVBQPPL của tòa án hiện nay có ý nghĩa hỗ trợ cho việc thực hiện yêu cầu “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ, việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”.6504.2.2.7. Thiết lập quy tắc giải quyết xung đột khi giải thích văn bản quy phạm pháp luậtKhi GTVBQPPL, nếu phát hiện có dấu hiệu xung đột pháp luật, từ kinh nghiệm các nước Thông luật và Dân luật thẩm phán cần thông qua giải thích để hóa giải xung đột. Để hóa giải được xung đột, thường một trong hai hoặc cả hai quy tắc có dấu hiệu xung đột không được giải thích bằng phương pháp văn phạm. Trong trường hợp không thể hóa giải xung đột thẩm phán áp dụng quy tắc giải quyết xung đột. Pháp luật nước ta hiện hành chỉ đặt ra các quy tắc giải quyết xung đột sau: án lệ đương nhiên bị bãi bỏ vì không còn phù hợp do sự thay đổi của VBQPPL;651 ưu tiên áp dụng VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn hiệu lực thấp; nếu VBQPPL cùng cơ quan ban hành xung đột thì ưu tiên áp dụng văn bản ban hành sau.652 Còn nhiều giả định chưa được dự liệu như: xung đột giữa VBQPPL cùng giá trị pháp lý nhưng khác chủ thể ban hành, xung đột giữa các quy định trong cùng VBQPPL hay xung đột giữa các quy định trong VBQPPL chuyên ngành và VBQPPL quy định chung, kể cả xung đột giữa các nguyên tắc pháp lý.Trong điều kiện pháp luật hiện hành chưa đưa ra giải pháp để giải quyết các trường hợp xung đột nêu trên, tác giả luận án xin đưa ra kiến nghị như sau:Đối với quy định trong VBQPPL cùng giá trị pháp lý nhưng khác cơ quan ban hành (ví dụ thông tư của hai bộ trưởng) thì thẩm phán ưu tiên văn bản do cơ quan có thẩm quyền chính liên quan đến lĩnh vực của quan hệ xã hội được điều chỉnh.Đối với các quy định trong cùng một VBQPPL thì thẩm phán nên ưu tiên áp dụng quy định cụ thể so với quy định chung vì khi ban hành quy định cụ thể, chủ thể ban hành đã có cơ hội suy nghĩ kỹ hơn về vấn đề ban hành. Điều 1, Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 định nghĩa “VBQPPL là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền” nhưng Điều 2 của Luật này lại liệt kê nhiều VBQPPL do cá nhân ban hành. Khi đó, chúng ta dễ dàng chấp nhận nghĩa theo nội dung của Điều 2 rằng VBQPPL còn được ban hành bởi cá nhân có thẩm quyền. Tương tự, VBQPPL quy định về lĩnh vực cụ thể được ưu tiên áp dụng so với các VBQPPL quy định chung vì với tính chất điều chỉnh chung các quan hệ xã hội, các VBQPPL không thể xem xét kỹ lưỡng, điều chỉnh chi tiết từng loại quan hệ xã hội mang đặc trưng riêng của từng lĩnh vực.653Ngoài ra, xung đột pháp luật có thể diễn ra ở cấp độ xung đột giữa các nguyên tắc pháp luật. Ví dụ sự xung đột giữa nguyên tắc bảo vệ quyền riêng tư và nguyên tắc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin. Học tập kinh nghiệm từ Đức, thẩm phán cần được trao quyền đánh giá tầm quan trọng và mức độ ưu tiên giữa các nguyên tắc đặt trong mối quan hệ của từng vụ việc cụ thể. Hơn nữa, trong tương lai khi ban hành luật về GTVBQPPL Quốc hội cần chuyển các quy định về áp dụng VBQPPL trở thành một phần không thể thiếu trong các quy tắc về GTVBQPPL theo vụ việc.4.2.3.   Công khai các lập luận giải thích văn bản quy phạm pháp luậtĐể nâng cao tính dân chủ, tránh yếu tố tùy tiện, góp phần nâng cao kỹ năng GTVBQPPL của cá nhân thẩm phán trong các phán quyết tư pháp thì tất cả các văn bản có tính giải thích trong ngành tòa án cần chỉ ra con đường dẫn đến kết quả giải thích có được. Giải thích làm rõ nghĩa và phạm vi áp dụng của các quy định pháp luật thành văn có tầm quan trọng không kém hoạt động tạo ra các quy định đó. Một quy tắc chỉ là sự kết hợp của câu chữ, nó chỉ có ý nghĩa ràng buộc thật sự khi nó được giải thích và áp dụng vào vụ việc cụ thể. Chính vì vậy nếu các quy định được công khai thì hoạt động giải thích đem đến nghĩa của các quy định đó cũng cần phải được công khai. Có như vậy, công việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của TANDTC cũng như công việc áp dụng pháp luật của thẩm phán vào vụ việc cụ thể mới trở nên rõ ràng, minh bạch và đủ sức thuyết phục.Khi thẩm quyền GTVBQPPL của tòa án được chính thức ghi nhận, lý thuyết về GTVBQPPL của tòa án được hình thành, các luật tố tụng cần quy định rõ cấu trúc của các phán quyết tư pháp phải có một phần riêng biệt chứa đựng các lập luận giải thích làm rõ nghĩa và phạm vi áp dụng của quy định được chọn. Trên thế giới, án lệ có xu hướng hình thành từ hoạt động GTVBQPPL của tòa án, các vụ việc có tình tiết giống nhau được giải quyết giống nhau nhờ vào việc thẩm phán sử dụng các công cụ giống nhau trong quá trình giải thích và áp dụng VBQPPL.654 Vì vậy, trong tương lai khi thẩm quyền GTVBQPPL theo vụ việc của tòa án được chính thức thừa nhận thì chỉ những bản án chứa đựng các lập luận giải thích thật hợp lý, rõ ràng, đủ thuyết phục mới được tuyển chọn và công bố thành án lệ.4.2.4.   Tăng cường công tác giảng dạy, tập huấn kiến thức và kỹ năng giải thích văn bản quy phạm pháp luậtNhư đã phân tích, hoạt động GTVBQPPL của tòa án mang tính kỹ thuật, tính chuyên môn cao. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả của hoạt động này cần chú trọng công tác đào tạo, giảng dạy, tập huấn các kiến thức và kỹ năng có liên quan. Kiến thức và kỹ năng GTVBQPPL nên được giảng dạy cho sinh viên luật bậc đại học qua các môn học có tính nhập môn, ngay từ khi tư duy pháp lý của sinh viên vừa mới hình thành. Bên cạnh đó, việc tăng cường phương pháp giảng dạy tình huống có thể góp phần nâng cao kỹ năng GTVBQPPL theo vụ việc. Thực hiện được điều này sẽ giúp các quan tòa tương lai hình thành thói quen tư duy theo hướng đưa ra các lý lẽ lập luận giải thích để bảo vệ kết quả phán quyết theo hướng này hay loại trừ kết quả phán quyết theo hướng khác. Theo đó, các phán quyết đạt được trong tương lai sẽ mang sắc thái của án lệ, để án lệ Việt Nam có điều kiện phát triển đúng hướng, tiến gần hơn đến thông lệ quốc tế.Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả luận án chưa thể đánh giá một cách chính xác và toàn diện các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động GTVBQPPL của tòa án bao gồm trình độ, kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm cũng như ý thức pháp luật của thẩm phán… Tuy nhiên, qua báo cáo tổng kết của ngành tòa án cho thấy tỷ lệ hủy, sửa án hành chính vẫn còn cao; tình trạng phán quyết tuyên không rõ chưa được khắc phục triệt để; số lượng biên chế chưa đáp ứng so với yêu cầu công việc; đặc biệt còn một số thẩm phán chưa thận trọng trong việc nghiên cứu, thiếu trách nhiệm, thiếu kinh nghiệm, không thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng nên hiệu quả công tác chưa tốt, thậm chí bị kết án.655 Từ đó cho thấy sự e dè hay nghi ngờ về bản lĩnh và năng lực chuyên môn của thẩm phán để GTVBQPPL là có căn cứ. Chính vì vậy, TANDTC cần sớm triển khai các hoạt động đánh giá, nghiên cứu thực tiễn GTVBQPPL của thẩm phán, để từ đó đưa kiến thức, kỹ năng giải thích này vào chương trình đào tạo nghiệp vụ và tập huấn ngắn hạn cho thẩm phán cả nước. Các kiến thức cần bồi dưỡng cho thẩm phán bao gồm mục đích, căn cứ, quy tắc và phương pháp GTVBQPPL của thẩm phán. Thẩm phán cũng cần được bồi dưỡng các kỹ năng như kỹ năng vận dụng nguyên tắc chung của pháp luật, vận dụng các quyền hiến định vào hoạt động giải thích một cách phù hợp. Ngày nay, sự gia tăng tính phức tạp của xã hội khiến cho quy định của pháp luật không theo kịp và vì vậy vai trò khắc phục sự lạc hậu, thiếu hụt của pháp luật từ thẩm phán trong quá trình giải thích và áp dụng pháp luật thành văn ngày càng trở nên quan trọng. Do đó, để có được các kết luận được rút ra từ các thông tin đã biết, thẩm phán cần được tập huấn kỹ năng suy luận logic như suy luận tương tự, suy luận tất nhiên, suy luận quy nạp – diễn dịch…656Việc tăng cường triển khai các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, tập huấn kiến thức và kỹ năng về GTVBQPPL của tòa án sẽ tạo điều kiện để tăng cường sự trao đổi chuyên môn qua lại giữa thẩm phán và giới học thuật. Trước hết, các kết quả nghiên cứu, các kinh nghiệm có được từ các nước về hoạt động GTVBQPPL của tòa án sẽ có cơ hội được chuyển giao đến ngành tòa án. Khả năng rất cao thẩm phán có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu mang tính học thuật làm cơ sở để lập luận hay biện minh cho các lập luận dẫn đến phán quyết của mình. Mặt khác, với việc tăng cường giảng dạy, nghiên cứu các kiến thức và kỹ năng GTVBQPPL kết hợp với việc công khai các lập luận giải thích cùng với các bản án, tác giả luận án tin chắc rằng hoạt động bình luận án sẽ phát triển mạnh hơn rất nhiều. Chính điều này lại tiếp tục đặt ra yêu cầu, đòi hỏi bản thân thẩm phán phải có đủ phẩm chất và năng lực để không GTVBQPPL một cách tùy tiện thay vì phải học hỏi, trao dồi kiến thức, kỹ năng về GTVBQPPL.Theo: Huỳnh Thị Sinh HiềnLink luận án: https://docs.google.com/document/d/1xFwgC6aacX69knvPfs3_XlM4r64mhWOW/edit
Đặng Quỳnh
251 ngày trước
Bài viết
HOẠT ĐỘNG GIẢI THÍCH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA TÒA ÁN VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
4.1. Hoạt động giải thích văn bản quy phạm pháp luật của tòa án Việt Nam4.1.1. Về thẩm quyền giải thíchBàn luận về GTVBQPPL của tòa án, vấn đề thẩm quyền mang tính nền tảng. Trong những năm gần đây khi Đảng và Nhà nước đặt ra mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền gắn liền với cải cách tư pháp thì pháp luật Việt Nam có những chuyển biến tích cực liên quan đến vấn đề này.4.1.1.1. Về thẩm quyền giải thích mang tính cá biệtHiến pháp năm 2013 là Hiến pháp đầu tiên chỉ rõ sự phân định quyền lực nhà nước theo chiều ngang, trong đó khoản 1 Điều 102 ghi nhận “Tòa án thực hiện quyền tư pháp”. Dưới góc nhìn của không ít học giả Việt Nam ngày nay, khái niệm quyền tư pháp không chỉ giới hạn ở chức năng xét xử thuần túy mà trong đó có chức năng GTVBQPPL và tạo lập án lệ.547Thêm vào đó, khoản 3 Điều 104 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận “Tòa án nhân dân tối cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử”.548 Nguyên phó Chánh án TANDTC Trần Văn Độ tin rằng quy định trên đã gián tiếp giao cho cơ quan xét xử cao nhất của nước ta chức năng GTVBQPPL.549 Điều 22 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 cụ thể hóa nhiệm vụ hiến định này bằng cách ghi nhận Hội đồng thẩm phán TANDTC có quyền tạo lập án lệ. Tiếp theo đó, với Điều 2 Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC thì án lệ được lựa chọn phải chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau. Hiện nay, Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP thay thế Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP còn cho thấy rõ hơn yếu tố giải thích trong án lệ. Theo khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP, án lệ phải có giá trị làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau hoặc thể hiện lẽ công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định.550 Như vậy, án lệ nước ta đã chính thức ra đời như là sản phẩm của tòa án trong hoạt động GTVBQPPL mang tính cá biệt.Hiện nay, trong quá trình xét xử, Tòa án có quyền phát hiện và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản pháp luật trái với hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh và nghị quyết của UBTVQH.551 Quy định trên thừa nhận một sự thật khách quan rằng tòa án tất nhiên phải GTVBQPPL khi xét xử. Trong quá trình xét xử, chỉ có thể thông qua giải thích tòa án mới phát hiện được các văn bản xung đột nhau, từ đó mới đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét đến việc sửa đổi, hoặc bãi bỏ văn bản sai trái. Tuy nhiên, với quyền kiến nghị trên, giải pháp mà pháp luật tố tụng đưa ra cho tòa án không gì khác hơn chỉ có thể là đợi chờ sự không phản hồi của chủ thể được đề nghị để tiến tới chọn VBQPPL có giá trị pháp lý cao hơn để áp dụng.552 Từ phân tích trên cho thấy thẩm quyền GTVBQPPL theo vụ việc của tòa án Việt Nam dù được gián tiếp thừa nhận ở mức độ nào đó nhưng giá trị của hoạt động này vẫn còn được nhìn nhận một cách rất hạn chế.Ngoài ra, có ý kiến cho rằng nguyên tắc “bất khẳng thụ lý” được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự và Bộ luật tố tụng Dân sự hiện hành làm tăng thẩm quyền GTVBQPPL sẵn có của tòa án.553 Để giải quyết các vụ việc dân sự chưa có điều luật áp dụng khi các bên không có thỏa thuận, tòa án được yêu cầu áp dụng lần lượt từ tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng.554 Tính hợp lý của ý kiến trên dựa trên cơ sở rằng tòa án không thể giải quyết các vụ việc bằng nguyên tắc chung của pháp luật, quy định tương tự hay lẽ công bằng mà không giải thích các quy định có liên quan. Có thể thấy, áp dụng tương tự pháp luật là kỹ thuật giải thích logic được sử dụng phổ biến ở các nước Dân luật, còn áp dụng nguyên tắc của pháp luật và lẽ công bằng là nội dung chính của phương pháp giải thích thực tế được sử dụng ở cả hệ thống Thông luật và Dân luật.4.1.1.2. Về thẩm quyền giải thích mang tính quy phạmHiến pháp hiện hành chỉ trực tiếp trao quyền giải thích hiến pháp, luật và pháp lệnh cho chủ thể duy nhất là UBTVQH.555 Tuy nhiên, theo Điều 22 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014 thì hội đồng thẩm phán TANDTC có quyền ban hành nghị quyết hướng dẫn các tòa án áp dụng thống nhất pháp luật. Bên cạnh đó, Luật Ban hành VBQPPL nước ta qua các thời kỳ đều ghi nhận thẩm quyền ban hành nghị quyết hướng dẫn việc áp dụng thống nhất pháp luật của Hội đồng thẩm phán TANDTC.556 Ngoài ra, trước ngày 01/7/2016, Chánh án TANDTC còn có quyền phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành thông tư liên tịch để hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động tố tụng.557Về mặt lý luận, chúng ta không thể đồng nhất giữa GTPL và hướng dẫn áp dụng pháp luật vì giải thích là làm cho hiểu rõ pháp luật, còn hướng dẫn áp dụng pháp luật là chỉ dẫn cách thức vận dụng pháp luật để giải quyết các trường hợp cụ thể.558 Tuy nhiên, hai hoạt động trên có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại, thậm chí không thể tách rời. Quy phạm pháp luật thành văn được xây dựng dưới dạng khái quát chung nên khi đứng trước một vụ việc cụ thể, thẩm phán đưa ra các giải pháp khác nhau là do cách hiểu, cách giải thích khác nhau của họ về cùng một quy tắc pháp lý.559 Kết quả giải thích khác nhau sẽ dẫn đến kết quả áp dụng khác nhau nên khi TANDTC hướng dẫn áp dụng VBQPPL thì không thể bỏ qua công đoạn hướng dẫn GTVBQPPL.560GTVBQPPL của tòa án đòi hỏi phải được đặt trong mối quan hệ với kết quả áp dụng quy định được giải thích. Để chấp nhận hay từ chối bất kỳ kết quả giải thích nào, thẩm phán phải đặt kết quả giải thích đó vào kết quả của vụ việc đang giải quyết. Nếu chấp nhận nghĩa văn phạm thông thường của quy định dẫn đến kết quả vụ án không bình thường thì thẩm phán phải xem lại lần nữa nghĩa được dự định đó.561 Ở các nước Thông luật, khi đặt kết quả giải thích vào kết quả áp dụng pháp luật rơi vào sáu trường hợp sau đây, thẩm phán sẽ tìm hướng giải thích khác: không thực tế; không tiện lợi; không hợp lý; không khắc phục được hậu quả mà luật thành văn ban hành để khắc phục; kết quả vô ích hoặc kết quả do người giải thích tạo ra.562 Vì áp dụng VBQPPL và GTVBQPPL luôn tương tác lẫn nhau nhằm đem đến kết quả phù hợp cho cả hai nên việc trao thẩm quyền cho TANDTC hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật đồng nghĩa với việc ngầm thừa nhận thẩm quyền giải thích các quy định pháp luật mà chính cơ quan này hướng dẫn áp dụng. Thực tế ở nước ta hiện nay, nhu cầu để TANDTC ban hành VBQPPL để hướng dẫn áp dụng pháp luật đều xuất phát từ các vướng mắc trong quá trình áp dụng các quy định vào tình huống cụ thể, chủ yếu do tòa án cấp dưới hiểu các quy định không thống nhất nên dẫn đến việc áp dụng không thống nhất. Các VBQPPL hướng dẫn áp dụng pháp luật có chứa đựng yếu tố GTVBQPPL có giá trị pháp lý ràng buộc nên thẩm phán không thực hiện theo đúng hướng dẫn thì phán quyết của họ có thể bị sửa hoặc bị hủy theo thủ tục tố tụng. Nhằm giải đáp những vướng mắc trong xét xử, TANDTC còn tổ chức đối thoại với thẩm phán tòa án các cấp xem như là hoạt động tổng kết thực tiễn. Một trong những cách làm mới trong công tác bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật của TANDTC từ năm 2019 là tổ chức đối thoại trực tuyến để trao đổi, giải đáp kịp thời những vướng mắc phát sinh trong cách hiểu, cách áp dụng các quy định vào vụ việc cụ thể. Kết thúc các buổi đối thoại trực tuyến, TANDTC ban hành các công văn nhằm tổng kết và thông báo kết quả giải đáp. So với các VBQPPL hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của TANDTC, việc ban hành các công văn hay giải đáp đơn giản hơn nên chúng được xem là giải pháp mới trong việc thực thi nhiệm vụ hiến định “bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử” nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu GTVBQPPL trong xét xử.563 Tuy nhiên, giá trị của các công văn này chỉ giới hạn trong nội bộ ngành tòa án, các tòa án bên dưới có trách nhiệm “nghiên cứu, tham khảo trong quá trình giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền”.564 Xét về bản chất thì công văn và giải đáp của TANDTC không phải là “pháp luật” nhưng trên thực tế chúng được tin rằng có tác động mạnh mẽ đến việc áp dụng pháp luật của tòa án cấp dưới.565Ở nước ta, theo các chuyên gia pháp lý thì tòa án đặc biệt là TANDTC luôn có vai trò to lớn trong GTVBQPPL, cho dù thẩm quyền này của tòa án chưa được ghi nhận chính thức và công khai.566 Theo báo cáo tổng kết ngành tòa án, trong nhiệm kỳ 2016 – 2020, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã ban hành 24 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật (so với nhiệm kỳ trước tăng 11 Nghị quyết), ban hành 05 tập giải đáp và 03 công văn thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử.567 Chỉ tính riêng trong năm 2019, có đến 40 văn bản, giải đáp hơn 150 vấn đề vướng mắc của các tòa án.568Qua phân tích và giải thích các quy định có liên quan cho thấy khó có thể phủ nhận hoàn toàn thẩm quyền GTVBQPPL của tòa án nước ta. Tuy nhiên, điểm hạn chế và cũng chính là sự khác biệt lớn về thẩm quyền GTVBQPPL giữa tòa án Việt Nam so với tòa án các nước Thông luật và Dân luật thể hiện như sau:Thứ nhất, nếu thẩm quyền giải thích Hiến pháp ở Mỹ và Úc thuộc về Tòa án tối cao, ở Pháp, Đức và Ý thuộc về cơ quan bảo hiến chuyên trách thì thẩm quyền giải thích Hiến pháp ở Việt Nam thuộc về UBTVQH. Xuyên suốt từ Hiến pháp năm 1959 đến nay, thẩm quyền GTPL nói chung (Hiến pháp năm 1959), thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh mang tính quy phạm thuộc về UBTVQH. Trong khi đó, theo Hiến pháp Việt Nam hiện hành thì tòa án nắm giữ quyền tư pháp nhưng nội hàm của quyền này có bao gồm quyền GTVBQPPL mang tính cá biệt hay không chưa từng được UBTVQH chính thức giải thích làm rõ.Thứ hai, có thể cho rằng TANDTC ở Việt Nam có thẩm quyền ngầm định trong việc GTVBQPPL, chủ yếu gắn liền với thẩm quyền hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất của cơ quan xét xử cao nhất. Trên thực tế, để thực hiện nghĩa vụ hiến định “tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử”, TANDTC tham gia GTVBQPPL thông qua các Nghị quyết, các công văn, giải đáp vướng mắc phát sinh trong quá trình xét xử cho tòa án bên dưới. Khác với các nước Thông luật lẫn Dân luật, Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa khác trao quyền cho tòa án ban hành VBQPPL.569 Chính điều này đã tạo nên truyền thống giải thích xen lẫn với hướng dẫn áp dụng pháp luật của tòa án tối cao cho tòa án bên dưới, đồng thời hạn chế phần nào vai trò GTVBQPPL của từng cá nhân thẩm phán trong quá trình xét xử.Nếu ở các nước Thông luật và Dân luật, giải thích làm rõ nghĩa của các quy định mơ hồ, còn tranh cãi là nghĩa vụ của cá nhân thẩm phán, gắn liền với hoạt động xét xử để hình thành và phát triển án lệ thì ở Việt Nam thẩm quyền chủ yếu lại nghiên về TANDTC với vai trò hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật. Sự khác biệt này phần nào gây khó khăn cho việc đánh giá hoạt động GTVBQPPL của tòa án Việt Nam trong mối quan hệ tương đồng so với hoạt động này của tòa án các nước Thông luật và Dân luật. Trong chương này, các căn cứ, quy tắc và phương pháp GTVBQPPL của tòa án Việt Nam mang tính quy phạm lẫn cá biệt đều được phân tích, đánh giá.4.1.2. Về căn cứ giải thích4.1.2.1. Mặt tích cực Tương tự các nước Thông luật và Dân luật, khi GTVBQPPL tòa án nước ta không bỏ qua căn cứ cơ bản là câu chữ diễn đạt của quy định. Cụm từ “thủ đoạn xảo quyệt” được TANDTC giải thích theo lối định nghĩa là thủ đoạn dối trá một cách tinh vi, sử dụng công nghệ cao để che giấu tội phạm, đổ tội cho người khác hoặc có hành vi tiêu hủy chứng cứ, gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm.570 Ngoài câu từ của quy định được giải tích, tòa án còn căn cứ vào các quy định khác có liên quan trong cùng VBQPPL. Giải thích nghĩa của từ “Tòa án” trong khoản 5 Điều 75 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, TANDTC cho rằng: trường hợp đơn khởi kiện đã được nhận mà chánh án chưa phân công thẩm phán thì “Tòa án” được hiểu là “chánh án”, trường hợp chánh án đã phân công thẩm phán thì “Tòa án” được hiểu là “thẩm phán”. Có được kết quả trên do TANDTC dựa vào điểm k khoản 1 Điều 47 và khoản 14 Điều 48; điểm b khoản 2 Điều 203 trong cùng Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án tòa án và thẩm phán.571Không giới hạn ở các yếu tố cấu thành bên trong VBQPPL, khi GTVBQPPL tòa án nước ta còn căn cứ vào các VBQPPL khác có sử dụng từ ngữ cần giải thích. Điểm c khoản 2 Điều 61 Luật tố tụng Hành chính năm 2015 quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự “không phải là cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Thanh tra…”. Dựa vào quy định trong Luật Thanh tra năm 2010 rằng Thanh tra sở là một trong những cơ quan thanh tra nhà nước, TANDTC cho rằng thanh tra viên chuyên ngành của Sở Tài nguyên và môi trường không được làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh khi bị kiện.572Ngoài ra, từ điển cũng là căn cứ GTVBQPPL được tòa án nước ta sử dụng. Tình tiết “chứa mại dâm từ 4 người trở lên” quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 được giải thích là bao gồm từ 4 người bán dâm trở lên vì theo từ điển Tiếng Việt (không nêu từ điển cụ thể) thì “mại” là bán, mãi là “mua”.573Mặc dù chưa được sử dụng phổ biến nhưng lịch sử lập pháp cũng được tòa án viện dẫn để làm rõ nghĩa của quy định cần giải thích. Khi giải thích Điều 317 của Bộ luật Dân sự năm 2015, TANDTC đã viện dẫn Bản thuyết minh dự án của Bộ luật này để chỉ ra mục đích của quy định là đảm bảo công bằng đối với người thiện chí, ngay tình, cũng như sự ổn định trong các quan hệ dân sự.574 Do đó, trong cụm từ “chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác” trong Điều 317 thì từ “giao dịch dân sự” được hiểu bao gồm thế chấp, dù thế chấp theo định nghĩa của luật không nhất thiết phải chuyển giao tài sản.Các văn bản triển khai thi hành luật của cơ quan hành chính nhà nước có chứa đựng yếu tố giải thích cũng được tòa án dựa vào. Qua bản án phúc thẩm số 247/2017/HC- PT, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh làm rõ khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008: “sản phẩm trồng trọt chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất bán ra thì không chịu thuế giá trị gia tăng”. Để làm rõ quy định trên, Tòa án đã viện dẫn nhiều nghị định và thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành bao gồm Nghị định số 123/2008/NĐ- CP; Nghị định 121/2011/NĐ-CP;575 Nghị định số 209/2013;576 Thông tư 06/2012/TT- BTC;577 và Thông tư 219/2013/TT-BTC.578 Tuy nhiên, tất cả các VBQPPL nêu trên chỉ mới làm rõ sản phẩm trồng trọt như lúa qua sơ chế thông thường như sấy khô và tách vỏ, thì gạo là đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng; vỏ trấu được tách ra từ lúa có phải chịu thuế này hay không vẫn chưa xác định được. Ngày 31 tháng 10 năm 2014 Bộ Tài chính ban hành Công văn số 15895/BTC-CST nhằm giải quyết các vướng mắc về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với một số sản phẩm từ trồng trọt.579 Tại mục 2 của Công văn này viện dẫn Thông tư số 83/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính trong đó có ví dụ sau:“Ví dụ lúa (thóc) xay xát ra gạo, gạo đã qua công đoạn đánh bóng; phế phẩm,phụ phẩm của sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, hải sản như tấm, trấu, cám, đầu tôm, vỏ tôm, đầu cá, xương cá, nội tạng và phế phẩm thu được sau giết mổ khác của động vật, mỡ tươi đều là sản phẩm chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu kinh doanh thương mại.”Như vậy, đến năm 2014 thì Bộ Tài chính mới có văn bản làm rõ phụ phẩm, phế phẩm của sản phẩm trồng trọt được xem là “sản phẩm trồng trọt chưa chế biến thành sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường” vì vậy không đánh thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng này. Hướng dẫn của Bộ Tài chính qua Công văn 15895/BTC-CST được Tòa án chấp nhận, dựa vào đó để giải quyết vụ việc.Qua các phân tích trên có thể thấy rằng, không khác với các nước thuộc hệ thống Thông luật và Dân luật, các căn cứ giải thích bên trong VBQPPL tòa án Việt Nam sử dụng để làm rõ nghĩa của quy định được giải thích bao gồm chính câu từ của quy định đó và các quy định khác có liên quan. Các căn cứ bên ngoài VBQPPL được tòa án nước ta sử dụng bao gồm các VBQPPL có liên quan, từ điển, lịch sử lập pháp đồng thời cũng là mục đích của quy định, kể cả công văn hướng dẫn thi hành của cơ quan hành chính. 4.1.2.2. Mặt hạn chếHiện nay, tòa án nước ta chủ yếu chỉ dừng lại ở việc sử dụng câu chữ diễn đạt của quy định, cùng với các quy định khác có liên quan trong cùng văn bản mà bỏ qua các yếu tố cấu thành còn lại như tựa văn bản, tên chương, cấu trúc ngữ pháp… với vai trò là căn cứ GTVBQPPL kể cả khi cần thiết.Thông qua một Thông tư liên tịch của TANDTC với các cơ quan có thẩm quyền, cụm từ “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” trong Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 được làm rõ là vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông khi tham gia giao thông trên đường bộ, không áp dụng trong các không gian khác như trường học, bến xe, công trường…580 Tuy nhiên, lý do nào dẫn đến kết quả trên thì không được trình bày trong Thông tư. Dù pháp luật hình sự xác định hành vi “vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là tội phạm nhưng các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ lại được chứa đựng trong Luật Giao thông đường bộ. Do đó, để chứng tỏ rằng việc vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nhất thiết phải gắn liền với không gian là đường bộ thì tòa án chỉ cần viện dẫn tên gọi và phạm vi điều chỉnh của luật chứa các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.581Do quy định về điều kiện đình chỉ giải quyết vụ án tại điểm đ, khoản 1, Điều 143 Luật tố tụng Hành chính năm 2015 “Người khởi kiện đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt” không rõ về thời điểm và mục đích của buổi triệu tập mà người khởi kiện vắng mặt nên TANDTC cho rằng đây là buổi triệu tập đến tòa để lấy lời khai trước khi mở phiên tòa. Để có được kết quả này, TANDTC viện dẫn quy định trong cùng VBQPPL về đối thoại. Theo đó, nếu vắng mặt tại phiên đối thoại thì vụ án phải được tiếp tục giải quyết, không thuộc trường hợp đình chỉ.582 Tuy nhiên, Tòa án không nêu căn cứ để loại trừ trường hợp vắng mặt tại phiên tòa dù chỉ đơn giản viện dẫn lời tựa của chương chứa quy định cần giải thích là “thủ tục đối thoại và chuẩn bị xét xử”.Ngoài việc không xem xét, viện dẫn nhiều căn cứ giải thích khi cần thiết, tòa án còn bỏ qua việc phân tích cấu trúc ngữ pháp thể hiện trên bề mặt câu chữ của quy định cần giải thích. Xem xét Công văn số 89/TANDTC-PC của TANDTC làm rõ quy định của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP về hành vi tổ chức sử dụng ma túy sẽ nhận thấy điều này. Theo Thông tư liên tịch trên, tổ chức sử dụng chất ma túy là “chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy…”583 nhưng khi giải thích TANDTC đã dùng dấu chấm phẩy tách riêng cụm từ “cung cấp chất ma túy” để nó có nghĩa độc lập như sau: “thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, điểm, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy”.584 Trong trường hợp này, TANDTC đã bỏ qua việc phân tích cấu trúc câu, dấu câu, sự bổ nghĩa của động từ cho các cụm danh từ trong quy định vì khi tách riêng cụm từ “cung cấp chất ma túy” thì các từ “chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị,” còn lại trong quy định sẽ trở nên vô nghĩa.Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP quy định án lệ phải có giá trị làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, hoặc thể hiện lẽ công bằng đối với những vấn đề chưa có điều luật quy định cụ thể. Từ đó cho thấy có hai loại án lệ: thứ nhất là án lệ GTVBQPPL, thứ hai là án lệ sáng tạo pháp luật, thẩm phán dựa trên lẽ công bằng để phán quyết các vấn đề chưa có điều luật quy định. Đặt trong mối quan hệ với GTVBQPPL của thẩm phán Thông luật và Dân luật, có thể cho rằng loại án lệ thứ hai cũng được hình thành trên cơ sở GTVBQPPL nhưng là giải thích thực tế, năng động để bù đắp lỗ hổng pháp lý của pháp luật thành văn. Theo Điều 8 của Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP thì “khi xét xử, thẩm phán, hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ, bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau.” Như vậy, theo quy định hiện hành thì án lệ là căn cứ trong GTVBQPPL của tòa án vì án lệ là sản phẩm của hoạt động GTVBQPPL, là cách hiểu và áp dụng VBQPPL chính thức trong hệ thống tòa án. Tuy nhiên, án lệ hiện nay nhìn chung chưa được tòa án nước ta sử dụng như một căn cứ phổ biến để GTVBQPPL.Khi bàn về căn cứ GTVBQPPL của tòa án Việt Nam, án lệ có thể được xem xét dưới góc độ như là một căn cứ để tòa án dựa vào đó mà GTVBQPPL. Đồng thời, vì án lệ cũng chính là sản phẩm GTVBQPPL mang tính cá biệt của tòa án nên qua xem xét án lệ có thể đánh giá các căn cứ khác được tòa án sử dụng trong quá trình GTVBQPPL. Từ các bản án lệ Việt Nam hiện hành cho thấy nhiều căn cứ giải thích hữu ích chưa được sử dụng trong quá trình GTVBPQPL theo vụ việc của thẩm phán Việt Nam, đặc biệt là các căn cứ không có giá trị pháp lý như tình hình thực tế của xã hội, học thuyết pháp lý. Ví dụ, với án lệ số 03/2016/AL và án lệ 04/2016/AL, tòa án cho rằng: khi các bên có liên quan biết được việc tặng cho hoặc chuyển nhượng bất động sản mà không phản đối hoặc thậm chí có hành vi khác thể hiện sự đồng tình thì xem như người đó đồng ý với việc tặng cho hoặc chuyển nhượng, theo đó hợp đồng tặng cho hoặc chuyển nhượng bất động sản vẫn có hiệu lực. Trong cả hai án lệ trên, tòa án không đưa ra lý lẽ tại sao có được giải pháp như vậy, không nêu lên các căn cứ giải thích khác nhau để tiến tới cân nhắc về mặt lợi ích giữa các căn cứ. Có ý kiến cho rằng trong các án lệ trên tòa án hoàn toàn có thể viện dẫn học thuyết về sự thể hiện ý chí và ý chí đích thực trong giao kết hợp đồng để giải thích. Thêm vào đó, tòa án đáng lẽ ra nên viện dẫn thực tiễn về giao kết hợp đồng liên quan đến bất động sản ở Việt Nam để chỉ ra khó khăn và bất hợp lý nếu không “mềm hóa” các quy định cứng nhắc về hình thức của hợp đồng liên quan đến các giao dịch về bất động sản.585 Tuy nhiên, trong các yếu tố nêu trên không có yếu tố nào được tòa án sử dụng làm căn cứ GTVBQPPL để tạo nên án lệ 03/2016/AL và án lệ 04/2016/AL.Nghiên cứu căn cứ GTVBQPPL qua các án lệ nổi tiếng trên thế giới cho thấy các căn cứ giải thích được chia làm 3 tầng: Tầng thứ nhất là tầng bề mặt bao gồm các quy tắc pháp lý, tầng thứ hai sâu hơn thể hiện dưới dạng các nguyên tắc pháp lý làm nền tảng cho các quy tắc và tầng cuối cùng là các học thuyết pháp lý được xem như hạ tầng pháp luật làm nền tảng cho cả nguyên tắc lẫn quy tắc.586 Trong khi đó, qua phân tích án lệ Việt Nam cho thấy các căn cứ giải thích được thể hiện trong án lệ còn rất mơ hồ, các căn cứ nếu có chỉ tập trung ở tầng thứ nhất, thiếu vắng các căn cứ giải thích thuộc tầng thứ hai và thứ ba.Tóm lại, tòa án nước ta chỉ mới chủ yếu sử dụng các căn cứ giải thích có giá trị pháp lý như như câu từ của quy định được giải thích, các quy định khác trong cùng văn bản hoặc các quy định khác trong VBQPPL có liên quan. Một số căn cứ giải thích là các bộ phận cấu thành nên VBQPPL như cấu trúc ngữ pháp, dấu câu, tựa của văn bản, tựa của chương hiếm khi được tòa án sử dụng kể cả khi cần thiết. Các căn cứ giải thích không có giá trị pháp lý nhìn chung chưa được tòa án sử dụng hoặc được sử dụng rất hạn chế. Từ điển và sách ngữ pháp chưa được xem là tài liệu hữu ích trong GTVBQPPL. Trong trường hợp giải thích hiếm hoi, TANDTC cho rằng nghĩa này có được từ từ điển Tiếng Việt nhưng không trích dẫn cụ thể.587 Khác với các nước Dân luật, lịch sử lập pháp ở nước ta chưa được hệ thống và công khai hóa do đó chúng rất ít khi được sử dụng để làm rõ nghĩa của các quy định mơ hồ. Chính sách pháp lý, nguyên tắc pháp lý, học thuyết pháp lý và các yếu tố khác như đạo đức, tập quán, tôn giáo, kinh tế… cũng chưa được tòa án công khai sử dụng như là căn cứ hỗ trợ trong GTVBQPPL.4.1.3. Về quy tắc giải thích4.1.3.1. Mặt tích cựcTừ việc đối chiếu với các quy tắc GTVBQPPL của thẩm phán các nước Thông luật và Dân luật cho thấy rằng các quy tắc GTVBQPPL của tòa án Việt Nam nhìn chung chưa được thiết lập đầy đủ. Các quy tắc áp dụng pháp luật ở nước ta có nội dung gần giống với các quy tắc GTVBQPPL ở các nước Thông luật và Dân luật. Cụ thể, Luật Ban hành VBQPPL hiện hành quy định: “Trong trường hợp các VBQPPL có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn. Trong trường hợp các VBQPPL do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của VBQPPL ban hành sau”.588 Quy tắc ưu tiên áp dụng VBQPPL chuyên ngành so với VBQPPL quy định chung chưa được Luật này ghi nhận. Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: Trường hợp quy định trong luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể mà trái với các nguyên tắc cơ bản quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự thì quy định của Bộ luật Dân sự được áp dụng. Bằng phương pháp suy lý ngược ta có được quy tắc rằng khi quy định trong luật khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong lĩnh vực cụ thể mà không trái với các nguyên tắc cơ bản quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự trên thì quy định đó được ưu tiên áp dụng. Bên cạnh đó, có thể kể một số quy định pháp luật ở nước ta giống với các quy tắc GTVBQPPL của các nước Thông luật và Dân luật như sau: VBQPPL về nguyên tắc không có hiệu lực hồi tố, hiệu lực hồi tố được áp dụng theo hướng có lợi cho chủ thể bị xử lý, luật thành văn không có hiệu lực vượt ra ngoài lãnh thổ (trừ khi có quy định rõ ràng), nghị viện ban hành luật trên tinh thần phù hợp với luật quốc tế.589Quy tắc GTVBQPPL của tòa án nước ta chưa được chính thức ghi nhận trong bất kỳ VBQPPL nào. Luật ban hành VBQPPL chỉ quy định nguyên tắc giải thích Hiến pháp, luật và pháp lệnh của UBTVQH. Mặc dù vậy, chúng ta đã có các quy tắc áp dụng pháp luật rất gần với quy tắc GTVBQPPL ở các nước Thông luật và Dân Luật. Thiết nghĩ có sự tương quan này là do hoạt động giải thích và áp dụng VBQPPL của tòa án các nước Thông luật và Dân luật luôn tương tác qua lại, thậm chí trộn lẫn nhau nhằm đem đến kết quả phù hợp cho cả hai. Cụ thể, GTVBQPPL của tòa án không dừng lại ở việc tìm nghĩa của quy định mà còn phải xác định phạm vi áp dụng của quy định vào vụ việc thực tế. Do đó, quy tắc giải thích các quy định pháp luật thành văn ở các nước này không chỉ giới hạn ở các quy tắc liên quan đến việc tìm nghĩa của chúng mà còn chứa đựng luôn cả các quy tắc áp dụng các quy định thành văn vào từng trường hợp cá biệt, bao gồm các quy tắc xác định hiệu lực hay phạm vi tác động của quy định cần giải thích. Trong khi đó, các quy tắc áp dụng VBQPPL ở Việt Nam chưa được nhìn nhận như là một phần của quy tắc GTVBQPPL mang tính cá biệt của thẩm phán.Ngoài ra, mặc dù các quy tắc được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự và Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành không đề cập trực tiếp đến vấn đề giải thích nhưng chúng có tác động đến kết cách thức GTVBQPPL mang tính cá biệt của thẩm phán trong quá trình xét xử. Cụ thể, Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện hành cho phép áp dụng pháp luật tương tự, áp dụng lẽ công bằng trong lĩnh vực dân sự đồng nghĩa với việc cho phép thẩm phán GTVBQPPL theo phương pháp giải thích logic (hệ thống) và phương pháp giải thích thực tế.590 Song song đó, với định nghĩa tội phạm trong Bộ luật hình sự, Quốc hội không cho phép thẩm phán áp dụng tương tự pháp luật trong quá trình giải thích các quy định về tội phạm, thay vì phải dựa trên câu chữ của quy định là chủ yếu, không được giải thích theo hướng mở rộng để kết tội một người.5914.1.3.2. Mặt hạn chếBên cạnh mặt tích cực được trình bày trên, nhiều quy tắc cần thiết cho tính thống nhất, minh bạch của hoạt động GTVBQPPL của tòa án được sử dụng khá phổ biến ở các nước Thông luật và Dân luật nhưng chưa được chính thức ghi nhận ở nước ta. Chẳng hạn như về quy tắc tôn trọng nghĩa thông thường, phổ biến của quy định, khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Người nào giao cho người mà biết rõ người đó không có giấy phép lái xe hoặc đang trong tình trạng có sử dụng rượu bia…gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ…” Người khác trong quy định này được TANDTC nước ta giải thích là bất kỳ người nào, kể cả chính người được giao điều khiển phương tiện giao thông.592 Cách giải thích này chưa đúng với nghĩa thông thường, hằng ngày của quy định.Từ cách thức giải thích cụm từ “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của TANDTC qua Công văn số 89/TANDTC-PC như đã được phân tích bên trên còn cho thấy tòa án nước ta hiện không bị ràng buộc bởi các quy tắc bổ nghĩa về mặt ngữ pháp.593 Các quy ước giải thích liên quan đến ngữ cảnh hay cú pháp đóng vai trò là thông điệp giao tiếp giữa chủ thể ban hành và chủ thể GTVBQPPL cũng chưa được hình thành. Điều 12 Luật Khiếu nại năm 2011 là một minh chứng cho thấy nhà soạn thảo chưa chú ý đến các quy tắc ngữ pháp, gây khó khăn cho việc hiểu nghĩa của quy định một cách nhất quán. Điều luật có đoạn được diễn đạt như sau: “… thì được ủy quyền cho cha mẹ, vợ chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác có năng lực hành vi dân sự đầy đủ để thực hiện việc khiếu nại”. Điều kiện “đã thành niên” và “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ” chỉ bổ nghĩa cho danh từ liền trước hay cho tất cả các danh từ được liệt kê là vấn đề được đặt ra. Xét về tính hợp lý và hợp pháp của quy định, thì bất kỳ người nào thực hiện việc ủy quyền cần phải “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ” vì vậy có thể suy luận rằng cụm từ “có năng lực hành vi dân sự đầy đủ” bổ nghĩa cho tất cả các chủ thể được liệt kê. Tuy nhiên, nếu đây là điều kiện cần thiết cho tất cả chủ thể được liệt kê thì có lẽ nhà làm luật không cần bổ sung thêm điều kiện “đã thành niên” cho chủ thể là “con”. Hơn nữa, tính từ “đã thành niên” bổ nghĩa duy nhất cho chủ thể là “con” hay tất cả chủ thể trong cùng chuỗi được liệt kê thì chưa có quy ước rõ trong quá trình soạn thảo và GTVBQPPL ở nước ta.Quan sát thực tế giải thích của tòa án cho thấy tòa án vẫn chấp nhận nghĩa của quy định vượt ra khỏi nội dung câu chữ của chúng mặc dù chưa có cơ sở pháp lý để thực hiện điều này. Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03 tháng 4 năm 2019 giải thích cụm từ “người tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có” là người tiêu thụ tài sản có được từ người khác một cách trái pháp luật, cho dù hành vi đó không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, không thể xử lý hình sự...594 Trường hợp khác, Công văn 89/TANDTC- PC ngày 30 tháng 6 năm 2020 giải thích chất ma túy trong Bộ luật Hình sự hiện hành bao gồm chất khác không phải ma túy nhưng người mua và người bán ý thức rằng đó là chất ma túy.595 Bất kỳ ai đã tham khảo các quy tắc giải thích ở các nước Thông luật đều có thể nhận ra đây chính là nội dung của quy tắc sửa đổi nghĩa văn phạm (golden rule). Từ hai ví dụ trên khiến tác giả luận án liên tưởng đến một vụ án ở Anh có giải thích khoản 1, Điều 8 Luật thực phẩm và dược phẩm năm 1955 (The food and drugs Act): “người nào bán thực phẩm không phù hợp cho người tiêu thụ thì phạm tội”. Hai đứa trẻ đến cửa hàng hỏi mua nước chanh (lemonade) nhưng lại được đưa chai caustic soda, kết quả là sau khi uống hai đứa trẻ bị say. Bị cáo tranh cãi rằng caustic soda không phải là thực phẩm. Tòa án cho rằng để đảm bảo tính công bằng và hợp lý cần phải thoát khỏi nghĩa văn phạm bằng cách diễn đạt lại cụm từ “bán bất kỳ thực phẩm nào” (sell any food) thành “bán bất kỳ thứ gì như thực phẩm” (sell any thing as food).596 Như vậy, qua kết quả giải thích hai vụ việc trên chúng ta thấy tòa án Việt Nam vẫn giải thích theo hướng rời bỏ nghĩa văn phạm để đạt kết quả hợp lý hơn mặc dù quy tắc thông luật truyền thống (Golden rule) về sửa nghĩa văn phạm chưa từng được ghi nhận ở nước ta.Như vậy, còn khá nhiều quy tắc cần thiết, hữu ích cho hoạt động GTVBQPPL của tòa án nhưng chưa được ghi nhận ở nước ta như quy tắc rời bỏ nghĩa văn phạm, quy tắc về ngữ nghĩa, ngữ cảnh và các quy tắc khác liên quan đến sử dụng cấu trúc ngữ pháp nhằm tăng cường hiệu quả giao tiếp giữa người đọc và người soạn thảo VBQPPL.Theo: Huỳnh Thị Sinh HiềnLink luận án: https://docs.google.com/document/d/1xFwgC6aacX69knvPfs3_XlM4r64mhWOW/edit
Đặng Quỳnh
251 ngày trước
Bài viết
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI THÍCH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA TÒA ÁN
 3.1. Quy tắc giải thích văn bản quy phạm pháp luật của tòa án các nước thuộc hệ thống Thông luật và Dân luật3.1.1.   Quy tắc giải thích văn bản quy phạm pháp luật của tòa án các nước thuộc hệ thống Thông luật3.1.1.1. Quy tắc thông luật truyền thốngTrong quá trình GTVBQPPL, có ba quy tắc truyền thống xuất phát từ Anh được hầu hết thẩm phán các nước Thông luật áp dụng.●   Quy tắc tiếp cận câu chữ (Literal rule)Đây là quy tắc cơ bản của thông luật yêu cầu thẩm phán khi GTVBQPPL phải dựa trên ngữ nghĩa của từ và cấu trúc câu, khi đạt được nghĩa rõ ràng thẩm phán phải áp dụng theo nghĩa đó. Lời bình luận của thẩm phán Anh, Tindal (LCJ) về quy tắc này được trích dẫn rất thường xuyên: “Nếu bản thân từ ngữ sử dụng trong luật đã rõ thì không cần làm gì ngoài việc giải thích từ ngữ này theo nghĩa thông thường của nó. Bản thân các từ đã nói lên ý định tốt nhất của nhà làm luật”.● Quy tắc sửa đổi nghĩa văn phạm (Golden rule)Đây là quy tắc ngoại lệ của quy tắc tiếp cận câu chữ, cho phép tòa án sửa nghĩa văn phạm khi nghĩa này tạo ra một kết quả không hợp lý, không công bằng hoặc đối nghịch với ý định của nhà làm luật nhằm hạn chế làm sai lệch ý chí của chủ thể ban hành qua cách thức sử dụng từ ngữ. Trong vụ Grey v. Pearson, thẩm phán Wensleydale đã viết: “… Khi giải thích di chúc, luật thành văn và tất cả các văn bản khác, nghĩa thông thường theo ngữ pháp phải được xem xét trước, trừ khi nghĩa này dẫn đến sự vô lý, không phù hợp với phần còn lại của văn bản được giải thích. Khi đó, người giải thích có quyền sửa nghĩa thông thường theo lời văn nhằm tránh những sự mâu thuẫn, không phù hợp, không rõ ràng.403 Ví dụ: trong vụ Adler v. George [1964] 2 QB 7 tòa án Anh giải thích quy định “cấm tạo ra các chướng ngại vật ở vùng lân cận của cơ sở không quân” bao gồm cấm hành vi tạo chướng ngại vật ngay trong vùng cơ sở không quân. Với quy tắc này thì nghĩa văn phạm chỉ được chấp nhận khi nó có được tính hợp lý và công bằng, không bị lấn át bởi các yếu tố khác mạnh hơn.●   Quy tắc khắc phục bất cập (Mischief rule)Tương tự như quy tắc sửa đổi nghĩa văn phạm, quy tắc khắc phục bất cập được áp dụng khi giải thích theo câu chữ tạo ra kết quả thiếu thuyết phục. Nếu quy định được ban hành nhằm khắc phục hiện trạng pháp lý đang tồn tại nhưng nếu dựa trên cách diễn đạt của quy định thì bất cập đó không được khắc phục, tòa án có quyền sửa nghĩa dựa trên câu chữ của quy định. Quy tắc này có cơ sở từ giải thích công bằng (Equitable Construction) được áp dụng phổ biến ở Anh vào thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII.404 Dựa trên tiêu chí công bằng thẩm phán có thể giải thích ngược lại với những gì được diễn đạt. Áp dụng quy tắc này có nguy cơ lạm quyền,405 nên chỉ khi nào có nghi ngờ phát sinh từ ngôn ngữ của quy định, thẩm phán mới có thể xem xét đến bất cập mà luật được ban hành để giải quyết. Trong vụ Smith v. Hughs [1960] 2 All ER 859 theo Luật vi phạm trên đường phố năm 1959 của Anh thì hành vi lảng vảng, chèo kéo khách ở trên đường cho mục đích mại dâm là tội phạm. Bị cáo cho rằng mình không phạm tội vì chỉ chèo kéo đàn ông trên bancon nhà mình. Áp dụng quy tắc trên, tòa án cho rằng dự định đúng của Nghị viện là để khắc phục tình trạng quấy rối từ hoạt động mại dâm và tuyên án bị cáo có tội.3.1.1.2. Quy tắc thông luật hiện đạiThông luật ngày nay không dựa hoàn toàn một trong ba quy tắc thông luật truyền thống trên mà kết hợp cả ba. Cách tiếp cận theo thông luật hiện đại là phải xem xét ngữ cảnh quy định ở mức độ rộng nhất. Trong bản án mang tên CIC Insurance Ltd v Bankstown Football Club Ltd (1997) 187 CLR 384 tại đoạn 408 các thẩm phán Úc cho rằng:Có được quan điểm nhất quán trong quy tắc thông luật về GTVBQPPL là tòa án phải xem xét bài báo cáo của cơ quan cải cách pháp luật để biết được bất cập nào luật dự định để khắc phục. Thêm vào đó, ngữ cảnh thì được xem xét đầu tiên, không phải chỉ khi nào có sự mơ hồ trong ngữ nghĩa và phải sử dụng ngữ cảnh theo nghĩa rộng nhất bao gồm tình trạng hiện hành của luật, vấn đề phát sinh cần ban hành luật để giải quyết. Đối với các từ ngữ được sử dụng một cách chung chung cần giải thích chủ yếu dựa trên ngữ cảnh. Từ ngữ có thể được sửa đổi cho khác đi sao cho phù hợp với mục đích của luật, hoặc vấn đề mà luật được thiết kế ra nhằm loại bỏ hoặc khắc phục. Khi giải thích đem đến một kết quả không phù hợp, tòa án có thể xem xét nghĩa dựa trên sự thay đổi cấu trúc của quy định hoặc ý định lập pháp.Tương tự, xu hướng GTVBQPPL ở Anh từ sau năm 1950 đến nay được cho là giải thích theo mục đích. Từ năm 1830 đến 1950 là giai đoạn giải thích câu chữ nghiêm ngặt trong khi đó trước năm 1830 là giải thích tự do nhằm đảm bảo tính công bằng của luật thành văn. Nhà nghiên cứu người Anh Evan Bell cho rằng “qua nhiều thế kỉ, cách tiếp cận của tòa án trong GTVBQPPL có nhiều chuyển biến. Mặc dù có lẽ sai để cho rằng cách tiếp cận mục đích là cách tiếp cận hiện đại ngày nay, nhưng tòa án gần đây có xu hướng rời xa câu chữ để tiến đến cách tiếp cận theo ngữ cảnh và mục đích”.408 Theo Evan Bell, có nhiều lý do dẫn đến sự thay đổi này trong đó có sự nhận biết rõ hơn về sự phức tạp của ngôn ngữ, về vai trò quan trọng của ngữ cảnh và mục đích trong giao tiếp.409 Như vậy, có thể cho rằng cách tiếp cận hiện đại của thông luật về GTVBQPPL là cách tiếp cận mục đích nhưng không bỏ qua yếu tố trung tâm là câu chữ của quy định,410 hay cách tiếp cận câu chữ trong tổng quan của ngữ cảnh mà câu chữ đó được sử dụng.3.1.1.3. Các quy ước (canon) giải thíchCác quy tắc do thẩm phán Thông luật thiết lập và sử dụng trong quá trình GTVBQPPL được gọi là canon (tác giả luận án tạm dịch là quy ước). Các quy ước được chia làm hai loại, quy ước thiên về ngôn ngữ (linguistic canon) và quy ước thiên về nội dung (substantive canon) trong đó có nhiều quy ước cổ điển được diễn đạt bằng ngôn ngữ Latin.●   Quy ước giải thích về ngôn ngữ hay canon ngôn ngữ (Linguistic Canon)Quy ước về ngôn ngữ được thẩm phán Thông luật thiết lập để xác định nghĩa của quy định trên cơ sở suy luận rằng chủ thể ban hành đã sử dụng ngôn ngữ hợp lý.413 Quy ước về ngôn ngữ được chia làm 3 nhóm: quy ước về ngữ cảnh, ngữ nghĩa và cú pháp.Từ ngữ không thể hiểu tách rời với ngữ cảnh, các từ xung quanh tạo nên ngữ cảnh cho quy định mà nó hợp thành, toàn bộ văn bản tạo nên ngữ cảnh cho mỗi phần của nó.414 Một số quy ước liên quan đến ngữ cảnh trong GTVBQPPL của thẩm phán Thông luật bao gồm: nghĩa của từ được xác định dựa vào các từ chung quanh;  từ ngữ được sử dụng không dư thừa;  từ ngữ được sử dụng nhất quán (từ giống nhau nghĩa giống nhau, từ khác nhau nghĩa khác nhau);417 khi quy định liệt kê nhiều từ cùng đặc điểm và theo sau bởi các từ chung chung rộng hơn, thì nghĩa của các từ chung chung này được xác định trong giới hạn cùng loại với các từ đã được liệt kê.Quy ước cơ bản liên quan đến ngữ nghĩa trong GTVBQPPL ở các nước Thông luật chính là: từ ngữ được hiểu theo nghĩa thông thường, trừ khi ngữ cảnh chỉ ra rằng từ ngữ đó có nghĩa kỹ thuật. Nếu có nhiều hơn một nghĩa thông thường, ngữ cảnh sẽ giúp người giải thích tìm nghĩa thông thường phù hợp nhất. Trong các vụ án hình sự, nghĩa thông thường hợp lý và có lợi cho bị cáo sẽ được ưu tiên. Ví dụ nghĩa thông thường của từ trộm cắp chỉ giới hạn ở tài sản hữu hình, không bao gồm sở hữu trí tuệ. Nghĩa thông thường sẽ không được chọn nếu đem đến kết quả giải thích không công bằng, vô lý hoặc trái với mục đích của luật. Nghĩa kỹ thuật của từ là nghĩa được hiểu bởi những người có chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể. Từ ngữ có thể có nhiều nghĩa kỹ thuật hoặc vừa có nghĩa kỹ thuật vừa có nghĩa thông thường, để biết nghĩa nào được sử dụng thẩm phán thường dựa vào ngữ cảnh. Nếu từ hoặc nhóm từ mang nghĩa kỹ thuật trong lĩnh vực chuyên môn cụ thể và được sử dụng trong ngữ cảnh của chuyên môn đó thì nghĩa kỹ thuật được chấp nhận, trừ khi có định nghĩa khác trong luật hoặc ngữ cảnh chỉ ra ý định ngược lại.·  Quy ước liên quan đến cú pháp trong GTVBQPPL, thẩm phán Thông luật có các quy ước sau:Từ ngữ bổ nghĩa cho cả chuỗi các từ tương đồng được liệt kê. Ví dụ theo Hiến pháp Mỹ sửa đổi lần 4 có cụm từ lục soát và tịch thu bất hợp pháp thì trạng từ bất hợp pháp bổ nghĩa cho cả hai động từ lục soát và tịch thu. Đại từ thay thế chỉ đại diện cho danh từ hoặc cụm danh từ cuối cùng gần nhất với nó. Quy ước này được Tòa án tối cao Mỹ làm rõ bằng một ví dụ về lời dặn dò của cha đối với con chưa thành niên: “Con sẽ bị phạt nếu con tổ chức tiệc hoặc có bất kỳ hoạt động nào khác mà hoạt động đó gây thiệt hại đến căn nhà.” Đứa trẻ khó tránh khỏi việc bị phạt bằng cách lập luận rằng việc tổ chức tiệc chưa hoặc không gây thiệt hại cho căn nhà vì đại từ thay thế “hoạt động đó” (that) chỉ đại diện cho cụm từ gần nhất là “bất kỳ hành động nào khác” không bao gồm việc “tổ chức tiệc”. Trường hợp này ý định của người cha không phải duy nhất là chỉ để bảo vệ căn nhà mà có thể ngăn chặn con mình uống bia, rượu khi chưa đủ tuổi.Một quy ước khác về cú pháp là khi cấu trúc câu không liên quan đến một chuỗi các từ tương đồng thì mệnh đề phụ đứng trước hoặc sau chỉ bổ nghĩa cho danh từ hoặc động từ gần nhất. Ví dụ: theo Điều 32 Luật Cấm đoán của bang Virginia (Mỹ) năm 1924 thì “những quy định trong luật này không được giải thích để ngăn cản bất kỳ người nào sản xuất cho mục đích tiêu thụ tại nhà … rượu vang, rượu táo từ trái cây họ tự trồng”. Danh từ sản xuất (manufacturing) và tiêu thụ (consumption) được sử dụng trong quy định không tương đồng nhau về ngữ pháp, do đó trạng từ chỉ nơi chốn “tại nhà” chỉ bổ nghĩa cho danh từ gần nhất đó là tiêu thụ.433Được thiết lập chủ yếu dựa trên sự diễn đạt của VBQPPL, quy ước ngôn ngữ giúp giải mã ngôn ngữ pháp lý dựa trên quy tắc ngữ pháp thông thường. Các quy ước không mang tính ràng buộc cứng nhắc nên trong một vụ việc cụ thể, thẩm phán có thể từ chối áp dụng nếu việc áp dụng một quy ước nào đó dẫn đến kết quả không chính đáng.●   Quy ước giải thích thiên về nội dung hay canon nội dung (Substantive canon)Nếu quy ước về ngôn ngữ chỉ quan tâm đến sự diễn đạt của ngôn ngữ thì quy ước thiên về nội dung chủ yếu được thiết lập dựa trên các chính sách của nhà nước để ủng hộ hoặc phản đối một kết quả giải thích cụ thể. Đây là những quy ước được tạo ra bởi thẩm phán Thông luật nhằm bảo vệ các nguyên tắc hiến định, thực tiễn của thông luật hoặc các chính sách liên quan trong một lĩnh vực pháp lý cụ thể.Trong các quy ước về nội dung, nổi tiếng nhất là quy ước khoan dung, cho rằng sự mơ hồ trong các đạo luật hình sự phải giải thích theo hướng có lợi cho người phạm tội.436 Tính hợp lý của nguyên tắc này là không nên bắt một người phải chịu hình phạt về một hành vi mà quy định về nó chưa rõ ràng.  Thẩm phán cũng giải thích các quy định mơ hồ theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý cho người vi phạm hoặc giảm gánh nặng về nghĩa vụ thuế khi có sự mơ hồ trong quy định. Ngược lại, khi giải thích các quy định liên quan đến người yếu thế như trẻ em, người được hưởng phúc lợi xã hội, người thiểu số bản địa… thẩm phán giải thích theo hướng có lợi cho họ.Bên cạnh đó, có các quy ước nội dung xuất phát từ tính thống nhất của hệ thống pháp luật như: khi có hai hoặc nhiều hơn cách giải thích hợp lý, thẩm phán nên chọn cách giải thích có thể tránh phát sinh câu hỏi về tính hợp hiến, thẩm phán nên duy trì các nguyên tắc án lệ lâu đời bằng cách khi có nhiều hơn một cách giải thích thì cách nào phù hợp với án lệ được ưu tiên.Suy luận chống lại hồi tố là quy ước được phát triển bởi tòa án các nước Thông luật qua quá trình GTVBQPPL, theo đó VBQPPL không thể tác động đến các quan hệ xã hội diễn ra trước ngày chúng có hiệu lực.442 Với quan điểm rằng mục đích của pháp luật nói chung không phải là tạo ra mà phải ngăn ngừa lạm dụng nên xuất hiện một quy ước khác khá phổ biến là VBQPPL được giải thích để ngăn ngừa một người hưởng lợi từ chính cái sai của mình. Đây là suy luận cơ bản nhằm đảm bảo công bằng, được áp dụng chủ yếu để giải thích các quy định trong lĩnh vực luật tư.443 Ngoài ra, đối với nhà nước quân chủ như Anh, Úc thẩm phán còn suy luận rằng “luật thành văn không ràng buộc hoàng gia”.3.1.1.4. Quy định thành văn về giải thích văn bản quy phạm pháp luậtQua phân tích các quy tắc GTVBQPPL ở các nước Thông luật cho thấy các quy tắc chủ yếu có nguồn gốc từ thông luật, nội dung các luật do nghị viện ban hành chủ yếu ghi nhận lại các quy tắc giải thích cơ bản từ thông luật. Điều này được lý giải rằng nghị viện xem GTVBQPPL là lãnh địa riêng của tòa án nên ngại ngùng can thiệp, điều chỉnh sâu vào lĩnh vực này. Đặc điểm chung của các quy tắc GTVBQPPL là chúng mang tính hướng dẫn, định hướng cho thẩm phán. Trong mỗi trường hợp giải thích, thẩm phán Thông luật xem xét rất nhiều yếu tố liên quan và quyết định yếu tố nào quan trọng hơn, đồng thời gắn với “quy tắc” cụ thể nào.3.1.2.   Quy tắc giải thích văn bản quy phạm pháp luật của tòa án các nước thuộc hệ thống Dân luậtDù các nước Dân luật có truyền thống luật thành văn nhưng lại rất ít các quy định thành văn liên quan đến GTVBQPPL. Ở Pháp, không có quy định thành văn nào mô tả một cách cụ thể làm thế nào luật được giải thích. Bên cạnh đó, rất hiếm để tìm thấy trong các phán quyết của tòa án quy tắc về giải thích,  một số quy tắc GTVBQPPL được tìm thấy dưới dạng học thuyết. Trong quyển “Luận thuyết về giải thích pháp luật” (the Traité de l'Interpritation Juridique) xuất bản năm 1849, Delisle, trưởng khoa luật của Caen đã thiết kế các quy tắc giải thích như sau: Người giải thích phải theo nghĩa văn phạm của quy định trừ khi có lý do hợp lý để rời bỏ nó; không được phép để giới hạn câu chữ của quy định đến mức không có nghĩa; câu chữ của quy định có thể được mở rộng đến các tình huống không được dự định bởi nhà lập pháp; các tình huống được bao quát theo câu chữ của quy định có thể bị loại bỏ nếu việc bao quát đó làm mất đi tính công bằng; khi có nhiều nghĩa có thể, nghĩa được chọn là nghĩa công bằng nhất hoặc ít bất công nhất…Ngoài ra, ở Pháp còn có một số quy tắc suy luận dù không được trình bày qua các quy định cụ thể nhưng chúng được sử dụng trong thực tế GTVBQPPL như:- Suy luận về sự thống nhất của hệ thống pháp luật.Nếu tòa án nhận thấy có hai quy tắc pháp lý dường như xung đột nhau, tòa án có xu hướng giải thích cả hai theo hướng không xung đột để cả hai đều có giá trị. Nếu không thể hóa giải xung đột, thẩm phán dựa theo tiêu chí ưu tiên sau: giá trị pháp lý cao ưu tiên hơn thấp, điều chỉnh riêng ưu tiên hơn điều chỉnh chung, hiện đại ưu tiên hơn cũ. Các quy tắc ưu tiên trên cũng chỉ được xem là truyền thống pháp lý, không được thể hiện qua các quy định thành văn.-  Suy luận rằng luật thành văn khi có hiệu lực thì đã có sự xác nhận tính phù hợp với hiến pháp và những quy tắc chung của luật.-  Suy luận rằng nghị viện không có ý định tạo ra kết quả ngớ ngẩn.-  Suy luận rằng ý chí của nhà lập pháp được thể hiện qua câu chữ của luật. Đối với những tình huống lập pháp không thể dự liệu lúc ban hành, thẩm phán có thể liên hệ đến ý chí của nhà lập pháp hiện hành.- Khi giải thích pháp luật hành chính, thẩm phán suy luận rằng luật trao quyền quản lý vì lợi ích chung.-  Suy luận rằng VBQPPL không có hiệu lực hồi tố trừ khi được trình bày rõ ràng.Ở Đức, khó để tìm thấy quy định nào trong Hiến pháp, kể cả trong luật mô tả cụ thể làm thế nào một VBQPPL được giải thích. Riêng đối với các quy định về lấp khoảng trống pháp lý, ở Đức chỉ có thể tìm thấy trong các bộ luật cũ và trong bản thảo đầu tiên của Bộ luật Dân sự. Trong bản thảo này có một quy tắc lấp khoảng trống pháp lý bằng cách áp dụng pháp luật tương tự nhưng sau đó bị loại bỏ với lý do: “áp dụng tương tự và giải thích có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng đã không có quy định nào liên quan đến giải thích trong Bộ luật Dân sự”  Hơn nữa, dù quyết định của tòa án Hiến pháp liên bang Đức có tính ràng buộc đối với tòa án cấp dưới theo Điều 31 Luật tòa án Hiến pháp liên bang nhưng cách trình bày mang tính phương pháp luận bởi tòa án này thì không ràng buộc theo quy tắc trên. Hơn nữa, sự không thống nhất về mặt phương pháp cũng không được làm rõ bằng cách đưa vấn đề này lên Hội đồng tối cao của tòa án Tư pháp liên bang Đức theo quy trình của Điều 132 Luật Hiến pháp tòa án Đức (Gerichtsverfassungsgesetz – GVG).460 Khoản 2 Điều 103 Luật cơ bản Đức cấm áp dụng pháp luật tương tự và cấm hồi tố để kết tội hay xử phạt một người:“Một hành vi chỉ có thể bị phạt nếu nó là hành vi vi phạm và phải chịu biện pháp xử phạt được quy định trong luật trước khi hành vi đó được thực hiện”. Có thể cho rằng ngoài quy định trên thì ở Đức không có quy định nào liên quan đến GTVBQPPL.Tương tự như ở Pháp, ở Đức cũng có các quy tắc mang tính suy luận được sử dụng trong quá trình giải thích. Có ba suy luận chung trong quá trình GTVBQPPL là chủ thể ban hành VBQPPL (1) đã chọn các từ ngữ cẩn thận, (2) đã cố gắng loại trừ các quy định mâu thuẫn (3) đã hạn chế tối đa các quy định ngớ ngẫn. Bên cạnh đó, khi giải thích các VBQPPL điều chỉnh hành vi của người dân thì tòa án Đức có khuynh hướng ủng hộ nghĩa  thông thường. Ngoài ra, cũng có các quy ước liên quan đến tuổi của luật như luật cũ hơn thì sức mạnh ràng buộc theo từ ngữ yếu hơn, ý định lập pháp chính thức cũng yếu hơn.463 Quy định càng chung chung thì yếu tố tự do trong giải thích càng cao, quy định càng cụ thể thì hiệu lực ràng buộc đối với câu từ càng cao.Theo: Huỳnh Thị Sinh HiềnLink luận án: https://docs.google.com/document/d/1xFwgC6aacX69knvPfs3_XlM4r64mhWOW/edit
Bài viết được xem nhiều nhất
Bài viết
(mới)Những mẫu bản kiểm điểm đảng viên dành cho cán bộ, giáo viên, sinh viên,.. luôn được bạn đọc chú ý. Đây là thời điểm để mọi người nhìn nhận lại những gì mình đã và chưa làm được. Qua đó cho mình thêm động lực để phấn đấu hơn nữa. Hãy cùng nhau theo dõi ngay trong bài viết mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân của Legalzone - hệ thống thủ tục pháp luậtMẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân Bản kiểm điểm Đảng viên sẽ gồm có các phần chính sau:Ưu điểm, kết quả đạt được về tư tưởng chính trị;Phẩm chất đạo đức, lối sống;Y thức tổ chức kỷ luật;Tác phong, lề lối làm việc;Về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao;Về việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm.Cụ thể: Hạn chế, khuyết điểm đảng viên về tư tưởng chính trị; phẩm chất đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc; về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.Hạn chế khuyết điểm đảng viên về việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm và nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm.Kết quả khắc phục những ưu khuyết điểm của đảng viên đã được cấp có thẩm quyền kết luận hoặc được chỉ ra ở các kỳ kiểm điểm trước.Tại phần này cần kiểm điểm rõ:Từng ưu khuyết điểm đảng viên (đã được khắc phục; đang khắc phục, mức độ khắc phục; chưa được khắc phục)Những khó khăn, vướng mắc (nếu có)Trách nhiệm của cá nhân.Giải trình, nhận xét ưu khuyết điểm của đảng viên những vấn đề được gợi ý kiểm điểm (nếu có).Giải trình từng vấn đề được gợi ý kiểm điểm, nêu nguyên nhân.Xác định trách nhiệm của cá nhân đối với từng vấn đề được gợi ý kiểm điểm.Làm rõ trách nhiệm của cá nhân đối với những ưu điểm khuyết điểm của đảng viên (nếu có).Phương hướng, biện pháp khắc phục những ưu khuyết điểm của đảng viên. Tự nhận mức xếp loại chất lượng.Legalzone cung cấp cho bạn đọc 02 mẫu bản tự kiểm kiểm cá nhân tham khảo sau đây:Mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhânBẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂNHọ và tên: ………………… Sinh ngày: …………………………………Ngày vào Đảng: ……………… Chính thức ngày ………………………… Chức vụ Đảng: …………………………………………………………..Chức vụ chính quyền(đoàn thể): ………………………………………….Đơn vị công tác: ………………………………………………………Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: ………………………………………..I. Ưu điểm, kết quả công tác 1. Về tư tưởng chính trị– Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi luôn kiên định đối với đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.– Chấp hành nghiêm túc quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực để bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.– Luôn có ý thức tuyên truyền, vận động người thân, gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.– Xác định ý thức tích cực, tự giác tự học, tự nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác qua các lớp tập huấn, các lớp bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp…– Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng thực hiện cuộc vận động“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” của bản thân.Trong quá trình công tác, bản thân luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.2. Về phẩm chất đạo đức, lối sống.– Bản thân tôi luôn có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu.- Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong ngành. Luôn có ý thức giữ gìn tư cách, đạo đức tính tiên phong của người đảng viên trong tác chuyên môn.- Không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và những điều Đảng viên không được làm theo quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị.– Bản thân tôi luôn thực hiện tự phê bình và phê bình trung thực và thẳng thắn, giữ gìn đoàn kết trong Đảng trên cơ sở cương lĩnh và điều lệ Đảng, phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động chỉ đạo chuyên môn và luôn luôn xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ.-  Trong cuộc sống thường ngày sinh hoạt với địa phương, tôi đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tin tưởng, tham gia tích cực mọi hoạt động ở nới cư trú.3. Về thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao:– Bản thân luôn thực hiện đúng qui chế chuyên môn, đảm bảo tính khoa học.– Làm việc có trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. – Luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.– Luôn phối kết hợp tốt với các đồng nghiệp, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. -Trong công tác xây dựng Đảng, đoàn thể tôi luôn có ý thức tuyên truyền, tham gia xây dựng chi bộ, các đoàn thể trong cơ quan trong sạch, vững mạnh.4. Về tổ chức kỷ luật:– Bản thân tôi luôn thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, chấp hành sự phân công điều động, luân chuyển của tổ chức.- Bản thân luôn vận động gia đình chấp hành nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các luật và nghị định của Nhà nước về phòng chống ma tuý, chống tiêu cực ……– Bản thân tôi luôn thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng và đóng đảng phí theo quy định.- Tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt chi bộ, quán triệt sâu sắc các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và ngành đề ra.– Tham gia đầy đủ các buổi hội họp, học nghị quyết do chi bộ và Đảng bộ tổ chức; đóng Đảng phí đầy đủ, kịp thời.– Thực hiện tốt quy chế, nội quy của tổ chức Đảng cũng như của cơ quan đơn vị, có tinh thần gương mẫu chấp hành và lãnh đạo thực hiện tốt quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú- Ý thức lắng nghe, tiếp thu và tự sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng.– Thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở; có tinh thần tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền.- Luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao; thái độ phục vụ nhân dân tốt; có ý thức đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, gây phiền hà nhân dân.II. Khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân– Chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy kết quả chưa cao– Đôi khi còn chưa linh hoạt, trong giải quyết công việc với đồng nghiệp, với học sinh– Tuy có ý thức trong công tác tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt nhưng vẫn còn chưa mạnh dạn.– Đôi lúc chưa chủ động trong tổ chức thực hiện một số hoạt động. Trong công việc đôi lúc còn chưa mạnh dạn, thẳng thắn góp ý cho đồng nghiệp– Chưa cương quyết trong xử lí vi phạm, làm việc còn mang tính cả nểIII. Phương hướng và biện pháp khắc phục, sửa chữa yếu kém– Tuyệt đối chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.- Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong Đảng và cơ quan.– Không ngừng tu dưỡng đạo đức, tự học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị,chuyên môn nghiệp vụ, mạnh dạn hơn nữa trong việc tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị được giao.– Tiếp tục đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, luôn có ý thức tự phê bình và phê bình, tránh tư tưởng nể nang, nâng cao vai trò tiên phong của người đảng viên.Biện pháp khắc phục:– Trong thời gian tới sẽ phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm trên để bản thân được hoàn thiện hơn.– Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những hành động và việc làm cụ thể trong thực hiện công việc và nhiệm vụ được giaoXem thêm: Thủ tục thành lập trung tâm ngoại ngữ tại Hà NộiLink dowload các biểu mẫu miễn phíBẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂNBẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂN 2BẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁN BỘTải ngay mẫu Bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân tại phần ảnh tại bài viết hoặc tại phần bình luận của bài viết bạn nhé IV. Tự nhận mức xếp loại chất lượng Đảng viên, cán bộ, công chức:Mức 2: Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.Người viết bản kiểm điểmMẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân số 2ĐẢNG BỘ Xà.......CHI BỘ TRƯỜNG .........***ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ........, ngày...tháng...năm 2019BẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂNHọ và tên: ............. .............. Sinh ngày: ........... ................ ........... ............Ngày vào Đảng: ............... .............. Chính thức ngày .............. .............. Chức vụ Đảng: ........... ............ ............... .............. ................ ................. Chức vụ chính quyền(đoàn thể): .............. ................. .................. ............ Đơn vị công tác: ............ ............... ................ ................... ................. Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: .................... .................... .................... Ưu điểm, kết quả công tácVề tư tưởng chính trị- Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi luôn kiên định đối với đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.- Chấp hành nghiêm túc quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực để bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.- Luôn có ý thức tuyên truyền, vận động người thân, gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.- Xác định ý thức tích cực, tự giác tự học, tự nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác qua các lớp tập huấn, các lớp bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp...- Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", cuộc vận động "Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo" của bản thân. Trong quá trình công tác, bản thân luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.Về phẩm chất đạo đức, lối sống.- Bản thân tôi luôn có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu.Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong ngành.Luôn có ý thức giữ gìn tư cách, đạo đức tính tiên phong của người đảng viên trong tác chuyên môn.Không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và những điều Đảng viên không được làm theo quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị.- Bản thân tôi luôn thực hiện tự phê bình và phê bình trung thực và thẳng thắn, giữ gìn đoàn kết trong Đảng trên cơ sở cương lĩnh và điều lệ Đảng, phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động chỉ đạo chuyên môn và luôn luôn xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ. Trong cuộc sống thường ngày sinh hoạt với địa phương, tôi đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tin tưởng, tham gia tích cực mọi hoạt động ở nới cư trú.Về thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao:- Bản thân luôn thực hiện đúng qui chế chuyên môn, đảm bảo tính khoa học.- Làm việc có trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao- Luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.- Luôn phối kết hợp tốt với các đồng nghiệp, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao-Trong công tác xây dựng Đảng, đoàn thể tôi luôn có ý thức tuyên truyền, tham gia xây dựng chi bộ, các đoàn thể trong cơ quan trong sạch, vững mạnh.>>Tham khảo bài viết: Bộ luật Dân sự 2015: Điểm nổi bật và ý nghĩa trong bối cảnh pháp luật hiện đạiVề tổ chức kỷ luật:- Bản thân tôi luôn thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, chấp hành sự phân công điều động, luân chuyển của tổ chức. Bản thân luôn vận động gia đình chấp hành nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các luật và nghị định của Nhà nước về phòng chống ma tuý, chống tiêu cực ......- Tham gia đầy đủ các buổi hội họp, học nghị quyết do chi bộ và Đảng bộ tổ chức; đóng Đảng phí đầy đủ, kịp thời.- Thực hiện tốt quy chế, nội quy của tổ chức Đảng cũng như của cơ quan đơn vị, có tinh thần gương mẫu chấp hành và lãnh đạo thực hiện tốt quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú; ý thức lắng nghe, tiếp thu và tự sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng.- Luôn có thái độ cầu thị trong việc nhận và sửa chữa khắc phục khuyết điểm.- Thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở; có tinh thần tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền.- Luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao; thái độ phục vụ nhân dân tốt; có ý thức đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, gây phiền hà nhân dân.Khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân- Chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy kết quả chưa cao. - Chưa dành thời gian thích hợp để nghiên cứu, tìm hiểu sâu về Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết, quy định của Đảng; pháp luật, chính sách của Nhà nước.- Trách nhiệm cá nhân trong việc phối kết hợp với các đoàn thể khác trong trường có lúc chưa đạt hiệu quả cao nhất.- Đôi lúc chưa chủ động trong tổ chức thực hiện một số hoạt động. Trong công việc đôi lúc còn chưa mạnh dạn, thẳng thắn góp ý cho đồng nghiệp- Chưa cương quyết trong xử lí vi phạm, làm việc còn nể nang tình cảm trong công tác phê bình và tự phê bình.III. Phương hướng và biện pháp khắc phục, sửa chữa yếu kém- Tuyệt đối chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.- Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong Đảng và cơ quan.- Không ngừng tu dưỡng đạo đức, tự học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ- Mạnh dạn hơn nữa trong việc tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị được giao.- Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống- Luôn có ý thức tự phê bình và phê bình, nâng cao vai trò tiên phong của người đảng viên.Biện pháp khắc phục:- Trong thời gian tới sẽ phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm trên để bản thân được hoàn thiện hơn.- Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những hành động và việc làm cụ thể trong thực hiện công việc và nhiệm vụ được giao. Tự nhận mức xếp loại chất lượng Đảng viên, cán bộ, công chức:Mức 2: Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.     NGƯỜI TỰ KIỂM ĐIỂM(Ký, ghi họ tên) ĐÁNH GIÁ PHÂN LOẠI CHẤT LƯỢNG ĐẢNG VIÊNNhận xét, đánh giá của chi ủy:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ...............Chi bộ phân loại chất lượng:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ..........................., ngày...tháng...năm....T.M CHI ỦYBí thưĐảng ủy (chi ủy cơ sở) phân loại chất lượng:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ................................., ngày...tháng...năm...     T.M ĐẢNG ỦYTrên đây là một số thông tin về mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân bạn đọc tham khảo. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ. Hoặc bạn có thể tra cứu các thủ tục qua trang Thủ tục pháp luật của chúng tôi. 
Bài viết
Nguồn vốn xã hội hóa là gì? Đặc điểm của nguồn vốn xã hội hóa như thế nào? Cùng Legalzone tìm hiểu qua bài viết dưới đây. Khái nhiệm nguồn vốn xã hội hóaNguồn vốn xã hội hóa là gì?Nguồn vốn xã hội hóa được hiểu là những qui định phi chính thức, những chuẩn mực và các mối quan hệ lâu dài giúp thúc đẩy các hành động tập thể và cho phép mọi người thực hiện các hoạt động hợp tác kinh doanh cùng có lợi.Đặc điểm nguồn vốn xã hội hóaĐây là một loại hình vốn vậy nên có các đặc tính như:Tính sinh lợiThuộc tính sinh lợi cho biết vốn xã hội phải có khả năng sinh ra một nguồn lợi nào đó cả về mặt vật chất và tinh thần.Tính có thể hao mònTính hao mòn là thuộc tính hệ quả của tính sinh lợi, một điểm khác biệt quan trọng của vốn xã hội với các loại vốn khác là ngày càng sử dụng càng tăng.Cũng chính vì vậy mà vốn xã hội có thể bị suy giảm và triệt tiêu nếu không được sử dụng có thể bi phá hoại một cách vô tình hay cố ý khi vi phạm qui luật tồn tại và phát triển của loại hình vốn này.Tính sở hữuLà loại hình vốn nên vốn xã hội cũng sẽ thuộc sở hữu của một cộng đồng xã hội nào đó. Là một loại hình vốn nên nó có thể được đo lường, tích lũy và chuyển giao.Tính có thể đo lường tích lũy, chuyển giao.Một đặc điểm khác nữa của vốn xã hội là nó được làm tăng lên trong quá trình chuyển giao.Vốn xã hội có tính hai mặt:Nó có thể hướng đến sự phát triểnThiên về tính bảo tồn, kìm hãm sự phát triển.Vốn xã hội phải thuộc về một cộng đồng nhất định. Và là sự chia sẻ những giá trị chung, những qui tắc và ràng buộc chung của cộng đồng đó.Vai trò của vốn xã hội đối với tăng trưởng kinh tếNguồn vốn xã hội hoánguon von xa hoiNhững tác động của vốn xã hội đến tăng trưởng kinh tế cũng được xem xét từ nhiều khía cạnh.Vốn xã hội có thể tác động tới tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh trực tiếp và gián tiếp khác nhau.– Kênh 1: vốn xã hội có thể thay thế các thể chế chính thức một cách hiệu quả.Vốn xã hội cho dù đó là vốn xã hội co cụm vào nhau hay vốn xã hội vươn ra ngoài bao hành sự tin tưởng lẫn nhau và các chuẩn mực phi chính thức có thể thay thế cho các thể chế chính thức để điều chỉnh các giao dịch kinh tế và do vậy giảm thiểu các chi phí -Kênh 2: vốn xã hội tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa mọi người thúc đẩy sự lưu chuyển, lan tỏa của các nguồn lực, thông tin, các ý tưởng và công nghệ.– Kênh 3: vốn xã hội tạo điều kiện cho sự phát triển của các hoạt động đổi mới, sáng tạo.– Kênh 4: vốn xã hội có tác động tích cực làm gia tăng vốn con người.Tuy nhiên, không phải vốn xã hội luôn có vai trò tích cực đối với tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh những lợi ích mà vốn xã hội đem lại, sự tồn tại của vốn xã hội luôn kèm theo những chi phí mà các cá nhân và xã hội phải chi trả.Không phải trong mọi trường hợp vốn xã hội luôn ưu việt hơn các thể chế chính thức. Khi mà tiến bộ công nghệ có thể giúp giảm chi phí thiết lập, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thể chế chính thức.Sự phát triển kinh tế thường đi song song với sự cải thiện đời sống về mặt vật chất. Nhưng một vùng đất nào đó rất giàu có về vật chất thuần túy mà thiếu vắng vốn xã hội. Các nhà nghiên cứu về nguồn vốn xã hội trong tương quan kinh tế đều đồng ý với nhau rằng:Một nền kinh tế lành mạnh trong một đất nước có kỷ cương và văn hiến không thể nào thiếu vắng nguồn vốn xã hội. Kẻ thù dai dẳng nhất của quá trình tích lũy, phát triển nguồn vốn xã hội là tham nhũng. Bởi vậy, vốn xã hội và tham nhũng có mối quan hệ nghịch chiều với nhau. Nạn tham nhũng càng bành trướng, vốn xã hội càng co lại. Khi tham nhũng trở thành “đạo hành xử” hàng ngày thì cũng là lúc vốn xã hội đang trên đà phá sản.Nếu chỉ có ánh sáng mới có khả năng quét sạch hay đuổi dần bóng tối. Tương tự như thế, vốn xã hội được tích lũy càng cao, nạn tham nhũng càng có hy vọng bị đẩy lùi dần vào quá khứ.Giống và khác giữa XHH và PPPMột số điểm tương đồng Chủ trương thu hútXuất phát từ việc nguồn vốn nhà nước hạn hẹp, không bảo đảm các công trình, dịch vụ cơ bản.Về lĩnh vực:XHH bắt nguồn từ lĩnh vực y tế. Đến nay đã điều chỉnh cả lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề, thể dục thể thao, văn hoá, môi trường.Một số mô hình PPP xuất phát từ lĩnh vực kết cấu hạ tầng như nhà máy điện, cấp nước. Đến nay đã bao gồm lĩnh vực như y tế, giáo dục, thể thao, văn hoá… theo thông lệ quốc tế.Về chủ thểBên cạnh các cơ sở ngoài công lập, chủ trương XHH còn điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ sở sự nghiệp công lập với đối tác liên doanh, liên kết.Hình thức đầu tư PPP cũng có chủ thể là khu vực công và khu vực tư, thực hiện hợp đồng đối tác trong thời gian dài.       Sự tương đồng giữa 2 hình thức dẫn đến sự lúng túng khi lựa chọn giữa đầu tư XHH và đầu tư PPP.Một số điểm khác biệtnguồn vốn đầu tư công chưa xử lý quan ngại về rủi ro có thể xảy ra trong triển khai dự án. Đầu tư PPP có cơ sở là hợp đồng, xác định rõ cơ chế xử lý và giảm thiểu rủi ro. Nhưng thiếu nguồn lực nhà nước tham gia nên chưa hấp dẫn nhà đầu tư.Về mức độ cam kết, chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và nhà đầu tư:Chính sách XHH chỉ đề cập về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư. Không quy định một cách chính thức về việc chia sẻ trách nhiệm với nhà đầu tư.PPP yêu cầu sự cam kết của Nhà nước ở mức độ cao hơn. Ngoài các ưu đãi, hỗ trợ, cơ chế bảo đảm đầu tư cũng được quy định trong hợp đồng để giảm thiểu rủi ro trong quá trình đầu tư.Về minh bạch hoá:Hoạt động liên doanh liên kết, các dự án, đề án liên doanh, liên kết được minh bạch hoá theo quy chế nội bộ, chưa thực sự hướng tới sự giám sát rộng rãi và độc lập.Điều này xuất phát từ thực trạng chung là thiếu cơ chế khuyến khích sự tham gia giám sát, đánh giá của các đơn vị độc lập, người sử dụng dịch vụ.Dự án PPP được công khai hoá, minh bạch hoá từ danh mục dự án đến các bước lựa chọn nhà đầu tư tại Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và trang web của các bộ, địa phương.Về quy trình lựa chọn nhà đầu tư, đối tác tư nhân, giữa hai hình thức cũng có những khác biệt nhất định. Trên đây là một số thông tin giải đáp thắc mắc nguồn vốn xã hội hóa là gì. Hãy liên hệ với chúng tôi khi bạn cần hỗ trợ. Bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua hotline 0888889366. Hoặc fanpage Công ty Luật Legalzone.
Bài viết
KHỦNG HOẢNG TRUYỀN THÔNG - ẢNH HƯỞNG – BÀI HỌC XỬ LÝ  KHỦNG HOẢNG Khủng hoảng truyền thông có thể xảy ra với các thương hiệu bất kỳ lúc nào nhất là trong thời đại mạng xã hội đang bùng nổ. Việc kiểm soát khủng hoảng cho các thương hiệu cần có những chiến lược xử lý và phương pháp giải quyết nhanh chóng. Đặc biệt để lấy lại niềm tin của khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải có động thái rõ ràng và tích cực. Bởi vậy, khủng hoảng truyền thông luôn là “bóng đen” đối với các doanh nghiệp. Vậy khủng khoảng truyền thông là gì? Nó được hình thành như thế nào ? Có ảnh hưởng ra sao ?Bài viết dưới đây là một nghiên cứu bao gồm các ví dụ cụ thể, file dowload tình huống tại cuối bài, phân tích và giải pháp chi tiết về Khủng hoảng truyền thôngKhủng hoảng truyền thông là gì?Khủng hoảng truyền thông là cụm từ tiếng Việt được dịch ra từ chữ crisis. Định nghĩa chung, khủng hoảng truyền thông là những sự kiện xảy ra ngoài tầm kiểm soát của công ty khi có thông tin bất lợi về công ty hay sản phẩm. Sự bất lợi này đe dọa đến việc tiêu thụ sản phẩm hoặc làm giảm uy tín của công ty.Theo định nghĩa giáo khoa, “khủng hoảng truyền thông là bất kỳ một sự kiện ngoài ý muốn nào mang mối đe dọa nghiêm trọng đến uy tín của công ty hoặc niềm tin của các bên liên quan. Sự kiện có thể là một hành động vi phạm lòng tin, một sự thay đổi trong môi trường cạnh tranh, cáo buộc bởi các nhân viên hoặc những người khác, một nghị định đột ngột của chính phủ, lỗ hổng trong sản phẩm, hoặc bất kỳ tác động tiêu cực nào khác” hay nói một cách đơn giản, “khủng hoảng là bất kỳ một sự kiện nào có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của công ty đối với công chúng của nó”.Ba yếu tố chung cho một cuộc khủng hoảng: Mối đe dọa đối với tổ chứcYếu tố bất ngờThời gian quyết định ngắnVenette  lập luận rằng “khủng hoảng là một quá trình biến đổi trong đó hệ thống cũ không còn có thể được duy trì”. Do đó, yếu tố thứ tư của khủng hoảng là sự cần thiết phải thay đổi. Nếu không cần thay đổi, sự kiện có thể được mô tả chính xác hơn là sự cố hoặc sự cố.Các loại khủng hoảng truyền thôngBất kỳ một sự việc nào cũng có mối quan hệ biện chứng giữa “nguyên nhân – kết quả”. Đúng vậy, các cuộc khủng hoảng truyền thông không tự nhiên sinh ra mà nó có thể xuất phát từ các xung đột chính, cơ bản như:Xung đột lợi ích: Một nhóm các cá nhân hoặc nhóm có mâu thuẫn với các tập đoàn về những lợi ích nhất định từ đó dẫn đến các hoạt động chống phá để mang lợi ích về phe mình. Các hoạt động chủ yếu của xung đột này là tẩy chay. Xung đột này, trên thị trường khốc liệt hiện nay thì thường xuyên xảy ra.Cạnh tranh không công bằng: Công ty hoặc tổ chức đối thủ có các động thái vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nhằm chống phá, bôi nhọ, hạ nhục danh tiếng của công ty kia. Tuy các hoạt động này đã được giới hạn nhưng vẫn còn đó mà cụ thể là hành động bắt nạt trên mạng.“Một con sâu làm rầu nồi canh”: Một cá nhân đại diện trong công ty, tổ chức có hành vi phạm tội, gây rúng động trong cộng đồng, khiến cộng đồng mất niềm tin và quay lưng với tổ chức. Trường hợp này cũng rất hay xảy ra ví dụ như vụ việc của Agribank.Khủng hoảng liên đới: Đối tác của công ty mình bị vướng vào vòng lao lý, từ đấy có một số tin đồn thất thiệt trên mạng xã hội nhắm vào làm bôi nhọ danh tiếng công ty khi đánh đồng công ty với những việc làm sai trái của đối tác.Khủng hoảng tự sinh: Các hoạt động truyền thông, sản phẩm hay dịch vụ vô tình có những lỗi hoặc phốt dẫn đến sự bất bình và lan truyền rộng rãi. Đây là lý do thường xuyên và phổ biến trong các doanh nghiệp. Ví dụ: vụ chai nước có ruồi của công ty Tân Hiệp Phát.Khủng hoảng chồng khủng hoảng: Là khi công ty, tổ chức xử lý truyền thông không khéo, không có thái độ thành khẩn sửa chữa lỗi lầm dẫn đến sự phẫn nộ sâu sắc hơn từ cộng đồng. Khủng hoảng này thường xảy ra khi công ty không có một chiến lược giải quyết khủng hoảng quy củ, cẩn thận.Và kết quả của những loại xung đột cộng thêm nhiều gia vị của truyền thông đã tạo nên những cuộc khủng hoảng truyền thông. Khủng hoảng truyền thông vừa là cơ hội, cũng vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp. Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng, tính chất của cuộc khủng hoảng, có thể chia thành các loại khủng hoảng truyền thông như sau:Khủng hoảng âm ỉLà những khủng hoảng hay vấn đề một nhóm người đã có với công ty, tổ chức nhưng những vấn đề này quá nhỏ hoặc nó chưa đủ sức lan truyền rộng ra cộng đồng. Nhưng càng về lâu về dài, những vấn đề lớn dần và phát sinh khủng hoảng rộng lớn. Khi khủng hoảng phát sinh, doanh nghiệp rất khó giải quyết vì sự chậm trễ trong thay đổi không mang lại giá trị tích cực đến khách hàng. Khi phát sinh các nguy cơ âm ỉ, doanh nghiệp nên có sự đánh giá suy xét từ đó chặn đứng các nguy cơ có thể có.Khủng hoảng bất chợtLà những khủng hoảng bất chợt xuất hiện mà không có cảnh báo hay dự đoán như một chai nước bị kém chất lượng hay nhân viên phạm tội, những khủng hoảng này lỗi không hoàn toàn do công ty và cách giải quyết nên là thành thật xin lỗi, giải quyết hậu quả bằng tất cả khả năng.Khủng hoảng đa kênhKhủng hoảng đa kênh (Omni-channel) chứa nhiều khả năng gây hại nhất vì nó thu hút sự chú ý của nhiều kênh truyền thông. Nếu một thương hiệu đang đối phó với một tình huống cực đoan, chẳng hạn như cáo buộc quấy rối nơi làm việc, thu hồi sản phẩm hoặc các hành vi không phù hợp tại công ty, thì nó có thể phải đón nhận phản hồi tiêu cực trên phương tiện truyền thông xã hội và trên các phương tiện truyền thông truyền thống.Chuẩn bị đối phó bằng cách có một kế hoạch quản lý khủng hoảng mạnh mẽ thường xuyên được áp dụng và cập nhật. Trong những tình huống như thế này, một phản ứng nhanh chóng và xác thực có thể tạo ra sự khác biệt lớn. Đảm bảo rằng tất cả các tin nhắn được đăng không chỉ trên trang web của công ty mà còn trên bất kỳ kênh xã hội nào đang nhận được phản hồi tiêu cực. Và mặc dù tính nhất quán trong thông điệp của công ty là chìa khóa, từ ngữ nên được chau chuốt để thể hiện thái độ chân thành.Với các mức độ, phương thức khủng hoảng khác nhau như vậy, thì liệu khủng hoảng truyền thông  tất cả đều là xấu, hay nó chính là một bàn đạp thể hiện sự đẳng cấp, khốn khéo của con người và là cơ hội cho các doanh nghiệp chuyển mình, vươn lên?Ảnh hưởng của khủng hoảng truyền thôngNền kinh tế phát triển càng năng động, quyền con người được đề cao, sức mạnh truyền thông ngày càng lớn, tất cả đều có 2 mặt: tích cực và tiêu cực.  Khủng hoảng truyền thông là bất kì một chuyện xấu gì xảy đến với doanh nghiệp hoặc tổ chức được lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội truyền thông, làm ảnh hưởng đến danh tiếng từ đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động, kinh doanh của các đối tượng bị khủng hoảng tác động đến.Khủng hoảng truyền thông thường kéo theo các cảm xúc tiêu cực không cần thiết mà hệ quả mang lại rất nặng nề:Làm lu mờ phán đoán chính xác.Tổn hại đến các đối tác của tổ chức bị khủng hoảng.Có tính lan truyền cao.Tính chính trực và danh tiếng của công ty cũng sẽ bị ảnh hưởng rõ nét phụ thuộc vào hành động của họ. Việc giải quyết kịp thời các khủng hoảng truyền thông là một bài toán khó của mọi ban ngành tổ chức. Khi gặp phải khủng hoảng, các cấp lãnh đạo, phòng ban nên có sự đối thoại nhanh chóng, rõ ràng để từ đó có thể giải quyết hiệu quả khủng hoảng, đặc biệt là khủng hoảng truyền thông xã hội. Các ngành nghề dễ bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng có thể kể đến thương mại điện tử, mạng xã hội, ngành thời trang,..Ví dụ, Những năm vừa qua, đã không ít các thương hiệu thiết sót trong việc xử lý khủng hoảng truyền thông. Như sự việc đáng tiếc của hãng Boeing để xảy ra hai vụ tai nạn nghiêm trọng đối với máy bay 737 Max 8 mới của mình, hãng phải chấp nhận mất doanh thu và thu nhập trên mỗi cổ phần đã giảm hơn 40% so với năm 2018. Hay trường hợp của Taco Bell xử trí khi nhân viên làm ảnh hưởng xấu đến thương hiệu trên Facebook…Khủng hoảng truyền thông là điều mà mọi doanh nghiệp đều không muốn xảy ra. Trong việc xử lý khủng hoảng, sẽ không có một quy trình chuẩn nào cả. Vì trong quá trình diễn ra khủng hoảng, sự việc biến đổi không ngừng. Nên cái doanh nghiệp cần chính là sự chuẩn bị. Và áp dụng linh hoạt các nguyên tắc xử lý khủng hoảng truyền thông. Sao cho phù hợp với từng tình huống, diễn biến tình hình bấy giờ.Tuy nhiên, cũng không thể nói hoàn toàn, khủng hoảng truyền thông đều có tác động xấu. Bởi lẽ, khủng hoảng cũng có thể là chất xúc tác có tác dụng kích thích tính năng động sáng tạo, huy động tối đa tiềm lực trí tuệ của con người, cộng đồng và xã hội. Chỉ cần, kịp thời đưa ra nhưng giải pháp, chiến lược phù hợp để xử lý thì tất cả có thể biến thành cơ hội hành động kêu gọi một cách thông minh, thì đương nhiên sẽ biến “nguy thành an” biến “ khó khăn thành cơ hội”. Điển hình như: KFC Xử lý khủng hoảng truyền thông tốt có thể giúp bạn biến bê bối thành một chiến lược độc đáo và thu về những phản hồi tích cực.Như vậy, thực tế đã chứng minh, có nhiều doanh nghiệp đã thật sự thất bại, điêu đứng trên bờ vực phá sản,…vì khủng khoảng truyền thông, nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp trở mình trên đường đua một cách ngoại mục.Các giải pháp xử lý khủng hoảng truyền thông THƯỜNG THẤYNhanh chóng đánh giá vấn đề gây khủng hoảngĐiều đầu tiên khi có những dấu hiệu khủng hoảng truyền thông là lập tức chúng ta phải tiếp cận và đánh giá vấn đề trong thời gian ngắn nhất. Trong đó, đặt ra các câu hỏi là một cách hiệu quả để nhìn nhận vấn đề một cách trực quan nhất.Vấn đề này có ảnh hưởng đến uy tín và danh tiếng của tổ chức, doanh nghiệp? Nó có ảnh hưởng đến bộ máy cấp cao hay không? Mức độ nghiêm trọng của vấn đề truyền thông nằm mà doanh nghiệp bạn đang gặp phải nằm ở khoảng nào ?Phản hồi với các đối tác, khách hàngThực tế, tốc độ phản hồi khách thực sự rất quan trọng khi khủng hoảng truyền thông xảy ra. Sự im lặng và thụ động sẽ biến mọi tình huống trở nên tệ hại hơn và nhận được nhiều sự giận dữ hơn.Hãy luôn trong tư thế sẵn sàng nhận các phàn nàn từ phía các đối tác, khách hàng và phản hồi ngay lập tức. Nếu bạn chưa thể có câu trả lời ngay, hãy ước tính một khoảng thời gian về phía khách hàng để họ cảm nhận rằng chúng ta thực sự quan tâm đến vấn đề họ đang mắc phải.Có thái độ tích cực và trung thựcChúng ta không nên che giấu và không rõ ràng với truyền thông, mạng xã hội khi có khủng hoảng truyền thông xảy ra.Lên tiếng trên mạng xã hội, đưa ra thông cáo, lời xin lỗi trình bày rõ ràng vấn đề chúng ta đang mắc phải và đưa ra phương hướng giải quyết chính là phương pháp để trấn an khách hàng, đối tác đồng thời nhận được sự thông cảm của dư luận.Như CMO Will McInnes của Brandwatch từng nói: “Chiến dịch có thể sẽ sai. Các thông điệp được kiểm tra trong nhóm sẽ không hiệu quả.Nhân viên sẽ không hành động đúng. Nhưng người tiêu dùng sẽ chấp nhận lỗi lầm khi nhận được những phản hồi phù hợp.”Xây dựng quy trình bài bản đề phòng khủng hoảng truyền thôngNgười ta vẫn thường nói: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh.” Cách tốt nhất để xử lý khủng hoảng truyền thông là tiêu diệt triệt để những lối mòn có thể dẫn đến khủng hoảng truyền thông trước khi nó xảy ra. Có những cách để ngăn chặn khủng hoảng truyền thông như:Xây dựng một đội ngũ thiết kế và quản lý web chuyên nghiệp để đăng tải và cập nhập thông tin kịp thờiKiểm soát chặt chẽ những thông tin phát tán trên mạng xã hội.Cẩn thận kiểm tra tất cả những sản phẩm truyền thông (viral videos, photos…) trước khi tạo chiến dịch truyền thông.Không nên quảng cáo quá xa vời thực tế, lố lăng về chất lượng doanh nghiệp.Có rất nhiều phương pháp xử lý khủng hoảng truyền thông, sự lựa chọn phương pháp giải quyết phù hợp là rất quan trọng nó quyết định đến sự thành bại.VÍ DỤ Khủng hoảng truyền thông của United Airlines: Bài học về quản lý khủng hoảng và giữ uy tín"Mở đầu: Trong lịch sử của ngành hàng không, khủng hoảng truyền thông của United Airlines vào năm 2017 là một ví dụ điển hình về cách một sự cố có thể gây tổn hại lớn đến hình ảnh của một công ty. Bài viết này sẽ phân tích nguyên nhân, quá trình và kết quả của sự cố này, cũng như bài học quan trọng về quản lý khủng hoảng truyền thông.Nguyên nhân: Sự cố bắt đầu khi một video ghi lại cảnh một hành khách bị kéo ra khỏi máy bay của United Airlines trở nên viral trên mạng xã hội. Hành khách này đã mua vé và ngồi xuống ghế của mình, nhưng sau đó đã bị yêu cầu rời khỏi máy bay do quá tải. Khi người đàn ông này từ chối, anh ta đã bị lực lượng an ninh kéo ra khỏi máy bay một cách bạo lực.Quá trình: Sau khi video này trở nên phổ biến trên mạng xã hội, United Airlines đã phải đối mặt với sự chỉ trích gay gắt từ cộng đồng trực tuyến và truyền thông. Ban đầu, CEO của United Airlines đã phát hành một tuyên bố bào chữa cho hành động của nhân viên an ninh và không xin lỗi trực tiếp đến hành khách bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, sau khi gặp phản ứng tiêu cực từ cộng đồng, CEO đã phát hành một tuyên bố xin lỗi và hứa sẽ không bao giờ để sự cố tương tự xảy ra lại.Kết quả: United Airlines đã phải trả giá đắt cho khủng hoảng truyền thông này. Giá cổ phiếu của hãng đã giảm sút, và hãng đã mất đi sự tin tưởng của khách hàng. Tuy nhiên, sau khi xin lỗi và thực hiện các biện pháp cải thiện, hãng đã dần khôi phục lại uy tín của mình.Bài học: Khủng hoảng truyền thông này cho thấy sự quan trọng của việc xử lý tình huống một cách nhân văn và tôn trọng quyền lợi của khách hàng. Ngoài ra, việc phản hồi nhanh chóng và chân thành cũng rất quan trọng trong việc giảm thiểu thiệt hại cho hình ảnh của doanh nghiệp. Cuối cùng, việc xây dựng một kế hoạch truyền thông khẩn cấp và đào tạo nhân viên về cách xử lý khủng hoảng truyền thông cũng rất quan trọng.Kỹ năng quan trọng trong việc xử lý khủng hoảng truyền thông: Bí quyết giữ vững uy tín doanh nghiệp - GIẢI PHÁP TƯ VẤN THỰC TẾ chỉ có tại TTPL.VNKhủng hoảng truyền thông có thể xảy ra bất ngờ và gây ra những thiệt hại lớn đối với hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp. Để đối phó hiệu quả với những tình huống khó khăn này, doanh nghiệp cần có các chiến lược xử lý khủng hoảng truyền thông hiệu quả. Dưới đây là bốn chiến lược quan trọng mà mọi doanh nghiệp nên áp dụng.Xây dựng chiến lược CHI TIẾT xử lý khủng hoảng: Để đối phó với khủng hoảng truyền thông, doanh nghiệp cần có một chiến lược xử lý khủng hoảng rõ ràng. Việc này cần sự giúp sức của nhiều hệ thống, xây dựng chi tiết chiến lược là không thể thiếu.Điều này bao gồm việc xác định trước các bước cần thực hiện, lựa chọn kênh truyền thông và xác định thông điệp cần truyền đạt.Xây dựng kế hoạch seeding mạng xã hội: Seeding là việc sử dụng các tài khoản mạng xã hội để truyền đạt thông điệp của doanh nghiệp đến cộng đồng trực tuyến. Doanh nghiệp cần xây dựng một kế hoạch seeding hiệu quả để đảm bảo thông điệp của mình được truyền đạt đến đối tượng mục tiêu một cách hiệu quả.Xây dựng hệ thống báo chí và trang mạng cùng ngành: Doanh nghiệp cần xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với báo chí và trang mạng cùng ngành. Điều này giúp doanh nghiệp có thể truyền đạt thông điệp của mình đến cộng đồng một cách nhanh chóng và hiệu quả.Xây dựng một kế hoạch truyền thông khẩn cấp: Một kế hoạch truyền thông khẩn cấp giúp doanh nghiệp xác định trước các bước cần thực hiện khi xảy ra khủng hoảng. Kế hoạch này nên bao gồm việc xác định người phát ngôn, lựa chọn kênh truyền thông, và xác định thông điệp cần truyền đạt. Điều này giúp doanh nghiệp phản hồi nhanh chóng và kiểm soát tình hình.Tạo ra một đội ngũ quản lý khủng hoảng truyền thông: Đội ngũ này nên bao gồm các chuyên gia truyền thông, quan hệ công chúng và quản lý khủng hoảng. Họ sẽ chịu trách nhiệm giám sát tình hình, đưa ra quyết định và thực hiện các chiến lược xử lý khủng hoảng truyền thông.Sử dụng các kênh truyền thông khác nhau để truyền đạt thông điệp của bạn: Trong thời đại số hóa, việc sử dụng đa kênh truyền thông là cần thiết. Doanh nghiệp nên sử dụng cả truyền thông truyền thống và truyền thông số để truyền đạt thông điệp của mình. Điều này giúp doanh nghiệp tiếp cận được nhiều đối tượng khác nhau và truyền đạt thông điệp một cách hiệu quả.Theo dõi và đánh giá hiệu quả của các chiến lược xử lý khủng hoảng truyền thông: Sau khi áp dụng các chiến lược, doanh nghiệp nên theo dõi và đánh giá hiệu quả của chúng. Điều này giúp doanh nghiệp biết được những gì đã làm đúng và những gì cần cải thiện trong tương lai.Kết luận: Khủng hoảng truyền thông là một thách thức lớn đối với mọi doanh nghiệp. Tuy nhiên, với các chiến lược xử lý khủng hoảng truyền thông hiệu quả, doanh nghiệp có thể giữ vững uy tín và tiếp tục phát triển mạnh mẽ.CẦN HƯỚNG DẪN CHI TIẾT XỬ LÝ, HÃY ẤN VÀO BÌNH LUẬN BÀI VIẾT NHÉTài liệu về khủng hoảng truyền thôngDưới đây là một số tài liệu cần biết về khủng hỏang truyền thông của các thương hiệu lớn và phương thức xử lý, bài học rút ra rất hữu ích: Ngày thứ 2 đen tối và cơn ác mộng của người làm truyền thông: Tải về05 ví dụ về khủng hoảng truyền thông và bài học rút ra: Tải về10 bài học điển hình về xử lý khủng hoảng truyền thông: Tải vềCơ chế lan truyền của khủng hoảng truyền thông: Tải vềDomino-s Pizza- Dội nước dập tắt khủng hoảng truyền thông, thay vì im lặng chờ chết: Tải vềKhi nhân viên làm xấu hình ảnh thương hiệu trên facebook đừng xử trí như Taco Bell: Tải vềNestle và Bài học xử lý khủng hoảng trên mạng xã hội: Tải vềSocial Listening- khủng hoảng truyền thông của Agribank ảnh hưởng như thế nào ? Tải vềSocial Listening- Vì đâu BaBy Care gặp phải khủng hoảng truyền thông: Tải về Tổng hợp các cuộc khủng hoảng truyền thông:Trên đây là các thông tin tư vấn của Legalzone về phương án quản lý doanh nghiệp hiệu quả. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và sử dụng dịch vụ.
Bài viết
Việt Nam đang là môi trường sống và làm việc được phần lớn người nước ngoài lựa chọn, dù gắn bó lâu dài hay có thời hạn thì việc quản lý người nước ngoài nói chung, quản lý nhà nước về cư trú đối với người nước ngoài nói riêng là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Một trong các hình thức quản lý về cư trú được áp dụng đó là việc cấp thẻ tạm trú cho người nước ngoài, áp dụng trong một số trường hợp nhất định và với các điều kiện cụ thể.Thẻ tạm trú cho người nước ngoài là gì?Thẻ tạm trú là một trong những vấn đề trọng tâm khi nhắc đến quản lý nhà nước về cư trú đối với người nước ngoài. Thẻ tạm trú, thẻ thường trú là những giấy tờ quan trọng và cần thiết cho phép người nước ngoài cư trú tại Việt Nam. Theo giải thích tại Khoản 13, Điều 3 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam: “Thẻ tạm trú là loại giấy tờ do cơ quan quản lý xuất nhập cảnh hoặc cơ quan có thẩm quyền của Bộ Ngoại giao cấp cho người nước ngoài được phép cư trú có thời hạn tại Việt Nam và có giá trị thay thị thực.“Dựa vào khái niệm này, có thể đưa ra các đặc điểm của thẻ tạm trú:– Một là, thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền cấp. Cụ thể là cơ quan quản lý xuất nhập cảnh –  là cơ quan chuyên trách thuộc Bộ Công an làm nhiệm vụ quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. (Khoản 15, Điều 3, Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam)- Cục quản lý xuất nhập cảnh. Hoặc cơ quan có thẩm quyền của Bộ ngoại giao, ví dụ: Cục Lãnh sự hoặc Sở Ngoại vụ thành phố Hồ Chí Minh.– Hai là, thẻ tạm trú được cấp cho người nước ngoài. Đây là những cá nhân không có quốc tịch Việt Nam.– Ba là, thẻ tạm trú cho phép người nước ngoài được cư trú có thời hạn. Việc xác định thời hạn tùy theo từng loại thẻ tạm trú, thường từ 02 năm đến 05 năm.– Bốn là, thẻ tạm trú có giá trị thay thị thực. Theo giải thích tại Khoản 11 Điều 3 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam: “Thị thực là loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, cho phép người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam.” Việc ghi nhận thẻ tạm trú có giá trị thay thị thực cũng hoàn toàn hợp lý bởi bản chất của thẻ tạm trú bao hàm thị thực.Các trường hợp được cấp thẻ tạm trú và ký hiệu thẻ tạm trú:Theo quy định tại Khoản 14 Điều 1 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi 2019, có 02 trường hợp được cấp thẻ tạm trú (gắn với ký hiệu thẻ tạm trú):Trường hợp 1 (bắt buộc): Người nước ngoài là thành viên cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc, tổ chức liên chính phủ tại Việt Nam và vợ, chồng, con dưới 18 tuổi, người giúp việc cùng đi theo nhiệm kỳ.Người nước ngoài là thành viên cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự bao gồm người đứng đầu cơ quan đại diện, viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự và nhân viên cơ quan đại diện. Việc cấp thẻ tạm trú đối với các đối tượng này cũng được xem là một trong các nội dung về ưu đãi ngoại giao trong theo xu hướng của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Các thành viên của cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc, tổ chức liên chính phủ thường đến Việt Nam với vai trò quan trọng, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của họ có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển của quốc gia, hỗ trợ các quốc gia trong một số chiến dịch, do đó, việc cấp thẻ tạm trú cũng là điều dể hiểu để họ có khả năng chủ động thực hiện trách nhiệm của mình. Đối vợ, chồng, con dưới 18 tuổi và người giúp việc cũng được cấp là sự “đi theo” chính sách cấp thẻ tạm trú đối với các đối tượng đặc biệt.Việc cấp thẻ thị thực trong trường hợp này khá đơn giản và việc quản lý cũng hiệu quả bởi hoạt động của người nước ngoài là thành viên cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế thuộc Liên hợp quốc, tổ chức liên chính phủ tại Việt Nam thường có nhiệm kỳ cụ thể, thẻ tạm trú có thời hạn cũng sẽ gắn với thời hạn nhiệm kỳ này.Thẻ tạm trú áp dụng đối với trường hợp này có ký hiệu là NG3.Trường hợp 2 (xét cấp): Người nước ngoài nhập cảnh bằng thị thực có ký hiệu LV1, LV2, LS, ĐT1, ĐT2, ĐT3, NN1, NN2, DH, PV1, LĐ1, LĐ2, TT.Đây là trường hợp loại trừ trường hợp 1, việc xác định người nhập cảnh bằng thị thực có các ký hiệu trên được quy định tại Điều 8 Luật Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014 và Điểm c, đ, g, i Khoản 3 Điều 1 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam sửa đổi 2019. Việc cấp thẻ tạm trú trong trường hợp này không phát sinh đương nhiên mà dựa trên đề nghị và các điều kiện khác áp dụng đồng thời để được cấp thẻ tạm trú.Ký hiệu thẻ tạm trú trong trường hợp này được áp dụng tương tự như ký hiệu thị thực: LV1, LV2, LS, ĐT1, ĐT2, ĐT3, NN1, NN2, DH, PV1, LĐ1, LĐ2, TT.
Bài viết
Sự mất giáSự mất giá (DEVALUATION) là gì?Sự mất giá (DEVALUATION) là điều chỉnh giảm giá được cơ quan tiền tệ thực hiện đối với tỷ giá hối đoái chính thức của đồng tiền của quốc gia; so với đồng tiền mạnh; như đồng đôla Mỹ hoặc chuẩn tiền tệ được thiết lập như vàng. Sự mất giá xảy ra khi chính phủ tăng lượng nội tệ sẵn sàng trao đổi theo các đồng tiền khác theo tỷ giá hối đoái hiện thời. Đối chiếu với DEPRECIATION.Phá giá tiền tệ (Currency Devaluation)Phá giá tiền tệ trong tiếng Anh là Currency Devaluation. Phá giá tiền tệ là biện pháp chủ động làm giảm giá trị đồng nội tệ so với ngoại tệ; nghĩa là làm cho tỉ giá hối đoái danh nghĩa tăng lên.Ban đầu; giá trị đồng tiền của hầu hết các quốc gia được gắn với vàng (tiêu chuẩn vàng); nhưng trong nửa sau của thế kỷ 20; mọi thứ thay đổi dưới tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô khác nhau. Bây giờ tỷ giá hối đoái của các loại tiền tệ quốc gia đang ngày càng gắn liền với đồng đô la Mỹ hoặc đồng euro; mà nhiều quốc gia dự trữ. Sự phá giá của đồng tiền nhà nước so với tỷ giá hối đoái trong dự trữ; nghĩa là các loại tiền tệ nhất; được gọi là mất giá.Chính phủ đang áp dụng các kỹ thuật phá giá để bằng cách nào đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Ví dụ; điều này ảnh hưởng trực tiếp đến giá dầu. Hoặc; nếu sự phá giá đi kèm với sự hỗ trợ của nhà nước cho các nhà sản xuất trong nước; thì sự tăng trưởng trong mua hàng hóa trong nước là không thể tránh khỏi.Điều quan trọng cần lưu ý là mất giá không có nghĩa là một cuộc khủng hoảng. Quá trình này thường được thực hiện bởi các quốc gia khác nhau để điều chỉnh hướng kinh tế hiện tại.Mục đích- Kích thích hoạt động xuất khẩu cùng các hoạt động kinh tế; dịch vụ đối ngoại khác có thu ngoại tệ; đồng thời hạn chế nhập khẩu và các hoạt động đối ngoại khác phải chi ngoại tệ; kết quả là sẽ góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế; từ đò làm cho tỉ giá hối đoái danh nghĩa tăng lên.- Khuyến khích nhập khẩu vốn; kích thích các dòng ngoại tệ kiều hối; đồng thời hạn chế các dòng vốn chạy ra nước ngoài (xuất khẩu vốn) nhằm mục đích tăng cung ngoại tệ làm cho tỉ giá hối đoái danh nghĩa tăng lên.Tác động của chính sách phá giá tiền tệSự mất giáTác động của chính sách phá giá tiền tệ có thể theo hai hướng sau:Thứ nhất; vì muốn phá giá tiền tệ; ngân hàng trung ương phải bỏ nội tệ ra mua ngoại tệ. Thực chất thì đây chính là phát hành thêm tiền vào nền kinh tế; tức là làm tăng lượng tiền mạnh. Cung tiền được tăng theo cấp số nhân.Thứ hai; khi phá giá tiền tệ; nếu các yếu tố khác không đổi thì sức cạnh tranh của hàng trong nước tăng lên. Xuất khẩu tăng trong khi đó nhập khẩu giảm; do đó xuất khẩu ròng tăng; dẫn đến tăng tổng cầu; có sự dịch chuyển trên đường IS*; tăng sản lượng; thu nhập và công ăn việc làm.Tóm lại; trên mô hình IS* - LM*; phá giá tiền tệ làm lượng cung tiền tăng nên đường LM* dịch chuyển sang phải. Do xuất khẩu ròng tăng làm gia tăng tổng cầu nên đường IS* dịch chuyển sang phải. Kết quả là sản lượng cân bằng mới tăng.Xem thêm: Cho vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nướcLiên hệ thực tiễnPhá giá nội tệ làm thay đổi tỉ giá hối đoái; có tác động thúc đẩy xuất khẩu tất cả các mặt hàng trên tất cả các thị trường; bởi vì nhà xuất khẩu có thể hạ giá bán trên thị trường quốc tế mà vẫn đảm bảo mức lợi nhuận bằng nội tệ.Tuy nhiên; biện pháp này không thể sử dụng được thường xuyên và phải nghiên cứu kĩ trước khi áp dụng; vì nó sẽ tác động đến nhiều vấn đề khác của đời sống kinh tế xã hội.Các Chính phủ chỉ sử dụng biện pháp này khi cần cân đối lại tỉ giá hối đoái trong mối quan hệ với cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế.Sự khác biệt từ lạm phátSự mất giáMặc dù thực tế là lạm phát và phá giá thường được đánh đồng và thực tế là chúng có mối liên hệ với nhau là khác nhau.Trong thời gian phá giá; đồng tiền quốc gia mất giá liên quan đến ngoại tệ. Với lạm phát; sức mua của tiền tệ trong nước giảm.Đó là; trong khi phá giá; người ta có thể quan sát thấy sự gia tăng của tỷ giá hối đoái tại các điểm trao đổi; và với lạm phát; sự tăng giá của hàng hóa trong các cửa hàng.Ngoài ra còn có một vòng xoáy phá giá-lạm phát. Đây là một quá trình là một trong những hậu quả của mất giá. Nó xảy ra; ví dụ; nếu ở một quốc gia phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu; giá của nó tăng mạnh. Chính phủ đang cố gắng kiềm chế những thay đổi trong nền kinh tế thông qua phá giá; nhưng có một cuộc khủng hoảng gây ra lạm phát và phá giá mới - tiếp theo.Các loại phá giáPhá giá thường được chia thành nhiều loại chính:Chính thứcNó đi kèm với sự công nhận chính thức của ngân hàng trung ương của đất nước về sự mất giá của đồng tiền quốc gia. Quá trình đột ngột; tỷ giá mới đang được thiết lập tại các điểm trao đổi.ẨnKhấu hao tiền mặt không lưu hành trong một thời gian dài. Quá trình này thường vô hình với công chúng. Không có tuyên bố chính thức được thực hiện. Quá trình này có thể gây ra lạm phát; nhưng nó cũng cho phép các nhà sản xuất hàng hóa trong nước điều chỉnh theo sự thay đổi của giá và bắt đầu cạnh tranh với các nhà sản xuất nước ngoài.Xem thêm: ĐĂNG KÝ CHÀO BÁN TRÁI PHIẾU RA CÔNG CHÚNG BẰNG ĐỒNG VIỆT NAM CỦA TỔ CHỨC TÀI CHÍNH QUỐC TẾKiểm soátNgân hàng trung ương thực hiện các biện pháp để hạn chế sự mất giá của đồng tiền quốc gia trong một khoảng thời gian giới hạn.Không kiểm soátLà loại phá giá phổ biến nhất. Sự mất giá của đồng tiền quốc gia không bị hạn chế bởi bất cứ điều gì và các biện pháp để giảm thiểu thiệt hại từ việc này không có hiệu lực.Nguyên nhân và hậu quảSự mất giáCó nhiều lý do cho sự phá giá. Có nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô là nguồn ảnh hưởng chính trong giai đoạn đầu của quá trình mất giá của đồng tiền quốc gia; do đó việc phân loại các lý do là tương đối có điều kiện. Tuy nhiên; có một số lý do không thể bỏ qua:Thâm hụt thanh toán - thiếu tiền từ nhà nước để trả nợ nước ngoài.Lạm phát cao - nhà nước không có khả năng đối phó với giá cả tăng cao đối với hàng hóa trong nước.Sự kích thích có chủ ý của nhà nước đối với lĩnh vực xuất khẩu của đất nước.Giá thấp hơn cho các tài sản tự nhiên là hàng nhập khẩu; chẳng hạn như dầu.Thiếu dự trữ ngoại hối.Sự cần thiết phải tăng cạnh tranh của đồng tiền quốc gia liên quan đến nhập khẩu.Tình hình không ổn định trong nước và do đó; dòng vốn chảy ra từ đó.Thay đổi chính sách đối ngoại; bao gồm cả các biện pháp trừng phạt từ các quốc gia khác.Sự tham gia tích cực của ngoại tệ vào nền kinh tế của đất nước.Giảm cho vay đối với người dân và mức lương thấp hơn.Mất niềm tin vào chính phủ và tiền tệ quốc gia trong dân chúng.Các yếu tố bên ngoài có tính chất phi kinh tế: chiến tranh; thảm họa nhân tạo; thiên tai.Mong muốn của nhà nước để tăng cường thị trường cho hàng hóa trong nước; bằng cách tăng cường sự hỗ trợ của các nhà sản xuất trong nước.Sự phá giá không nhất thiết là hậu quả của cuộc khủng hoảng; hậu quả của việc thực hiện nó có thể rất khác nhau. Có cả ưu và nhược điểm từ phá giáƯu điểm:Khi giá trị của ngoại tệ tăng lên; doanh thu xuất khẩu cũng tăng. Đi kèm với đó là việc truyền ngoại tệ mới vào nước này.Dự trữ vàng không được chi tiêu; nhưng tích lũy. Với sự mất giá; nhà nước không cần phải chi thêm tiền để ổn định tiền tệ quốc gia.Do giá hàng nhập khẩu tăng không thể tránh khỏi; nhu cầu đối với hàng hóa trong nước tăng lên.Sản xuất riêng đang phát triển.Cán cân thanh toán của đất nước đang được cải thiện.Nhược điểm:Mất lãi suất trong nước từ các nhà đầu tư nước ngoài.Sự tăng trưởng của tỷ giá hối đoái do nhu cầu gia tăng từ dân số.Tăng chi phí cho việc mua nguyên liệu và hàng hóa ngoài nước.Do vòng xoáy lạm phát phá giá; sức mua của người dân và mức sống của họ đang giảm và lạm phát đang gia tăng.Giảm lợi ích xã hội.Niềm tin của người dân đối với đồng tiền quốc gia đang giảm.Gia tăng vốn ra nước ngoài.Sự suy yếu mạnh mẽ của các ngân hàng và dịch vụ tài chính.Giảm nhập khẩu.Không chỉ lợi ích ngân sách của đất nước từ chính quá trình phá giá. Các công ty nông nghiệp; công ty du lịch; công ty xuất khẩu - họ cũng thu lợi từ sự phá giá. Và; tất nhiên; tất cả các công dân của đất nước giữ tiền tiết kiệm bằng ngoại tệ; những người đã chọn đúng thời điểm và trao đổi tiền của họ để kiếm được một khoản lợi nhuận kha khá.Vai trò của phá giá tiền tệ- Chính phủ sử dụng các biện pháp phá giá tiền tệ để nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hóa trên thị trường một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn so với việc thực hiện cơ chế để nền kinh tế tự điều chỉnh theo hướng suy thoái (vì khả năng cạnh tranh kém nên cán cân xuất khẩu ròng đi xuống dẫn đến tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu giảm).Bên cạnh đó; mức lạm phát xuống thấp; kéo dài cho đến khi năng lực cạnh tranh trên thị trường nội địa và xuất khẩu tăng lên. Chính phủ các nước thường sử dụng biện pháp phá giá tiền tệ để tạo nên một cú sốc mạnh và kéo dài đối để cân bằng cán cân thương mại.- Phá giá tiền tệ kích thích hoạt động xuất khẩu cùng các hoạt động kinh tế phát triển; các dịch vụ đối ngoại liên quan khác thu về ngoại tệ; đồng thời hạn chế việc nhập khẩu và các hoạt động đối ngoại khác của trong cơ cấu kinh tế cũng phải chi ngoại tệ; kết quả là sẽ góp phần cải thiện cán cân thanh toán hàng hóa quốc tế; góp phần làm cho tỉ giá hối đoái (các dòng tiền ngoại tệ) danh nghĩa tăng giá trị lên.- Khuyến khích việc nhập khẩu vốn; kích thích các dòng ngoại tệ kiều hối vào Việt Nam; đồng thời hạn chế các vốn đổ ra nước ngoài (xuất khẩu vốn) nhằm mục đích chính là tăng cung ngoại tệ làm cho tỉ giá hối đoái danh nghĩa lại tăng.- Trong trường hợp nhu cầu về nội tệ giảm thì chính phủ sẽ phải dùng đến biện pháp dự trữ để mua nội tệ vào nhằm duy trì tỷ giá hối đoái và đến khi cạn kiệt nguồn dự trữ ngoại tệ thì không còn cách nào khác; chính phủ phải phá giá tiền tệ (giảm giá trị đồng nội tệ).Nếu muốn phá giá tiền tệ; ngân hàng Nhà nước buộc phải bỏ đồng nội tệ ra mua ngoại tệ. Thực chất thì đây chính là phát hành thêm các dòng tiền vào nền kinh tế; tăng lượng tiền mạnh hơn. Cung tiền theo đó được tăng theo cấp số nhân.Trên đây là một số thông tin Legalzone muốn chia sẻ tới bạn đọc về Tìm hiểu về Sự mất giá (Devaluation)Nếu muốn biết thêm thông tin chi tiết và để được hướng dẫn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được kịp thời tư vấn.Xin cảm ơn!
Bài viết
 Nên chọn loại visa như thế nào để đạt được hiệu quả tối đa về chi phí thực hiện, thuận tiện về thủ tục xin và chuyển đổi loại visa khi có nhu cầu, hạn chế về phát sinh rủi ro, thời gian thực hiện nhanh chóng, phù hợp đó là những vấn đề mà các cá nhân tìm kiếm visa các bạn luôn đặt ra.Để giải đáp những phân vân về hồ sơ, quy trình thủ tục xin cấp visa tại Việt Nam cho người nước ngoài. Bằng bài viết dưới đây, Công ty luật Legalzone xin gửi tới quý khách hàng những tư vấn hữu ích nhất dựa trên căn cứ pháp luật hiện hành, cũng như thực tiễn thực hiện thủ tục xin Visa, Giấy phép lao động cho Quý khách hàng 10 năm qua của đội ngũ Luật sư của công ty.Visa (Thị thực) là gì?Theo quy định của Luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014, thị thực là loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp, cho phép người nước ngoài nhập cảnh Việt Nam. Thị thực có giá trị một lần hoặc nhiều lần; tuy nhiên thị thực điện tử chỉ có giá trị một lần.Thị thực khi dịch sang tiếng anh là “visa”. “Visa” là từ được dùng nhiều hơn và được nhiều người biết đến hơn so với thuật ngữ thị thực quy định trong Luật.Hiện nay, thị thực không được chuyển đổi mục đích, trừ các trường hợp sau đây:– Có giấy tờ chứng minh là nhà đầu tư hoặc người đại diện cho tổ chức nước ngoài đầu tư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam;– Có giấy tờ chứng minh quan hệ là cha, mẹ, vợ, chồng, con với cá nhân mời, bảo lãnh;– Được cơ quan, tổ chức mời, bảo lãnh vào làm việc và có giấy phép lao động hoặc xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định của pháp luật về lao động;– Nhập cảnh bằng thị thực điện tử và có giấy phép lao động hoặc xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định của pháp luật về lao động.Các loại VisaTheo Điều 8 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam 2014 (sửa đổi 2019), Việt Nam hiện nay có 27 loại thị thực. Trong đó, các thị thực được người nước ngoài sử dụng một cách thông dụng và rộng rãi hơn, bao gồm:– ĐT1 – Cấp cho nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và người đại diện cho tổ chức nước ngoài đầu tư tại Việt Nam có vốn góp giá trị từ 100 tỷ đồng trở lên hoặc đầu tư vào ngành, nghề ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư do Chính phủ quyết định. (thời hạn không quá 05 năm)– ĐT2 – Cấp cho nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và người đại diện cho tổ chức nước ngoài đầu tư tại Việt Nam có vốn góp giá trị từ 50 tỷ đồng đến dưới 100 tỷ đồng hoặc đầu tư vào ngành, nghề khuyến khích đầu tư phát triển do Chính phủ quyết định. (thời hạn không quá 05 năm)– ĐT3 – Cấp cho nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và người đại diện cho tổ chức nước ngoài đầu tư tại Việt Nam có vốn góp giá trị từ 03 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng. (thời hạn không quá 03 năm)– ĐT4 – Cấp cho nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và người đại diện cho tổ chức nước ngoài đầu tư tại Việt Nam có vốn góp giá trị dưới 03 tỷ đồng. (thời hạn không quá 12 tháng)– DN1 – Cấp cho người nước ngoài làm việc với doanh nghiệp, tổ chức khác có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam. (thời hạn không quá 12 tháng)– DN2 – Cấp cho người nước ngoài vào chào bán dịch vụ, thành lập hiện diện thương mại, thực hiện các hoạt động khác theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. (thời hạn không quá 12 tháng)– DH – Cấp cho người vào thực tập, học tập. (thời hạn không quá 12 tháng)– HN – Cấp cho người vào dự hội nghị, hội thảo. (thời hạn không quá 03 tháng)– LĐ1 – Cấp cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác. (thời hạn không quá 02 năm)– LĐ2 – Cấp cho người nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc diện phải có giấy phép lao động. (thời hạn không quá 02 năm)– DL – Cấp cho người vào du lịch. (thời hạn không quá 03 tháng)– TT – Cấp cho người nước ngoài là vợ, chồng, con dưới 18 tuổi của người nước ngoài được cấp thị thực ký hiệu LV1, LV2, LS, ĐT1, ĐT2, ĐT3, NN1, NN2, DH, PV1, LĐ1, LĐ2 hoặc người nước ngoài là cha, mẹ, vợ, chồng, con của công dân Việt Nam. (thời hạn không quá 12 tháng)– EV – Thị thực điện tử. (thời hạn không quá 30 ngày)Việc lựa chọn loại Visa nào phụ thuộc vào mục đích, nhu cầu và giấy tờ tài liệu của người nhập cảnh. Để lựa chọn loại Visa thích hợp với mình, Quý khách hàng nên liên hệ với Legalzone để được hỗ trợ tư vấn và hướng dẫn hoàn thiện các thủ tục trong quá trình chuẩn bị hồ sơ.Điều kiện được cấp thị thực Việt NamCăn cứ Điều 10 Luật Xuất nhập cảnh của người nước ngoài (sửa đổi 2019), điều kiện được cấp thị thực (visa) Việt Nam gồm:– Có hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế.– Có cơ quan, tổ chức, cá nhân tại Việt Nam mời, bảo lãnh, trừ trường hợp quy định tại Điều 16a, Điều 16b và khoản 3 Điều 17 của Luật này.– Không thuộc các trường hợp chưa cho nhập cảnh quy định tại Điều  21 của Luật này.– Các trường hợp sau đây đề nghị cấp thị thực phải có giấy tờ chứng minh mục đích nhập cảnh:+ Người nước ngoài vào đầu tư phải có giấy tờ chứng minh việc đầu tư tại Việt Nam theo quy định của Luật đầu tư;+ Người nước ngoài hành nghề luật sư tại Việt Nam phải có giấy phép hành nghề theo quy định của Luật luật sư;+ Người nước ngoài vào lao động phải có giấy phép lao động theo quy định của Bộ luật Lao động;+ Người nước ngoài vào học tập phải có văn bản tiếp nhận của nhà trường hoặc cơ sở giáo dục của Việt Nam.Dịch vụ xin visaHiện nay có rất nhiều công ty cung cấp dịch vụ xin cấp visa cho người nước ngoài nên để tìm một tổ chức cung cấp dịch vụ nhanh nhất, chính xác nhất mà giá cả hợp lý là một điều mà khách hàng luôn băn khoăn. Đến với Legalzone chúng tôi chuyên cung cấp các dịch vụ cấp visa cho người nước ngoài với giá cả hợp lý, tư vấn chăm sóc khách hàng tận tình, quan trọng là thủ tục nhanh chóng đảm bảo nhập cảnh cho những vị khách quốc tế vào Việt Nam đúng thời hạn.Tại LegalZone, chúng tôi cung cấp các dịch vụ về visa (thị thực) cho người nước ngoài như sau:Dịch vụ xin cấp visaDịch vụ gia hạn visaDịch vụ chuyển đổi loại visaQuy trình thực hiện dịch vụ xin cấp visa cho người nước ngoài như sau:Bước 1: Tư vấn miễn phí cho khách hàng các vấn đề liên quan đến dịch vụ về visa, bao gồm tư vấn những quy định pháp lý mới nhất; tư vấn loại visa phù hợp nhu cầu, điều kiện thực tế, hiệu quả; tư vấn hồ sơ, trình tự  thủ tục; tư vấn những vấn đề liên quan khác.Bước 2: Chuẩn bị hồ sơ Gửi phiếu cung cấp thông tin, tài liệu và danh mục thông tin, tài liệu cần cung cấp;Kiểm  tra, đánh giá giấy tờ của khách hàng: Kiểm tra tài liệu của khách hàng phù hợp với yêu cầu thực hiện công việc và tư vấn, đưa ra giải pháp phù hợp với các quy định pháp lý, hồ sơ khách có thể cung cấp. Dịch thuật các giấy tờ cần thiết.Hướng dẫn và Soạn thảo bộ hồ sơ đầy đủ theo quy định pháp luật hiện hành.Bước 3: Thực hiện thủ tục xin visa: –  Tiến hành nộp hồ sơ hoặc cùng khách hàng nộp bộ hồ sơ đầy đủ tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền– Nộp phí, lệ phí Nhà nước– Thay mặt bên A nộp hồ sơ, làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (nếu có)–  Nhận kết quả hoặc cử chuyên viên cùng khách hàng đi nhận kết quả ( visa)Bước 4: Bàn giao các giấy tờ tài liệu và kết quả (visa) cho Khách hàng Phí dịch vụ về visa tại LegalZone Phí dịch vụ visa phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng dịch vụ mà Quý khách hàng mong muốn. Hiện nay, LegalZone đang áp dụng ưu đãi giảm 45% giá dịch vụ xin cấp visa cho khách hàng như sau:Dịch vụGiá dịch vụGiá ưu đãi 45%Loại 01- 03 tháng nhiều lần420$290$03 – 06 tháng nhiều lần480$330$06- 12 tháng nhiều lần520$360$Đặc biệt, nếu quý khách hàng có nhu cầu thuê dịch vụ trọn gói (công ty chúng tôi thực hiện đi nộp và nhận kết quả thay khách hàng) và làm trong thời gian gấp có thể tham khảo gói dịch vụ visa vip của chúng tôi với giá chỉ từ 610$ (giảm 04 – 06 ngày so với bình thường).Lưu ý: Giá trên đây là phí dịch vụ trung bình khi sử dụng dịch vụ, chi tiết báo giá có thể thay đổi tùy vào loại visa và tình hình thực tế, cũng như giấy tờ khách hàng cung cấp.Thủ tục này không bao gồm chi phí và thời gian xin giấy phép lao động.Phí trên đã bao gồm phí và lệ phí nhà nước từ: 95$ đến 145$.Cam kếtvới phương châm “Uy tín tạo chất lượng" Legalzone cam kết với Quý khách hàng:Cam kết chi phí hợp lý, tiết kiệm nhất trên thị trường.Cam kết thời gian hoàn thành công việc nhanh nhất.Cam kết thực hiện thủ tục đúng quy định pháp luậtCông ty Luật Legalzone đang mở chương tình giảm giá lớn nhất năm cho khách hàng thực hiện DỊCH VỤ CẤP VISA CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Liên hệ ngay với chúng tôi Công ty Luật LegalzoneHotline tư vấn:  088.888.9366Email: Support@legalzone.vnWebsite: https://legalzone.vn/ Hệ thống: Thủ tục pháp luậtĐịa chỉ: Phòng 1603, Sảnh A3, Toà nhà Ecolife, 58 Tố Hữu, Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội 
Bài viết
TĂNG TRƯỞNG NÓNG BẰNG ĐÀO TẠO NỘI BỘKINH NGHIỆM TỪ CÁC MARKET LEADER Đào tạo nội bộ được đánh giá là hoạt động “nòng cốt” mà nhiều công ty, tập đoàn lớn đầu tư tài chính để giữ chân nhân tài. Tuy nhiên, nhiều công ty vẫn ngó lơ và không chú trọng vào hoạt động này khi nhân lực phân tán, không đủ nhân sự đào tạo, phương pháp đào tạo vẫn truyền thống,…Doanh nghiệp Tăng trưởng nóng đứng trước rất nhiều bài toán khi mở rộng hoạt động kinh doanh liên tục & quy  mô nhân sự trải dài trên toàn quốc: Thứ nhất, đội ngũ “khai thiên lập thạch" với những người đi lên từ chuyên môn không đủ kỹ năng quản lý khi  số lượng nhân sự tăng nhanh. Thậm chí nhiều người cũ ra đi do xung đột văn hóa và cách thức làm việc mới. Thứ hai, nhiều quản lý và người giỏi từ bên ngoài về làm việc một thời gian lại ra đi do không hợp văn hóa, gây  nhiều lãng phí và mất ổn định trong tổ chức. Thứ ba, đội ngũ bán hàng và chăm sóc khách hàng không nhất quán về thông tin sản phẩm, quy trình và các tiêu  chuẩn bán hàng cũng như chăm sóc khách hàng, làm ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm khách hàng, chỉ số hài  lòng và tỷ lệ giữ chân khách hàng. Thứ tư, nhiều kinh nghiệm, kiến thức quý về bán hàng và quản lý của doanh nghiệp không được chia sẻ và lưu  giữ khi nhân sự chủ chốt ra đi. Và rất nhiều bài toán gây đau đầu cho chủ doanh nghiệp & bộ phận nhân sự - đào tạo. Với mục tiêu chia sẻ kinh  nghiệm “Thực tiễn nằm gai nếm mật” về chuyển dịch chiến lược nhân sự từ Buy (Tuyển dụng từ bên ngoài)  sang Build (Đào tạo & Phát triển từ nội bộ) thông qua Phát triển năng lực tổ chức & Tăng trưởng nóng bằng  Đào tạo nội bộ tại các Doanh nghiệp Market Leader trong ngành Tài chính - Ngân hàng - Bảo hiểm, Bất động  sản, Bán lẻ-Phân phối - Thương mại, Công nghệ thông tin, Giáo dục-Đào tạo, Dịch vụ - Sản xuất, Chuỗi hội  thảo trưc tuyến“ TĂNG TRƯỞNG NÓNG BẰNG ĐÀO TẠO NỘI BỘ: KINH NGHIỆM TỪ CÁC MARKET LEADER” do Học viện Quản trị HRD Academy tổ chức với sự chia sẻ của các khách mời đã nhận được sự  quan tâm, tin tưởng và đồng hành chia sẻ, lan toả của hơn 500 doanh nghiệp từ khắp ba miền.. Legalzone  xin gửi đến bạn cuốn Ebook “Tăng trưởng nóng bằng Đào tạo nội bộ: Kinh nghiệm từ các Market Leader” tổng hợp các câu chuyện & bài viết kinh nghiệm phát triển nội lực & hệ thống đào tạo nội bộ tại các doanh nghiệp đầu ngành trong thời kỳ tăng trưởng nóng.