0888889366
Danh mục
LUẬT TỔ CHỨC QUỐC HỘI
Đoàn Trà My
147 ngày trước
Bài viết
Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan gì?
Trong hệ thống chính trị của một quốc gia, Quốc hội là cơ quan đại diện cho ý muốn và quyền lợi của nhân dân. Để hoạt động một cách hiệu quả, Quốc hội cần có các cơ quan hỗ trợ và thực hiện các nhiệm vụ quan trọng. Một trong những cơ quan quan trọng nhất của Quốc hội là Ủy ban thường vụ Quốc hội. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội tại Việt Nam.Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan gì?Theo khoản 1 Điều 44 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 (sửa đổi 2020) thì Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội.Ủy ban thường vụ Quốc hội là một cơ quan quan trọng và có vai trò tối quan trọng trong hệ thống chính trị của Việt Nam. Với nhiệm vụ và quyền hạn đa dạng, Ủy ban thường vụ đóng vai trò quan trọng trong việc lập phương án hoạt động của Quốc hội, soạn thảo luật, kiểm tra và giám sát Chính phủ, quản lý tài chính và ngân sách quốc gia. Cơ quan này đảm bảo tính minh bạch, trách nhiệm, và hiệu quả trong hoạt động của hệ thống chính trị và quản lý quốc gia.Nhiệm vụ của Ủy ban thường vụ Quốc hội:Ủy ban thường vụ Quốc hội là một cơ quan quan trọng trong hệ thống chính trị của Việt Nam, có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:Nhiệm vụ lập phương án hoạt động của Quốc hội: Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của Ủy ban thường vụ là lập phương án hoạt động của Quốc hội trong kỳ họp, bao gồm việc xác định chương trình làm việc, thời gian và nội dung của các phiên họp.Lập dự thảo luật: Ủy ban thường vụ thường tham gia vào việc soạn thảo và lập dự thảo luật. Các thành viên của Ủy ban này đề xuất, xem xét, và đưa ra ý kiến về các dự thảo luật trước khi chúng được đưa ra Quốc hội để xem xét và thông qua.Kiểm tra và giám sát hoạt động của Chính phủ: Ủy ban thường vụ có quyền kiểm tra và giám sát hoạt động của Chính phủ, đặc biệt là việc thực hiện chính sách và pháp luật do Quốc hội thông qua. Nếu có việc làm không phù hợp, Ủy ban thường vụ có thể đưa ra đề nghị sửa đổi hoặc tăng cường giám sát.Tham gia vào quản lý tài chính và ngân sách quốc gia: Ủy ban thường vụ tham gia vào quản lý tài chính và ngân sách quốc gia, xem xét và đưa ra ý kiến về quyết toán ngân sách, việc sử dụng nguồn kinh phí quốc gia, và các vấn đề tài chính quan trọng khác.Quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội:Quyền đề xuất dự thảo luật: Ủy ban thường vụ có quyền đề xuất dự thảo luật đến Quốc hội. Điều này giúp họ tham gia tích cực vào quá trình tạo ra và thay đổi pháp luật.Quyền yêu cầu thông tin và giải trình: Ủy ban thường vụ có quyền yêu cầu các cơ quan và tổ chức cung cấp thông tin cần thiết và giải trình về các vấn đề mà họ quan tâm.Quyền kiểm tra và giám sát: Ủy ban thường vụ có quyền kiểm tra và giám sát hoạt động của Chính phủ và các cơ quan chính trị, bảo đảm tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý quốc gia.Quyền phê chuẩn và bãi nhiệm các vị trí quan trọng: Ủy ban thường vụ có thẩm quyền phê chuẩn và bãi nhiệm một số vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị và quản lý quốc gia.Thành viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội bao gồm những ai?Thành viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội theo khoản 2 Điều 44 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 (sửa đổi 2020) thì Ủy ban thường vụ Quốc hội gồm:- Chủ tịch Quốc hội;- Các Phó Chủ tịch Quốc hội;- Các Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội do Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội làm Phó Chủ tịch.Thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách và không đồng thời là thành viên Chính phủ.Số Phó Chủ tịch Quốc hội và số Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định.Ngoài ra thì nhiệm kỳ của Ủy ban thường vụ Quốc hội bắt đầu từ khi được Quốc hội bầu ra và kết thúc khi Quốc hội khóa mới bầu ra Ủy ban thường vụ Quốc hội theo khoản 2 Điều 44 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 (sửa đổi 2020).Kết luận:Ủy ban thường vụ Quốc hội là một cơ quan quan trọng và có quyền hạn đáng kể trong việc quản lý và thực hiện các nhiệm vụ của Quốc hội tại Việt Nam. Sự hoạt động và quyền hạn của Ủy ban thường vụ đảm bảo tính minh bạch, trách nhiệm, và hiệu quả trong hoạt động của hệ thống chính trị và quản lý quốc gia. Để tìm hiểu thêm về Ủy ban thường vụ và các quy định liên quan, bạn có thể tham khảo Thủ Tục Pháp Luật, nguồn thông tin uy tín về pháp luật và quy định tại Việt Nam.
Đoàn Trà My
199 ngày trước
Bài viết
TRIỆU TẬP KỲ HỌP QUỐC HỘI
Quốc hội là cơ quan đại diện cho quyền lực lập pháp của nhân dân, có vai trò quan trọng trong việc quyết định và thảo luận về các vấn đề quan trọng của quốc gia. Một trong những yếu tố quan trọng trong hoạt động của quốc hội là tần suất tổ chức các phiên họp. Tần suất này được quy định để đảm bảo tính liên tục, hiệu quả và minh bạch trong hoạt động lập pháp. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu về tần suất tổ chức phiên họp Quốc hội, cùng với cách tìm hiểu chi tiết và thủ tục liên quan tại Thủ Tục Pháp Luật.Tần Suất Tổ Chức Phiên Họp Quốc Hội: Vai Trò và Quy Định- Kỳ họp Quốc hội là hình thức hoạt động chủ yếu của Quốc hội. Tại kỳ họp, Quốc hội thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.Kỳ họp Quốc hội có thể được tổ chức liên tục hoặc theo hai hay nhiều đợt.- Quốc hội họp công khai.Trong trường hợp cần thiết, theo đề nghị của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc của ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, Quốc hội quyết định họp kín.- Quốc hội họp thường lệ mỗi năm hai kỳ.Trường hợp Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu thì Quốc hội họp bất thường.- Quốc hội thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình tại kỳ họp Quốc hội theo thủ tục quy định tại Nội quy kỳ họp Quốc hội và các quy định khác của pháp luật có liên quan.Như vậy, mỗi năm Quốc hội họp thường lệ hai lần (hai kỳ). Ngoài ra, mỗi năm Quốc hội có thể họp kỳ họp bất thường.(Điều 1 Nội quy kỳ họp Quốc hội ban hành kèm theo Nghị quyết 71/2022/QH15, Điều 90 Luật Tổ chức Quốc hội 2014)Vai Trò Của Tần Suất Phiên Họp Quốc Hội: Tần suất tổ chức phiên họp Quốc hội là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng của Quốc hội thực hiện nhiệm vụ lập pháp và giám sát. Tần suất này cần phải đảm bảo tính liên tục, đồng thời cung cấp đủ thời gian cho các cuộc thảo luận và quyết định quan trọng.Quy Định Về Tần Suất Tổ Chức Phiên Họp Quốc Hội: Tần suất tổ chức phiên họp Quốc hội thường được quy định trong Hiến pháp hoặc các văn bản pháp luật khác của quốc gia. Trong một số quốc gia, Quốc hội có thể tổ chức các phiên họp hàng năm, hai lần một năm hoặc theo một lịch trình cụ thể khác nhau. Mục tiêu là để đảm bảo Quốc hội có thời gian đủ để thực hiện công việc lập pháp, giám sát và thảo luận về các vấn đề quan trọng.Triệu tập kỳ họp Quốc hội- Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định triệu tập kỳ họp thường lệ của Quốc hội chậm nhất là 30 ngày và kỳ họp bất thường chậm nhất là 07 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.- Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa mới do Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá trước triệu tập chậm nhất là 60 ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội.- Quyết định triệu tập kỳ họp cùng với dự kiến chương trình kỳ họp được gửi đến đại biểu Quốc hội.(Điều 92 Luật Tổ chức Quốc hội 2014)Người được mời tham dự kỳ họp Quốc hội; dự thính tại phiên họp Quốc hội- Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thành viên Chính phủ, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan do Quốc hội thành lập không phải là đại biểu Quốc hội được mời dự các kỳ họp Quốc hội; có trách nhiệm tham dự các phiên họp toàn thể của Quốc hội khi thảo luận về những vấn đề có liên quan đến ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách.Người được mời tham dự kỳ họp Quốc hội được phát biểu ý kiến về vấn đề thuộc ngành, lĩnh vực mà mình phụ trách nếu được Chủ tịch Quốc hội đồng ý hoặc có trách nhiệm phát biểu ý kiến theo yêu cầu của Chủ tịch Quốc hội.- Đại diện cơ quan nhà nước, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan báo chí và khách quốc tế có thể được mời dự các phiên họp công khai của Quốc hội.- Công dân có thể được vào dự thính tại các phiên họp công khai của Quốc hội.(Điều 93 Luật Tổ chức Quốc hội 2014)Tìm Hiểu Chi Tiết và Thủ Tục Tại Thủ Tục Pháp LuậtĐể tìm hiểu chi tiết về tần suất tổ chức phiên họp Quốc hội, cùng với các thông tin liên quan, bạn có thể truy cập Thủ Tục Pháp Luật. Trang web này cung cấp thông tin về quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của Quốc hội, tần suất tổ chức phiên họp và cách thức quyết định về lịch trình họp.Tổng KếtTần suất tổ chức phiên họp Quốc hội đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của hoạt động lập pháp và giám sát. Việc hiểu rõ về tần suất này và thực hiện các quy định pháp luật liên quan là vô cùng quan trọng để đảm bảo tính minh bạch và hiệu suất của Quốc hội. Thủ Tục Pháp Luật là nguồn thông tin đáng tin cậy để bạn nắm rõ về quy định, thủ tục và công việc của Quốc hội.
Nguyễn Diễm Quỳnh
208 ngày trước
Bài viết
Quy định của pháp luật về quốc tịch của đại biểu Quốc hội ra sao? Đại biểu Quốc hội có quyền sửa đổi Hiến pháp hay không?
Xin hãy cho tôi biết liệu Đại biểu Quốc hội có được phép giữ hai quốc tịch theo quy định của pháp luật hay không? Tôi cũng không rõ liệu họ có quyền sửa đổi Hiến pháp hay không. Xin cảm ơn rất nhiều!Đại biểu Quốc hội có được mang hai quốc tịch hay không?Căn cứ khoản 1 Điều 17 Hiến pháp 2013 như sau:- Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam.- Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.- Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ.Căn cứ Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 như sau:“Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp luật này có quy định khác.”Bên cạnh đó tại, Điều 22 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 quy định tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội như sau:- Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.- Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam.- Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác.- Có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội.- Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm.- Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội.Kết luận:Dựa trên những quy định đã trình bày, việc đại biểu Quốc hội sở hữu hai quốc tịch không đáp ứng tiêu chuẩn mà pháp luật quy định. Vì vậy, trường hợp này yêu cầu người vi phạm phải lựa chọn giữ lại một quốc tịch hoặc từ bỏ chức vụ đại biểu Quốc hội. Nếu không tuân theo các yêu cầu này, họ sẽ phải đối mặt với xử lý và bãi nhiệm theo quy định của luật pháp. Đại biểu Quốc hội có quyền sửa đổi Hiến pháp hay không?Căn cứ Điều 33 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 như sau:“1. Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị Quốc hội làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp, trưng cầu ý dân, thành lập Ủy ban lâm thời của Quốc hội, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, tổ chức phiên họp bất thường, phiên họp kín của Quốc hội và kiến nghị về những vấn đề khác mà đại biểu Quốc hội thấy cần thiết.[...]5. Đại biểu Quốc hội có quyền kiến nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng biện pháp cần thiết để thực hiện Hiến pháp, pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.”Theo đó, đại biểu Quốc hội không có quyền sửa đổi hiến pháp mà chỉ có quyền kiến nghị Quốc hội sửa đổi Hiến pháp mà thôi. Thẩm quyền sửa đổi Hiến pháp thuộc về Quốc hội, được quy định rõ trong Hiến pháp năm 2013, tại khoản 3 Điều 142, nêu rõ rằng: "Quốc hội có quyền sửa đổi, bổ sung, hoặc ban hành lại toàn bộ Hiến pháp hoặc một số điều của Hiến pháp bằng văn bản."Phát hiện Đại biểu Quốc hội mang hai quốc tịch thì phải làm gì?Căn cứ Điều 34 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 quy định yêu cầu khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của Đại biểu Quốc hội như sau:- Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan thi hành những biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật.- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của đại biểu Quốc hội, cơ quan, tổ chức phải giải quyết và thông báo bằng văn bản cho đại biểu Quốc hội biết. Quá thời hạn này mà cơ quan, tổ chức không trả lời thì đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu người đứng đầu của cơ quan, tổ chức cấp trên xem xét, giải quyết.
Đặng Quỳnh
245 ngày trước
Bài viết
GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN THẨM QUYỀN CỦA QUỐC HỘI
4.1. Giải pháp hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội4.1.1.  Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về thẩm quyền của Quốc hộiThứ nhất, ban hành mới một số văn bản quy phạm pháp luậtNhư ở chương 3 của Luận án đã chỉ ra, lý do nhiều quyền hạn của Quốc hội được Hiến pháp quy định nhưng không thể thực hiện vì chưa có văn bản quy định cụ thể. Điều này khiến một số quyền hạn của Quốc hội trên thực tế bị vô hiệu hóa. Mặc dù, có thể giải thích là những quyền hạn của Quốc hội chưa được luật định thuộc các vấn đề ít xảy ra và với nguồn lực lập pháp giới hạn nên Quốc hội cần ưu tiên cho việc ban hành những văn bản khác cấp bách hơn. Tuy vậy, sự trì hoãn cũng không thể quá lâu. Không nên để tình trạng có quyền hạn được quy định trong Hiến pháp từ mấy chục năm qua đến nay vẫn chưa có những quy định cụ thể để có thể thực hiện trên thực tế (Quyết định đại xá; quyết định chính sách dân tộc). Trong thời gian tới, Quốc hội cần tập trung nhiều hơn vào việc hoàn thiện cơ sở pháp lý đảm bảo khả năng thực hiện trên thực tế thẩm quyền hiến định. Điều này vừa đảm bảo vị trí cơ quan quyền lực cao nhất của Quốc hội, đồng thời bảo đảm hiệu lực thực tế của Hiến pháp.Thứ hai, thay thế một số văn bản của UBTVQH có nội dung quy định về thẩm quyền của Quốc hội bằng luật hoặc nghị quyết của Quốc hội.Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, lẽ đương nhiên không cơ quan nào khác trong bộ máy nhà nước hiện nay có thể đặt ra các quy định về nội dung thẩm quyền và cách thức thực hiện thẩm quyền của Quốc hội. Ở nhiều nước, các vấn đề liên quan đến thẩm quyền của Quốc hội từ nội dung vấn đề Quốc hội quyết định đến quy trình, thủ tục thực hiện thẩm quyền của Quốc hội được quy định bởi Hiến pháp, luật hoặc văn bản do Quốc hội ban hành với thủ tục tương tự luật. Ở Việt Nam, do đặc thù về chế độ làm việc của đại biểu đa số là không chuyên trách, kỳ họp của Quốc hội thường ngắn nên trong tổ chức của Quốc hội thành lập ra cơ quan thường trực là UBTVQH để hỗ trợ cho hoạt động của Quốc hội và giải quyết một số vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp. Theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, Quốc hội Việt Nam được tổ chức theo mô hình một viện. UBTVQH chỉ là cơ quan thường trực mặc dù theo quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành, UBTVQH được quyền ban hành pháp lệnh và nghị quyết để quy định một số vấn đề. Thực tế thời gian qua cho thấy để đảm bảo hiệu quả các hoạt động chung của Quốc hội, UBTVQH đã ban hành một số văn bản có nội dung liên quan đến cơ chế thực thi thẩm quyền của Quốc hội như ở chương 3 đã chỉ ra, đó là Nghị quyết số 334/2017/UBTVQH14 ngày 11 tháng 01 năm 2017 ban hành Quy chế tổ chức thực hiện một số hoạt động giám sát của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; Nghị quyết số: 351/2017/UBTVQH14 ngày 14 tháng 3 năm 2017 quy định thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch nước; Nghị quyết số: 1000/2020/UBTVQH14 ngày 16 tháng 9 năm 2020 quy định về Bộ máy giúp việc của Hội đồng bầu cử quốc gia. Điều này không phù hợp với tính chất thường trực, giúp việc cho Quốc hội của UBTVQH. Sự tồn tại của các văn bản này vô hình chung làm hạ thấp vị thế của Quốc hội trên thực tế. Giải pháp có thể xem xét là Quốc hội cần sớm ban hành các văn bản pháp luật phù hợp thể quy định về các nội dung về thẩm quyền của Quốc hội để thay thế các văn bản nêu trên của UBTVQH.Thứ ba, sớm sửa Luật ngân hàng Nhà nước năm 2010 để cập nhật những nội dung mới của Hiến pháp năm 2013 về thẩm quyền Quốc hội trong lĩnh vực tài chính, ngân sách.Gần đây, trong Chỉ thị số 01/CT-NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành ngày 13 tháng 01 năm 2022 “Về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành ngân hàng trong năm 2022” mới chỉ đề cập đến việc "nghiên cứu khả năng sửa đổi, bổ sung Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam"239. Tuy vậy, đến nay, Luật sửa đổi, bổ sung Luật ngân hàng nhà nước vẫn chưa được được vào danh mục các văn bản luật được xem xét trong Nghị quyết số 50/2022/QH15, ngày 13 tháng 6 năm 2022 về “Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023, điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2022”. Có thể thấy, việc sửa đổi Luật ngân hàng nhà nước đã chậm gần 10 năm kể từ khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua. Do vậy, Quốc hội và các cơ quan hữu quan cần phải tập trung gấp rút triển khai các hoạt động cần thiết để sớm hoàn thành việc sửa đổi Luật ngân hàng Nhà nước, đảm bảo sự phù hợp của Luật ngân hàng Nhà nước với quy định của Hiến pháp năm 2013.4.1.2. Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung một số quy định pháp luật về thẩm quyền của Quốc hộiThứ nhất, sửa đổi một số quy định, làm rõ mối quan hệ giữa Quốc hội và Nhân dân và phân định rõ thẩm quyền của Quốc hội với quyền quyết định trực tiếp của Nhân dân.Trước hết, cần nghiên cứu sửa đổi quy định của Hiến pháp đảm bảo nhận thức đúng về vị trí, tính chất pháp lý của Quốc hội. Cụ thể là, nghiên cứu sửa Điều 69 Hiến pháp năm 2013 theo hướng chỉ quy định “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân” và bỏ quy định “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”. Việc duy trì quy định “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” có thể làm lu mờ quyền lực Nhân dân, và gây khó khăn cho việc lựa chọn mô hình bảo hiến và kiểm soát quyền lập pháp. Sửa đổi quy định về vị trí, tính chất pháp lý của Quốc hội theo hướng này có thể mở đường cho việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.Bên cạnh đó, cần xem xét bổ sung quy định giới hạn việc Quốc hội sửa đổi Hiến pháp. Kinh nghiệm một số nước cho thấy, Hiến pháp nhiều nước đã có quy định rõ phạm vi sửa đổi Hiến pháp như Điều 89 Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 1958 quy định: “không thể áp dụng thủ tục tu chính Hiến pháp nếu tu chính đó vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ. Không thể tu chính hình thức Cộng hòa Pháp”240. Còn theo Hiến pháp Cộng hòa Ba Lan thì quy định “Nếu dự luật sửa đổi Hiến pháp liên quan đến các quy định tại các chương I (Nền cộng hòa), II (Quyền tự do, các quyền và nghĩa vụ của con người và công dân) hoặc XII (Sửa đổi Hiến pháp) thì các chủ thể quy định tại khoản 1, trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày dự luật được thượng nghị viện thông qua, có thể tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân đề chứng thực. Các chủ thể này sẽ gửi đề nghị đến Chủ tịch Hạ nghị viên, là người tổ chức cuộc trưng cầu ý dân trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị. Việc sửa đổi Hiến pháp sẽ được xem là được chấp thuận nếu đa số phiếu ủng hộ việc sửa đổi này”241. Hay khoản 1 Điều 135 Hiến pháp Liên Bang Nga năm 1993 cũng quy định “Các quy định tại các Chương 1 (Nền tảng của chế độ Hiến pháp), Chương 2 (Các quyền và tự do của con người và công dân), Chương 9 (Các tu chính án và việc sửa đổi Hiến pháp) của Hiến pháp liên bang không thể sửa đổi bởi Quốc hội liên bang”. Hiện nay, Hiến pháp năm 2013 và Luật trưng cầu ý dân năm 2015 đã có những quy định đề cập đến việc tổ chức trưng cầu ý dân về các điều khoản sửa đổi Hiến pháp242. Tuy vậy, những quy định này vẫn chưa làm rõ được Quốc hội không được toàn quyền quyết định vấn đề nào của Hiến pháp mà buộc phải tổ chức trưng cầu ý dân. Những quy định pháp luật hiện hành vẫn chưa làm rõ được điều này. Do vậy, cần tham khảo kinh nghiệm các nước để lựa chọn, giới hạn các vấn đề của Hiến pháp có thể được Quốc hội sửa đổi trực tiếp không qua trưng cầu ý dân. Từ đó xem xét sửa đổi, bổ sung Điều 120 của Hiến pháp năm 2013 như sau: “Việc sửa đổi (một số nội dung) của Hiến pháp phải được trưng cầu ý dân”. Trên cơ sở nội dung sửa đổi khoản 4 Điều 120 của Hiến pháp năm 2013, Điều 6 Luật trưng cầu ý dân năm 2015 cũng phải có những nội dung sửa đổi, bổ sung tương ứng.Ngoài ra, cần bổ sung quy định xác định rõ trách nhiệm của Quốc hội trong việc ban hành Luật để điều chỉnh các vấn đề cụ thể, cũng như quy định rõ giới hạn những vấn đề Quốc hội được giao cho Ủy ban thường vụ ban hành pháp lệnh hoặc những vấn đề Quốc hội được giao Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết.Theo quy định hiện nay, Quốc hội có quyền giao cho UBTVQH ban hành pháp lệnh để quy định về một số vấn đề. Tuy nhiên, các quy định về những vấn đề Quốc hội có quyền giao cho UBTVQH ban hành pháp lệnh để quy định hiện nay còn theo hướng mở. Để tăng cường thực quyền và trách nhiệm của Quốc hội trong lập pháp cần xem xét sửa đổi lại các quy định hiện hành theo hướng xác định rõ các vấn đề Quốc hội phải ban hành luật mà không được giao cho UBTVQH ra pháp lệnh. Trong điều khoản thi hành của nhiều luật do Quốc hội ban hành có quy định: "Chính phủ quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật"243 hoặc "Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ có trách nhiệm quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật". Theo: Đinh Thị Cẩm Hà Link luận án: https://docs.google.com/document/d/1CDbXbkodafex35-W9NtGPGygMw3emgDn/edit 
Đặng Quỳnh
245 ngày trước
Bài viết
QUAN ĐIỂM NHẰM HOÀN THIỆN THẨM QUYỀN CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI
4.1. Quan điểm hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam4.1.1. Đảm bảo thể hiện nhận thức đúng về địa vị pháp lý của Quốc hội trong bộ máy nhà nước Việt Nam. Đề cao chủ quyền nhân dân – giá trị cốt lõi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong việc quy định thẩm quyền của Quốc hộiMục 2 Phần IV Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo” và “Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân”222. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 cũng khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ”. Theo quy định của Hiến pháp hiện hành, địa vị pháp lý của Quốc hội được thể hiện ở hai khía cạnh: đại diện và quyền lực. Để có thể xác định được các giải pháp hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội cần phải nhận thức đúng về địa vị pháp lý của Quốc hội trong bộ máy nhà nước, cụ thể như sau:Thứ nhất, quyền lực tối cao của Nhà nước vốn luôn thuộc về Nhân dân và không thể được chuyển giao toàn bộ cho bất kỳ cơ quan nhà nước nào. Quốc hội chỉ là một trong số các cơ quan được Nhân dân tín nhiệm trực tiếp lựa chọn và giao cho trọng trách biểu đạt ý chí, mong muốn của Nhân dân về các vấn đề liên quan đến “quốc kế dân sinh” quan trọng nhất. Nước ta do Nhân dân làm chủ223. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định dân chủ là bản chất của nhà nước ta, đó là “Bao nhiêu lợi ích đều là vì dân,... quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”224, “Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết, là tối thượng”225. Thông thường, một trong những tiêu chuẩn xác định bản chất dân chủ là bảo đảo cho việc quyết định thuộc về Nhân dân. Việc Hiến pháp năm 2013 đã lần đầu tiên viết hoa hai chữ Nhân dân trong quy định của Hiến pháp “không chỉ có ý nghĩa biểu tượng hình thức mà biểu hiện sự tôn vinh Nhân dân – chủ thể của lịch sử và của mọi quyền lực”.Trong nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, dân chủ đại diện chỉ là một hình thức để Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước. Ngoài dân chủ đại diện, Nhân dân còn thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp. Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: "Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước".228. Mặc dù dân chủ đại diện có nhiều ưu điểm và đang là phương thức phổ biến để thực hiện quyền lực nhân dân ở các quốc gia dân chủ hiện đại nhưng dân chủ đại diện không thể thay thế hoàn toàn dân chủ trực tiếp. Quyền làm chủ của Nhân dân chỉ có tính hiện thực khi cả hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện được thực hiện đầy đủ và hiệu quả trên thực tế.Dù Hiến pháp có quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thì quyền lực mà Quốc hội có cũng xuất phát từ quyền lực nhân dân và không bao quát hết quyền lực nhân dân. Quy định về thẩm quyền của Quốc hội một mặt phải thể hiện đầy đủ quyền lực của Nhân dân. Mặt khác, thẩm quyền của Quốc hội không thể thay thế hoàn toàn việc thực hiện quyền lực nhà nước trực tiếp bởi Nhân dân. Đặc biệt là thẩm quyền của Quốc hội càng không được cản trở, trì hoãn mà phải hỗ trợ cho Nhân dân thực hiện trên thực tế các quyền quyết định trực tiếp một cách hiệu quả nhất. Quá trình hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội cần từng bước mở rộng các vấn đề Nhân dân quyết định trực tiếp một cách hợp lý, xem xét về khả năng chuyển những vấn đề Quốc hội đang thực hiện để Nhân dân quyết định trực tiếp ngay khi có đủ điều kiện thực hiện. Mặc dù, dân chủ trực tiếp không thể thực hiện thường xuyên, nhưng từ những lần tham gia quyết định trực tiếp những vấn đề quan trọng của đất nước Nhân dân sẽ tự ý thức về quyền làm chủ của mình, nâng cao năng lực bày tỏ quan điểm, đưa ra những yêu cầu đòi hỏi đối với các cơ quan chính quyền trong việc bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng của Nhân dân. Cùng với việc mở rộng dân chủ trực tiếp, cần xây dựng cơ chế rõ ràng để Nhân dân và các tổ chức của Nhân dân có điều kiện thuận lợi nhất trong tham gia, góp ý và kiểm soát hiệu quả và đầy đủ trong các công đoạn thực hiện thẩm quyền của Quốc hội về lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước.Thứ hai, Quốc hội là một cơ quan nhà nước, dù là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thì Quốc hội cũng phải được tổ chức và hoạt động trên cơ sở quy định của Hiến pháp và pháp luật. Theo Điều 8 Hiến pháp năm 2013, “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật”229. Quốc hội chỉ được làm những gì Hiến pháp và pháp luật quy định. Việc thực hiện nội dung thẩm quyền của Quốc hội phải theo đúng quy trình, thủ tục pháp luật quy định. Quá trình hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội trước hết cần bảo đảm cơ sở pháp lý đầy đủ về nội dung và thủ tục cho việc thực hiện các thẩm quyền của Quốc hội. Các quy định về thẩm quyền của Quốc hội phải rõ ràng, diễn giải đúng nội hàm, hạn chế những quy phạm mang tính tùy nghi.Thứ ba, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội có vị thế cao hơn so với tất cả những cơ quan còn lại của Nhà nước. Do đó, Quốc hội có thẩm quyền quyết định đến tổ chức và hoạt động các cơ quan nhà nước như quyết định trực tiếp một số nhân sự cấp cao và quy định về phạm vi, nội dung, phương thức thực hiện thẩm quyền của các cơ quan nhà nước khác. Đồng thời, vì Quốc hội là quan quyền lực nhà nước cao nhất nên để đặt ra các quy định liên quan đến thẩm quyền của Quốc hội như sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn nào đó của Quốc hội, giải thích nội dung thẩm quyền của Quốc hội hoặc quy định về kiểm tra việc thực thi thẩm quyền của Quốc hội chỉ có Quốc hội thực hiện thông qua việc ban hành Hiến pháp, Luật, Nghị quyết hoặc do Nhân dân thông qua trưng cầu ý dân mà không thể do bất kỳ cơ quan nào khác. Việc tồn tại những văn bản do các cơ quan nhà nước khác ban hành có nội dung quy định về các vấn đề liên quan đến xác định nội dung thẩm quyền của Quốc hội và cơ chế thực thi thẩm quyền của Quốc hội sẽ là không phù hợp với địa vị pháp lý của Quốc hội.Thứ tư, trong cơ chế phân công thực hiện quyền lực nhà nước (gồm quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp), Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp. Do vậy, dù Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thì các quyết định của Quốc hội không thể can thiệp trực tiếp, giải quyết thay, vô hiệu hóa quyền quyết định của Chính phủ trong thực hiện quyền hành pháp và việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án nhân dân. Quá trình hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội cần bảo đảm cơ chế phân công, phối hợp giữa Quốc hội với các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đồng thời cũng cần hoàn thiện quy trình phát hiện, xử lý trách nhiệm của Quốc hội trước Nhân dân trong trường hợp Quốc hội không thực hiện đúng hoặc thiếu trách nhiệm trong thực hiện thẩm quyền mà Hiến pháp và pháp luật quy định.4.1.2. Đảm bảo thượng tôn Hiến pháp và luật trong quy định và thực hiện thẩm quyền của Quốc hộiThượng tôn Hiến pháp và luật là yêu cầu căn bản của Nhà nước pháp quyền. Hiến pháp và Luật là những văn bản “rường cột” của hệ thống pháp luật. Điều 8 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”. Mặc dù hiện nay Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền ban hành Hiến pháp và Luật nhưng đây chỉ thủ tục lập hiến, lập pháp. Việc Quốc hội giữ quyền quyết định đối với Hiến pháp và Luật không hàm nghĩa Hiến pháp và luật là của Quốc hội mà đây là những văn bản của Nhà nước, trong đó, Hiến pháp là “luật cơ bản của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất”230. Chức năng quan trọng nhất của Hiến pháp là ghi lại nội dung Nhân dân “ủy quyền quyền lực nhà nước cho các cơ quan nhà nước thực hiện”231, “Thông qua Hiến pháp, nhân dân thực hiện việc giao quyền cho các cơ quan nhà nước, quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, xác định địa vị pháp lý của các tổ chức xã hội, quy chế pháp lý của các cá nhân... Đồng thời, thông qua hiến pháp, nhân dân quy định sự kiểm soát của mình đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và các cá nhân. Vì vậy, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân nghiêm chỉnh chấp hành hiến pháp tức là chấp hành ý chí của nhân dân”.Quốc hội là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, vì vậy, nội dung thẩm quyền của Quốc hội cũng như phương thức, quy trình, thủ tục thực hiện thẩm quyền của Quốc hội phải được xác định dựa trên những quy định của Hiến pháp và luật. Hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội cần đảm bảo:Thứ nhất, quy định đầy đủ trong Hiến pháp và luật nội dung thẩm quyền của Quốc hội.Thứ hai, quy định cụ thể trong Hiến pháp và luật phương thức, quy trình, thủ tục thực hiện thẩm quyền của Quốc hội. Đảm bảo Quốc hội quyết định hiệu quả, thực chất trong lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước.Thứ ba, quy định rõ ràng cơ chế giám sát việc thực hiện thẩm quyền của Quốc hội trong Hiến pháp và luật. Đảm bảo khả năng xử lý trên thực thế những sai sót trong thực hiện thẩm quyền của Quốc hội một cách khách quan, hiệu quả nhất.4.1.3. Phân định minh bạch thẩm quyền của Quốc hội để làm cơ sở cho việc kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp hành pháp và tư phápBộ máy nhà nước bao gồm hệ thống các cơ quan tham gia vào quá trình thực hiện các chức năng của nhà nước. Mỗi cơ quan được phân định một phạm vi thẩm quyền nhất định đề thực hiện một phần chức năng của nhà nước. Do vậy, khi điều chỉnh thẩm quyền của cơ quan này nhất định sẽ phải xem xét đến thẩm quyền của cơ quan khác. Giả sử, nếu bớt một hoạt động nào đó của Quốc hội thì câu hỏi đặt ra cần giải quyết đó là hoạt động đó sẽ chuyển sang cho cơ quan nào thực hiện. Không chỉ vậy, giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, cơ quan thực hiện quyền hành pháp và cơ quan thực hiện quyền tư pháp luôn có mối liên hệ nội tại với nhau. Để tăng cường hiệu quả hoạt động cho Quốc hội thì nhất định cũng sẽ có những yêu cầu đặt ra đối với Chính phủ, TANDTC và những cơ quan khác của Nhà nước.Ở Việt Nam, mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay đã được hiến định hóa tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013. Nhà nước pháp quyền ngoài việc đòi hỏi sự thượng tôn pháp luật trong hoạt động của mọi cơ quan nhà nước, còn yêu cầu mỗi cơ quan đều được xác định một cách chính xác các việc được làm và không được làm trong thi hành công vụ. Nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát trong thực thi quyền lực nhà nước được coi là một trong những yêu cầu quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay. Quan điểm này được ghi nhận trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” sửa đổi, bổ sung năm 2011 (Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thông qua) và được bổ sung trong khoản 3, Điều 2 Hiến pháp năm 2013. Kể từ khi vấn đề phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực được hiến định hóa đến nay, “Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp ngày càng rõ hơn và có nhiều chuyển biến tích cực”233. Các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đã được Hiến pháp phân công rõ cho các cơ quan là Quốc hội (Điều 69 Hiến pháp năm 2013), Chính phủ (Điều 94 Hiến pháp năm 2013) và Tòa án nhân dân thực hiện (Điều 102 Hiến pháp năm 2013). Các cơ quan khác của Nhà nước đóng vai trò phối hợp và kiểm soát. Tuy vậy, thực tế quy định về thẩm quyền Quốc hội cho thấy vấn đề phân công giữa Quốc hội với Chính phủ và các cơ quan khác vẫn chưa thực sự rõ ràng. Báo cáo chính trị trình Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII xác định: “Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội. Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền XHCN. Đẩy mạnh hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nước, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất, xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền”234. Hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội trong giai đoạn hiện nay cần phải đặt trong tổng thể hoàn thiện bộ máy nói chung và phải làm rõ được sự riêng biệt về phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của Quốc hội trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác. Trong thời gian qua, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, nâng cao vai trò của Thủ tướng trong lãnh đạo điều hành Chính phủ, các Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013 đã bỏ quy định về quyền của Quốc hội bầu tất cả các thành viên của Chính phủ thay bằng quyền bầu Thủ tướng chính phủ và quyền phê chuẩn Phó thủ tướng, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Gần đây, đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, nhằm nâng cao vị thế của thẩm phán Tòa án nhân dân, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung quyền của Quốc hội “phê chuẩn thẩm phán TANDTC”. Trong thời gian tới, việc hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội cần tiếp tục gắn chặt với quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước nói chung để đảm bảo sự đồng bộ, tránh chồng chéo thẩm quyền, tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động chung của cả bộ máy nhà nước.4.1.4. Đảm bảo Quốc hội hoạt động thực chất, hiệu quả, thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dânTính hình thức trong thực thi thẩm quyền của Quốc hội là vấn đề đã được cảnh báo thời gian qua với những biểu hiện đã được nhiều tác giả chỉ ra như: tình trạng luật được Quốc hội ban hành nhưng không thể được thực hiện do thiếu nghị định hướng dẫn, biểu quyết ngân sách mang tính hình thức , đại biểu Quốc hội né tránh chất vấn, tranh luận với các thành viên của Chính phủ...Có thể thấy, Quốc hội luôn là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân dù ở bất kỳ chính thể nào. Quyền lực của Quốc hội có thể thay đổi, nhưng vai trò đại diện Nhân dân của Quốc hội là vấn đề thuộc về bản chất cốt lõi của Quốc hội. Khi Quốc hội hoạt động hình thức, nghĩa là quyền lực nhân dân đã bị chiếm đoạt, bị vô hiệu hóa. Đảm bảo Quốc hội hoạt động thực chất đòi hỏi:Thứ nhất, việc giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội phải phản ánh đúng nguyện vọng của Nhân dân. Quốc hội có đủ thực lực để thể hiện và bảo vệ lợi ích của Nhân dân trong các quyết định của Quốc hội.Thứ hai, các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành phải áp dụng được trực tiếp trong giải quyết các vấn đề liên quan ngay khi có hiệu lực.Thứ ba, đại biểu Quốc hội không phải e dè, tránh né khi tham gia vào quá trình đưa ra quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội.4.1.5. Tập trung nâng cao năng lực lập pháp của Quốc hội làm cơ sở xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, đảm bảo hiệu quả quản trị quốc gia bằng pháp luậtĐại hội XIII đặt ra yêu cầu “hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân”.Trong hệ thống pháp luật, Hiến pháp và luật do Quốc hội ban hành đóng vai trò trung tâm, là cơ sở để xây dựng các chế định pháp luật quan trọng. Có thể thấy, Nhà nước pháp quyền chỉ có thể vận hành khi có đủ luật. Trong cơ chế phân công thực hiện quyền lực Nhà nước ở Việt Nam hiện nay, Quốc hội được giao thực hiện quyền lập pháp. Quyền lập pháp thể hiện tập trung nhất tính chất, vai trò của Quốc hội. Năng lực lập pháp của Quốc hội là cơ sở chủ yếu để Nhân dân đánh giá hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Chính vì vậy, hoàn thiện thẩm quyền của Quốc hội cần tập trung nâng cao năng lực lập pháp của Quốc hội. Quy trình lập pháp bao gồm nhiều giai đoạn, cần xác định chính xác vai trò cụ thể của Quốc hội trong mỗi giai đoạn trên cơ sở đổi mới tư duy làm luật, đảm bảo Quốc hội chỉ thực hiện những việc mà Quốc hội có thể làm tốt nhất. Mọi nguồn lực của Quốc hội cần phải được tính toán, đầu tư phục vụ trước hết vào hoạt động lập pháp. Bên cạnh đó, cũng cần khẳng định rõ trách nhiệm của Quốc hội trong lập pháp. Cần có cơ chế kiểm soát chất lượng sản phẩm lập pháp, nâng cao trách nhiệm của Quốc hội trong lập pháp. Đồng thời cần hạn chế tối đa việc “ủy quyền lập pháp” từ Quốc hội sang các chủ thể khác, bảo đảm mọi sản phẩm lập pháp đều được xem xét một cách cẩn trọng, thể hiện chính xác ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, đáp ứng mục tiêu đã được Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” đề ra là xây dựng “Hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận, mở đường cho đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán”.Theo: Đinh Thị Cẩm Hà Link luận án: https://docs.google.com/document/d/1CDbXbkodafex35-W9NtGPGygMw3emgDn/edit
Đặng Quỳnh
245 ngày trước
Bài viết
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM
3.1. Thực trạng quy định pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam3.1.1. Thực trạng quy định pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam thời kỳ trước khi có Hiến pháp năm 2013Quốc hội khóa 1 của Việt Nam được thành lập dựa trên kết quả của cuộc Tổng tuyển cử ngày 06 tháng 01 năm 1946. Theo Sắc lệnh của Chủ tịch chính phủ lâm thời số 14 ngày 8 tháng 9 năm 1945 thì “Quốc dân đại hội sẽ có toàn quyền ấn định hiến pháp cho nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”. Quy định này đã trao cho Quốc hội khóa 1 thẩm quyền ban hành Hiến pháp và Quốc hội khóa 1 đã thực hiện thẩm quyền này ban hành bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam - Hiến pháp năm 1946 .Sau khi Hiến pháp năm 1946 được thông qua, thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam được thực hiện dựa theo quy định về “Nghị viện nhân dân” tại chương 3 Hiến pháp năm 1946. Trong giai đoạn từ 1946 đến 1959, chưa có luật tổ chức Quốc hội, nội dung và thủ tục thực hiện thẩm quyền của Quốc hội chủ yếu được xác định theo Hiến pháp năm 1946 ở các Điều 21, Điều 28 đến. Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 32, Điều 45, Điều 46, Điều 47. Theo đó, Quốc hội có thẩm quyền: “giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài” 177. Hình thức hoạt động của Quốc hội là theo kỳ họp và thông qua hoạt động của Ban thường vụ. Các vấn đề liên quan đến kỳ họp Quốc hội được Hiến pháp năm 1946 quy định khá cụ thể như: số lượng, thời gian tổ chức kỳ họp thường lệ, vấn đề triệu tập kỳ họp bất thường, chế độ thông tin về kỳ họp, nguyên tắc chung về biểu quyết, vấn đề thông qua các vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Hiến pháp năm 1946 cũng quy định khá cụ thể về các vấn đề phải được Nhân dân phúc quyết178. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 1946, Quốc hội khóa 1 đã 16 luật và Hiến pháp năm 1959.Hiến pháp năm 1959 đã đổi tên “Nghị viện nhân dân” thành tên “Quốc hội”. Thẩm quyền của Quốc hội được quy định tại chương 4 Hiến pháp năm 1959. Trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1980, ngoài ra quy định của Hiến pháp năm 1959 thẩm quyền của Quốc hội còn được quy định trong Luật tổ chức Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 7 năm 1960. Luật này gồm 4 chương, quy định về Hội nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, các Uỷ ban của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội. So với giai đoạn trước, nội dung thẩm quyền của Quốc hội được quy định chi tiết hơn, phạm vi thẩm quyền của Quốc hội được mở rộng hơn. Quy định về hình thức đảm bảo hiệu quả thực hiện thẩm quyền của Quốc hội được bổ sung đầy đủ hơn, ngoài kỳ họp, cơ quan thường trực còn có quy định về các ủy ban và đại biểu Quốc hội.Quy định pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội tiếp tục hoàn thiện trong giai đoạn thực hiện Hiến pháp năm 1980. Các quy định về thẩm quyền của Quốc hội tại chương 6 Hiến pháp năm 1980 được cụ thể hóa trong Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981. So với Luật tổ chức Quốc hội năm 1960, Luật này đã sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung có ý nghĩa đảm bảo hiệu quả thực hiện thẩm quyền của Quốc hội. Ngoài ra, để tăng cường thêm hiệu quả hoạt động của cơ cấu giúp việc cho Quốc hội, Hội đồng nhà nước cũng ban hành Nghị quyết số 01-NQ/HĐNN7 ngày 06 tháng 7 năm 1981 về việc tổ chức, nhiệm vụ của Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nước. Quốc hội cũng thông qua các Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân tộc, Quy chế tổ chức và hoạt động của các Uỷ ban Thường trực của Quốc hội được Quốc hội khoá VIII kỳ họp thứ tám thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990.Hiến pháp năm 1992 được ban hành thay thế cho Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu mới của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Đảng cộng sản Việt Nam đề xướng từ Đại hội lần thứ VI. So với Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đã quy định nhiều nội dung mới mang tính đột phát về chế độ kinh tế, chuyển nền kinh tế Việt Nam từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường (từ năm 2001 theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”). Những thay đổi về chế độ kinh tế tất yếu dẫn tới nhu cầu cần hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội. So với Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 bỏ quy định cho phép Quốc hội được tự mình đặt ra những nhiệm vụ, quyền hạn khác ngoài phạm vi quy định của Hiến pháp. Nội dung thẩm quyền cũng như các vấn đề liên quan đến quy trình, thủ tục, biện pháp đảm bảo cho việc thực hiện thẩm quyền của Quốc hội đã quy định rõ ràng, đầy đủ, minh bạch hơn. Hệ thống quy định pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội thường xuyên được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện trong giai đoạn thực hiện Hiến pháp năm 1992. Cụ thể là, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức Quốc hội năm 1992 để thay thế cho Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981. Ngoài Luật tổ chức Quốc hội, còn có nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thẩm quyền của của Quốc hội đã được sửa đổi, ban hành mới thay thế các văn bản trước như: Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, Quy chế hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ ba, ngày 7 tháng 7 năm 1993. Vào năm 2001, sau khi sửa đổi Hiến pháp năm 1992 theo Nghị quyết số 51/2001/QH10, Quốc hội tiếp tục ban hành Luật tổ chức Quốc hội năm 2001 (sửa đổi hai lần vào các năm 2001 và năm 2007) thay thế cho Luật tổ chức Quốc hội năm 1992, ban hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 thay cho Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và ban hành Nghị quyết số 07/2002/NQ-QH11 về việc ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội. Lần đầu tiên, các vấn đề về tổ chức kỳ học Quốc hội được quy định đầy đủ trong một văn bản riêng, việc ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội năm 2002 đã tăng cường một bước tính chuyên nghiệp, bài bản trong thực thi thẩm quyền của Quốc hội. Quốc hội cũng đã áp dụng kỹ thuật một luật sửa nhiều luật tiết kiệm thời gian, đơn giản thủ tục trong sửa đổi luật, như ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Nhờ đó, việc thực thi thẩm quyền của Quốc hội trong giai đoạn thực hiện Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, hỗ trợ tích cực cho công cuộc đổi mới, hội nhập toàn diện của đất nước. Cụ thể là trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa IX (1992-1997) có 39 luật và bộ luật, 41 pháp lệnh được ban hành; trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa X (1997-2002) có 31 luật, 67 pháp lệnh; trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI (2002-2007) có 84 luật và bộ luật, 34 pháp lệnh, phê chuẩn 3 hiệp định, hiệp ước Quốc tế; trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI (2007-2011) có 67 luật, 14 pháp lệnh và nhiều nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật được ban hành179. Tổng số luật, pháp lệnh được ban hành trong giai đoạn thực hiện Hiến pháp năm 1992 nhiều gấp hơn 3 lần (luật nhiều gấp 3,4 lần; pháp lệnh nhiều gấp 2,05 lần) so với tất cả luật, pháp lệnh được ban hành trong giai đoạn khác.Nhìn chung, quy định pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội ngày càng được hoàn thiện theo thời gian. Những đổi mới trong quy định pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội gắn liền với những lần sửa đổi Hiến pháp, có ý nghĩa đảm bảo những yêu cầu mới về xây dựng, phát triển đất nước được các Hiến pháp đề ra trong từng giai đoạn cụ thể. 3.1.2.   Thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của Quốc hội3.1.2.1. Về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thẩm quyền của Quốc hộiHiện nay, thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam được xác định dựa trên quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013. Đây là luật cơ bản của nhà nước, được Quốc hội khóa XIII thông qua vào ngày 28 tháng 11 năm 2013 và được Chủ tịch nước ký lệnh số 18/2013/L-CTN ngày 08 tháng 12 năm 2013 công bố, chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2014. Hiến pháp năm 2013 gồm có Lời nói đầu, 11 chương, 120 điều. Trong đó, chương V (từ Điều 69 đến Điều 85) là chương quy định về Quốc hội. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất cho thẩm quyền của Quốc hội. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, Quốc hội đã ban hành một loạt văn bản Luật quy định cụ thể về các vấn đề liên quan đến xác định nội dung và phương thức thực hiện thẩm quyền của Quốc hội gồm:- Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi bổ sung năm 2020): Được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 20/11/2014, tại Kỳ họp thứ 8, được Chủ tịch nước ký Lệnh số 15/2014/L-CTN ngày 04/12/2014 công bố và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016. Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 gồm 7 chương, 102 điều. Đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhất cụ thể hóa thẩm quyền của Quốc hội được quy định trong Hiến pháp năm 2013.- Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015: Luật này được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 20/11/2015, Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 04/12/2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016. Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 gồm có 5 chương, 94 điều. Thẩm quyền của Quốc hội trong giám sát tối cao được cụ thể hóa trong các quy định tại Chương I, II, IV của luật này.- Luật trưng cầu ý dân năm 2015: được Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015, Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày 08/12/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016. Luật này gồm 8 chương, 52 Điều trong đó các Chương I, II, III cụ thể hóa quyền quyết định việc trưng cầu ý dân của Quốc hội.- Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2020): gồm 17 chương, 173 điều. Luật này quy định cụ thể quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thể hiện nội dung các quyết định của Quốc hội về những vấn đề cụ thể phát sinh thuộc thẩm quyền của Quốc hội.- Nghị quyết số 102/2015/QH13 ban hành Nội quy kỳ họp Quốc hội (đã được thay thế bằng Nghị quyết 71/2022/QH15 về Nội quy kỳ họp Quốc hội) quy định cụ thể về trình tự xem xét, quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội tại kỳ họp.Các vấn đề liên quan đến thẩm quyền của Quốc hội còn được quy định trong một số điều khoản của nhiều văn bản luật khác như:-   Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (Điều 4, Điều 12, Điều 89, Điều 90);-   Luật đầu tư công năm 2019 (Điều 6, Điều 7, Điều 17, Điều 78);-   Luật ngân sách nhà nước năm 2015 (từ Điều 19);-   Luật quản lý nợ công năm 2017 (Điều 10, Điều 11);-   Luật điều ước quốc tế 2016 (Điều 29; Điều 43);-   Luật đất đai năm 2013 sửa đổi bổ sung năm 2018 (Điều 21);-   Luật ngân hàng nhà nước năm 2010 (Điều 3, Điều 8);-   Luật kiểm toán năm 2015 (Điều 10, Điều 63);-   Luật quốc phòng năm 2018 (Điều 17)...Ngoài các văn bản do Quốc hội ban hành, còn có một số văn bản của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về các vấn đề có ý nghĩa đảm bảo hiệu quả thực thi thẩm quyền của Quốc hội như:- Nghị quyết 334/2017/UBTVQH14 về Quy chế tổ chức thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và Đại biểu Quốc hội;- Nghị quyết 560/NQ-UBTVQH15 năm 2022 hướng dẫn việc tổ chức thực hiện hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội;-   Nghị quyết 927/NQ-UBTVQH14 năm 2020 về kiện toàn Ban Thư ký Quốc hội;-   Nghị quyết 283/2021/NQ-UBTVQH15 về Quy chế làm việc mẫu của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.Nhìn chung, so với các giai đoạn trước đây, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội đã có sự hoàn thiện cơ bản cả về số lượng và nội dung. Số lượng các văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thẩm quyền của Quốc hội có xu hướng tăng bao quá khá toàn diện các vấn đề liên quan đến thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam, bao gồm: Nội dung thẩm quyền của Quốc hội; Phương thức thực hiện thẩm quyền của Quốc hội; Quy trình thủ tục thực hiện thẩm quyền của Quốc hội; Hình thức văn bản Quốc hội ban hành để thực hiện thẩm quyền của Quốc hội.Để đảm bảo sự phù hợp giữa quy định pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội với địa vị pháp lý của Quốc hội trong bộ máy nhà nước, hiện nay, hầu hết các vấn đề quan trọng liên quan đến thẩm quyền của Quốc hội từ nội dung đến phương thức thực hiện đều được quy định bởi các văn bản do chính Quốc hội ban hành là Hiến pháp, luật hoặc nghị quyết của Quốc hội.Đặc biệt là, ngoài những văn bản quy định trực tiếp liên quan đến các khía cạnh của thẩm quyền của Quốc hội, còn có văn bản có nội dung chỉ đạo đổi mới và bảo đảm các điều kiện nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền của Quốc hội như: Nghị quyết số 27/2012/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2012 về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội để triển khai thực hiện một số cải tiến, đổi mới trong các hoạt động lập pháp; Hoạt động giám sát; Quyết định các vấn đề quan trọng; Tổ chức kỳ họp Quốc hội; Tổ chức phiên họp UBTVQH; Hoạt động tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội; Công tác bảo đảm phục vụ hoạt động của Quốc hội; Nghị quyết số 15/2022/UBTVQH15 ngày 16 tháng 02 năm 2022 của UBTVQH quy định việc sử dụng chuyên gia của Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, các cơ quan thuộc UBTVQH, Văn phòng Quốc hội.Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về thẩm quyền của Quốc hội cho thấy đã có sự phân định rõ hơn về những nội dung được quy định trong Hiến pháp và nội dung được quy định trong luật. Cụ thể là, Hiến pháp năm 2013 đã bỏ quy định quyền “quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh”, vấn đề này hiện nay được quy định bởi Luật tổ chức chức Quốc hội. Điều này phù hợp với yêu cầu trong phân chia lĩnh vực điều chỉnh giữa Hiến pháp và luật được đề ra từ Quốc hội khóa XIII là “những vấn đề về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước được quy định rõ trong Hiến pháp, còn quy trình, thủ tục, cách thức tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ cần đề luật điều chỉnh”180. Ngược lại, quyền “Bỏ phiếu tín nhiệm” hiện nay đã được đưa vào quy định tại Điều 70 Hiến pháp như là một nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. Trước đây, bỏ phiếu tín nhiệm được quy định trong Luật tổ chức Quốc hội với ý nghĩa như là một thủ tục nằm trong hoạt động giám sát của Quốc hội. Sự điều chỉnh này đã thể hiện rõ đúng tính chất và tầm quan trọng của quyền bỏ phiếu tín nhiệm.Những kết quả trong hoạt động xây dựng hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Quốc hội có ý nghĩa quan trọng đảm bảo cho Quốc hội có thể thực hiện thẩm quyền của mình một cách hiệu quả trên thực tế. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thẩm quyền của Quốc hội vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục. Cụ thể là:Thứ nhất, vẫn còn một số văn bản quy định về việc thực hiện thẩm quyền của Quốc hội vẫn chưa phù hợp về hình thức. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trong bộ máy nhà nước nên về nguyên tắc, văn bản pháp lý để quy định về thẩm quyền của Quốc hội phải là Hiến pháp, luật và những nghị quyết của Quốc hội. Tuy vậy, hiện nay vẫn tồn tại một số Nghị quyết của UBTVQH có nội dung quy định về việc thực hiện thẩm quyền của Quốc hội như Nghị quyết số 334/2017/UBTVQH14 ngày 11 tháng 01 năm 2017 ban hành Quy chế tổ chức thực hiện một số hoạt động giám sát của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; Nghị quyết số: 351/2017/UBTVQH14 ngày 14 tháng 3 năm 2017 quy định thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch nước; Nghị quyết số: 1000/2020/UBTVQH14 ngày 16 tháng 9 năm 2020 quy định về Bộ máy giúp việc của Hội đồng bầu cử quốc gia.Theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, UBTVQH ban hành nghị quyết để:-   Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;- Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội;- Bãi bỏ pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH; Trường hợp bãi bỏ pháp lệnh thì UBTVQH có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất;- Tổng động viên hoặc động viên cục bộ; Ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;-   Hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân;-   Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của UBTVQH.Như vậy, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 không đề cập đến việc UBTVQH ban hành nghị quyết để quyết định về những việc thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Các vấn đề được đề cập đến trong Nghị quyết số 334/2017/UBTVQH14, Nghị quyết số: 351/2017/UBTVQH14 và Nghị quyết số: 1000/2020/UBTVQH14 là thuộc thẩm quyền của Quốc hội nên cần được quy định bằng một nghị quyết của Quốc hội thì sẽ phù hợp hơn.Thứ hai, còn thiếu văn bản luật quy định cụ thể về một số quyền hạn hiến định của Quốc hội như về quyết định đại xá, quyết định chính sách dân tộc. Điều này đã làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các thẩm quyền này của Quốc hội trên thực tế.Thẩm quyền của Quốc hội về quyết định “Đại xá” được chính thức quy định từ Hiến pháp năm 1959. Hiện nay, thẩm quyền này được quy định tại khoản 11 Điều 70 Hiến pháp năm 2013. Tuy vậy, từ trước đến nay, chưa được văn bản quy phạm pháp luật nào của Quốc hội quy định cụ thể về nội hàm, bản chất, thủ tục đại xá. Điều này gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện quyền hạn này của Quốc hội trên thực tế.Quyết định về chính sách dân tộc cũng thuộc thẩm quyền của Quốc hội, tuy vậy chưa có văn bản nào của Quốc hội quy định cụ thể về phạm vi quyết định về chính sách dân tộc của Quốc hội. Các vấn đề dân tộc thường được lồng ghép trong các Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và một số Nghị quyết cụ thể của Quốc hội.Thứ ba, còn có văn bản chưa được sửa đổi để cập nhật những nội dung mới về thẩm quyền của Quốc hội trong Hiến pháp năm 2013, như trường hợp của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Quốc hội “quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội”. Đây là những nội dung vốn nằm trong nội dung “kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” mà Quốc hội vẫn quyết định từ trước khi Hiến pháp năm 2013 có sửa đổi về quyền này. Luật Ngân hàng nhà nước năm 2010 hiện nay vẫn còn hiệu lực thực chất là diễn giải thẩm quyền “quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia” của Quốc hội được quy định trong Hiến pháp 1992 mà không phải là diễn giải thẩm quyền “quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia”. Nếu không có một diễn giải cụ thể hơn thì sự khác biệt giữa “mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội” theo khoản 3 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 và “kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” theo khoản 3 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 dường như chỉ khác về kỹ thuật lập hiến mà không thay đổi nội hàm của quyền này.Theo: Đinh Thị Cẩm HàLink luận án: https://docs.google.com/document/d/1CDbXbkodafex35-W9NtGPGygMw3emgDn/edit
Đặng Quỳnh
245 ngày trước
Bài viết
CƠ SỞ XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM
 2.1. Cơ sở xác định thẩm quyền của Quốc hội Việt NamQuy định về thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam cũng như vấn đề tổ chức thực hiện thẩm quyền của Quốc hội trên thực tế chịu sự tác động của một số yếu tố cơ bản sau:2.1.1.   Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhân dân trong chế độ XHCNTheo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, nhà nước XHCN được coi là kiểu nhà nước mới xuất hiện trong quá trình giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác tiến hành cách mạng XHCN chống lại giai cấp địa chủ phong kiến, tư sản bóc lột. Trong chế độ XHCN, giai cấp công nhân và Nhân dân lao động là chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước. Đặc điểm chung về tổ chức quyền lực trong chế độ XHCN là tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc quyền lực là thống nhất không phân chia, quyền lực được tập trung cho cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân mà không đặt ra ranh giới rõ ràng giữa các nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây cũng được coi là điểm phân biệt cơ bản trong tổ chức quyền lực giữa chế độ XHCN và chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong luận giải của Lênin, các Xô viết (cơ quan đại diện nhân dân), đứng đầu là Xô viết tối cao “không chỉ thảo luận và thông qua các đạo luật, các quyết định mà còn phải thực hiện các đạo luật và các quyết định đó”165, “các cơ quan hành pháp đều do các Xô viết lập ra và hoàn toàn phải báo cáo trước các Xô viết”.166 Để phản ánh được một cách chính xác và nhanh chóng nhất ý chí của Nhân dân, các đại biểu không hoạt động theo chế độ chuyên trách mà ngay khi đang làm đại biểu thì họ vẫn không rời khỏi vị trí thuộc các lĩnh vực xã hội khác nhau của mình. Theo dự đoán của Lênin, “sự phát triển sau này của các tổ chức nhà nước Xô viết phải tiến tới chỗ mỗi ủy viên của Xô viết ngoài việc tham gia các phiên họp của Xô viết, còn bắt buộc phải đảm nhiệm một công tác thường xuyên về mặt quản lý nhà nước”.167 Trong quan niệm từ trước tới nay về tổ chức nhà nước XHCN thì cơ quan đại diện nhân dân đóng vai trò là cơ quan quyền lực, tập trung mọi quyền lực nhân dân. Sự phân biệt rạch ròi giữa cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp hay cơ quan tư pháp không được đặt ra. Nhà nước XHCN không đặt vấn đề giới hạn đối với cơ quan quyền lực, thậm chí còn trao cho cơ quan đại diện cao nhất của Nhân dân kiểm soát toàn bộ việc thực hiện quyền lực nhà nước thông qua giám sát tối cao.Xây dựng chế độ XHCN đã sớm được khẳng định trong Hiến pháp Việt Nam từ Hiến pháp năm 1959. Từ Hiến pháp năm 1980 đến nay, chế độ XHCN đã được gắn liền với tên nước – Cộng hòa XHCN Việt Nam. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 hiện hành, nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vê ̣và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Chính việc lựa chọn xây dựng chế độ XHCN ở Việt Nam đã đặt ra những đòi hỏi mang tính nguyên tắc về việc tăng cường thẩm quyền cho Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân. Quốc hội là cơ quan duy nhất được Nhân dân cả nước bầu cử trực tiếp, vì vậy, Quốc hội là cơ quan có tư cách chính danh nhất để thay mặt Nhân dân quyết định về lập hiến, lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước.2.1.2. Hình thức cấu trúc lãnh thổ của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt NamNhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam không theo chế độ liên bang mà có hìnhthức đơn nhất. Chính vì vậy, ở Việt Nam, mặc dù thành lập các cơ quan đại biểu ở địa phương nhưng không tồn tại các cơ quan lập pháp địa phương. Trong bộ máy nhà nước, chỉ có Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, lập pháp mà không có sự chia sẻ phạm vi lập pháp giữa Quốc hội với cơ quan đại diện ở địa phương. Quốc hội đại diện cho Nhân dân cả nước ban hành ra Hiến pháp và các đạo luật áp dụng chung, thống nhất trên phạm vi cả nước.Bên cạnh đó, ngay từ đầu Quốc hội Việt Nam đã được tổ chức theo mô hình một viện mà không được chia thành hai viện vốn khá phổ biến ở các Nghị viện nhiều nước hiện nay. Việc lựa chọn mô hình một viện một mặt phù hợp với hình thức nhà nước đơn nhất, nhưng quan trọng hơn nữa là xuất phát từ quan niệm về vai trò của Quốc hội Việt Nam gắn với lịch sử hình thành và phát triển. Có thể thấy, sự ra đời của Quốc hội Việt Nam gắn liền với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đưa đất nước Việt Nam khỏi ách đô hộ áp bức của chế độ thực dân, phong kiến. Trong ý thức của đông đảo người dân Việt Nam kể từ khi cách mạng Tháng Tám thành công đến nay, Quốc hội Việt Nam ngay từ đầu và vẫn luôn được coi là nơi thể hiện tập trung quyền lực nhân dân và cũng là biểu tượng cao nhất cho khối đoàn kết của cả dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng một quốc gia độc lập, dân chủ. Truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam được chuyển vào hình ảnh của Quốc hội. Sức mạnh của quyền lực nhân dân được thể hiện trực tiếp qua thẩm quyền của Quốc hội. Quốc hội mạnh nghĩa là dân mạnh. Ngay trong Sắc lệnh số 14-SL ngày 8-9-1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà ban hành về cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội đã ghi rõ:“Xét rằng Nhân dân Việt Nam do Quốc dân đại hội thay mặt là quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một Hiến pháp dân chủ Cộng hoà;Xét rằng trong tình thế hiện giờ sự triệu tập quốc dân đại hội không những có thể thực hiện được mà lại rất cần thiết để cho toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập và chống lại nạn ngoại xâm...".PGS.TS Nguyễn Đăng Dung đã nhận định: “Mô hình tổ chức của Quốc hội gắn liền với lịch sử lựa chọn mô hình, hình thành và phát triển của nhà nước dân chủ, theo yêu cầu phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân, tất cả quyền lực thuộc về Nhân dân và bảo đảm để Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước của mình”.168Nhìn chung, Quốc hội được coi là cơ quan đại diện cho tiếng nói, lợi ích thống nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam, không có sự mâu thuẫn, đối lập đến mức không cần phải chia Quốc hội thành hai Viện để kìm chế lẫn nhau trong nội bộ của Quốc hội. Việc tập trung quyền lực của Quốc hội được coi là nhu cầu cần thiết, vấn đề được quan tâm nhiều trong đổi mới Quốc hội ở Việt Nam trong một thời gian dài chủ yếu là làm sao để Quốc hội mạnh hơn, kiểm soát các cơ quan nhà nước khác tốt hơn mà ít để ý đến việc phải kìm chế, kiểm soát Quốc hội như thế nào. Chính điều này giải thích tại sao các Hiến pháp Việt Nam chủ yếu quan tâm đến việc quy định thẩm quyền cho Quốc hội đảm bảo tính khả thi cao nhất mà chưa chú trọng đến xây dựng một cơ chế kiểm soát việc thực thi thẩm quyền của Quốc hội.2.1.3.   Vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với Nhà nướcSự tác động của Đảng cầm quyền thể hiện rất rõ trong quá trình Quốc hội thực thi thẩm quyền của mình. Ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở lý thuyết về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và thực tiễn cách mạng Việt Nam thì việc Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cẩm quyền là vấn đề nguyên tắc, đã được khẳng định xuyên suốt tại Điều 4 các Hiến pháp Việt Nam từ Hiến pháp năm 1980 đến nay là Hiến pháp năm 2013.Để thực hiện mục tiêu chính trị của mình, Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện quá trình tổ chức thực thi quyền lực nhà nước thông qua khả năng định hướng về tổ chức bộ máy nhà nước, lựa chọn người giữ các vị trí đưa ra các quyết định quan trọng nhất của nhà nước và kiểm tra toàn bộ quá trình tổ chức thực thi quyền lực nhà nước.Với uy tín chính trị cao về năng lực hoạch định đường lối chính sách và quy trình lựa chọn, bồi dưỡng cán bộ đảng viên rất chặt chẽ cùng tính kỷ luật tuyệt đối trong nội bộ tổ chức Đảng, các chủ trương đường lối của Đảng về tổ chức thực thi quyền lực nhà nước đều được hiện thực hóa trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.Khoản 1, Điều 4, Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Như vậy, tầm ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quốc hội là một điều tất yếu, đáp ứng yêu cầu hiến định chứ không phải chỉ là theo thực tế vận hành của hệ thống chính trị nói chung.Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tác động tới thẩm quyền của Quốc hội trên nhiều phương diện, và dưới nhiều hình thức phù hợp với nội dung và phương pháp lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.Trước hết Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra chính sách và quan điểm chung về tổ chức và hoạt động của Nhà nước và những quan điểm cụ thể về hoạt động của Quốc hội. Có thể khẳng định, trong giai đoạn hiện nay thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam đang được xác định trên cơ sở thực hiện đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam được nêu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (hoàn thiện bổ sung năm 2011) thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hoá bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”169 và “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN”170, “Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”171. Những nội dung này đã được chuyển hóa vào các quy định của Hiến pháp năm 2013 tạo nên nền tảng pháp lý cho thẩm quyền của Quốc hội.Đảng còn tác động một cách thường xuyên, trực tiếp tới quá trình thực thi thẩm quyền của Quốc hội thông qua cơ chế phối hợp của các thiết chế trong hệ thống chính trị và thông qua Đảng đoàn Quốc hội. Đối với việc thực hiện các quyền hạn quan trọng của Quốc hội như sửa đổi Hiến pháp, Đảng sẽ ra những văn bản chỉ đạo trực tiếp cho từng công đoạn. Chẳng hạn trong lần sửa đổi Hiến pháp năm 1992 gần đây, Ban chấp hành trung ương Đảng đã ban hành một loạt văn bản chỉ đạo như: Chỉ thị số 22- CT/TW của Bộ chính trị ngày 28 tháng 12 năm 2012 về việc tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trong đó có nêu rõ trách nhiệm của “Đảng đoàn Quốc hội phối hợp với Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở Báo cáo kết quả đóng góp ý kiến của Nhân dân, của các ngành, các cấp do các địa phương, cơ quan, tổ chức gửi đến, xây dựng Báo cáo tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến đóng góp của Nhân dân để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình Quốc hội xem xét, quyết định”. Hay trong đợt bầu cử Quốc hội khóa XV, Ban chấp hành trung ương Đảng cũng ban hành cũng ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 20 tháng 6 năm 2020 của Bộ chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026, trong đó cũng yêu cầu “Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban đảng ở Trung ương, Hội đồng Bầu cử quốc gia, cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp có kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện Chỉ thị này; chủ động phối hợp chặt chẽ trong quá trình chỉ đạo, tổ chức bầu cử, bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp thành công tốt đẹp”.Theo: Đinh Thị Cẩm HàLink luận án: https://docs.google.com/document/d/1CDbXbkodafex35-W9NtGPGygMw3emgDn/edit
Đặng Quỳnh
245 ngày trước
Bài viết
KHÁI QUÁT VỀ THẨM QUYỀN CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM
 2.1. Đặc điểm, nội dung thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam2.1.1.   Đặc điểm thẩm quyền của Quốc hội Việt NamHiện nay, vị trí, tính chất pháp lý của Quốc hội Việt Nam được quy định tại Điều 69 Hiến pháp năm 2013 là: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”. Từ đó, có thể định nghĩa thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam như sau:Thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam là tổng thể nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội trong quyết định các vấn đề về lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước mà Nhân dân thông qua bản Hiến pháp của mình giao cho Quốc hội với tính chất là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được thực hiện theo phương thức riêng và được phân định tương đối rõ ràng với các cơ quan nhà nước khác trên cơ sở quy định của Hiến pháp và luật.Thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam có các đặc điểm được xác định dựa trên ba khía cạnh:Thứ nhất, Quốc hội là một cơ quan nhà nước, do đó, thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam có các đặc điểm của thẩm quyền của cơ quan nhà nước nói chung.Thứ hai, Quốc hội là cơ quan đại diện toàn quốc, do vậy, thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam cũng có những đặc điểm của thẩm quyền các cơ quan đại diện ở các nước.Thứ ba, trong bộ máy Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam, Quốc hội không thuần túy là cơ quan lập pháp mà là được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nên thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam có điểm đặc thù so với cơ quan lập pháp ở một số nước hiện nay.Nhìn tổng thể, thẩm quyền của Quốc hội Việt Nam hiện nay những đặc điểm chung của cơ quan nhà nước, thời cũng có những đặc điểm đặc thù xuất phát từ vị trí, tính chất pháp lý của Quốc hội trong bộ máy nhà nước, cụ thể như sau:(1) Thẩm quyền của Quốc hội được quy định bởi Hiến pháp và pháp luật.Điều 8 Hiến pháp Việt Nam hiện hành: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật”. Do đó, để xác định một việc nào đó là thuộc thẩm quyền của Quốc hội cần phải dựa trên những quy định của Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật mà không thể suy diễn hay suy đoán. Hiến pháp, luật cơ bản của nhà nước sẽ quy định phạm vi thẩm quyền cho Quốc hội có ý nghĩa làm nền tảng cho các văn bản pháp luật khác quy định các việc Quốc hội được thực hiện trong từng khâu cụ thể của quy trình thực hiện các nội dung thẩm quyền của Quốc hội. Về nguyên tắc, các quyền hạn cụ thể của Quốc hội được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác không được mở rộng cũng không được thu hẹp phạm vi thẩm quyền đã được Hiến pháp quy định.(2) Thẩm quyền của Quốc hội mang tính cụ thể, riêng biệt và là cơ sở để xác định trách nhiệm của Quốc hội.Thẩm quyền của Quốc hội được thể hiện thông qua các quyền hạn được mô tả rõ từ nội dung đến cách thức thực hiện cũng như hình thức biểu hiện quyết định (kết quả thực hiện thẩm quyền). Thẩm quyền của Quốc hội cũng mang tính đặc thù, riêng biệt do được xác định theo địa vị pháp lý của Quốc hội trong bộ máy nhà nước mà không bị lẫn sang các loại cơ quan khác. Tức là, khi Quốc hội thực hiện thẩm quyền của mình, Quốc hội sẽ thể hiện được rõ “là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Thẩm quyền của Quốc hội tạo cho Quốc hội một phạm vi không gian hoạt động với loại việc, đối tượng, phương thức riêng. Chẳng hạn trong bộ máy nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, cả Quốc hội và Chủ tịch nước cùng có quyền tác động tới Chính phủ nhưng thẩm quyền cụ thể như bầu Thủ tướng Chính phủ, giám sát Chính phủ bằng việc xem xét và ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn của các thành viên Chính phủ đó chính là đặc thù, chỉ Quốc hội mới thực hiện được, quyền này đến từ vị trí ưu thế của Quốc hội so với Chính phủ trong bộ máy nhà nước. Chủ tịch nước cũng tác động tới Chính phủ nhưng với các quyền cụ thể và biểu hiện khác đặc thù xuất phát từ vai trò, vị trí pháp lý riêng của Chủ tịch nước trong bộ máy nhà nước. Về nguyên tắc những việc đã được Hiến pháp và pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Quốc hội thì các cơ quan nhà nước khác sẽ không được thực hiện.Khác với “quyền” của các cá nhân, tổ chức. Thẩm quyền của Quốc hội không tạo cho Quốc hội khả năng tùy ý chọn thực hiện hay không thực hiện quyền hạn nào đó. Mặc dù Quốc hội có thể tự chủ trong thực hiện thẩm quyền của mình nhưng Quốc hội cũng đồng thời bị bó buộc bởi thẩm quyền của mình. Quốc hội chỉ được thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn Hiến pháp và pháp luật quy định cho mình và phải chịu trách nhiệm khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quyền hạn đó.(3) Thẩm quyền của Quốc hội có nội dung được xác định dựa trên chủ quyền Nhân dânCác tác phẩm kinh điển về lý thuyết chủ quyền nhân dân, dân chủ đại diện trên thế giới đều khẳng định thẩm quyền của Quốc hội có nguồn gốc từ sự ủy quyền của Nhân dân. Trong cuốn “Tinh thần pháp luật”, Montesquieu đã viết: “Trong một nước tự do, mọi người đều được xem như có linh hồn tự do, thì họ phải được tự quản; như vậy tập đoàn dân chúng phải có quyền lập pháp. Nhưng trong một nước lớn thì không thể mỗi công dân đều làm việc lập pháp. Trong một nước nhỏ, việc này cũng rất khó khăn; cho nên dân chúng thực hiện quyền lập pháp bằng cách giao cho các đại biểu của mình làm mọi việc mà cá nhân công dân không thể tự mình làm lấy được”.150 John Locke – tác giả cuốn “Khảo luận thứ hai về chính quyền chính quyền dân sự” cũng khẳng định Nhân dân trao quyền cho lập pháp là vì lợi ích chung của toàn xã hội, vì sự bảo tồn cuộc sống và tài sản của họ, vậy nên, lập pháp không có mục đích nào khác ngoài sự bảo tồn những người dưới quyền. “Các đạo luật của lập pháp phải được thiết lập hoàn toàn không vì một mục đích nào khác ngoài vì lợi ích của Nhân dân”151. Đồng thời, lập pháp “không được, mà cũng không thể chuyển giao quyền lực làm luật vào cho bất kỳ cơ quan nào khác hoặc đặt nó vào một nơi nào khác ngoài nơi mà Nhân dân đã đặt”152 bởi vì nó tồn tại như một quyền lực đại diện cho Nhân dân nên những người có nó không thể chuyển sang cho những người khác. Giáo trình Luật hiến pháp Việt Nam của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh có đoạn nêu “Ở Việt Nam, Quốc hội là cơ quan đại diện cho Nhân dân cả nước, do Nhân dân trực tiếp bầu ra, được Nhân dân ủy quyền thực hiện quyền lực nhà nước, có nhiệm vụ phản ánh ý chí và nguyện vọng của Nhân dân và chịu trách nhiệm trước Nhân dân”.Theo nguyên tắc của việc ủy quyền thì Quốc hội (cơ quan nhận quyền) sẽ chỉ được thực hiện những quyền Nhân dân trao (Nhân dân có quyền đó để trao, và Nhân dân đồng ý trao quyền cho Quốc hội). Do đó, nội dung thẩm quyền của Quốc hội phải là những quyền vốn đã được thừa nhận là của Nhân dân, việc xác định thẩm quyền của Quốc hội không thể tùy tiện mà phải dựa vào chủ quyền nhân dân. Ngoài ra, thẩm quyền của Quốc hội không thể bao trùm lên toàn bộ quyền lực của Nhân dân và không thể làm vô hiệu hóa quyền lực của Nhân dân.(4) Thẩm quyền của Quốc hội được thực hiện vì lợi ích chung của Nhân dân và đặt dưới sự giám sát trực tiếp của Nhân dân.Quốc hội không phải là do một cá nhân, tổ chức nào lập nên mà là cơ quan được bầu cử trực tiếp bởi cử tri cả nước. Do vậy, khi thực hiện thẩm quyền của mình, Quốc hội phải lấy lợi ích chung của toàn thể Nhân dân, cũng có nghĩa là lợi ích của quốc gia, dân tộc làm cơ sở quyết định hàng đầu. Đây cũng là nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Một trong những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả thực hiện thẩm quyền của Quốc hội chính là những quyết định của Quốc hội đưa ra có đem lại lợi ích gì cho dân, cho nước hay không. Là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, nhận quyền lực từ Nhân dân qua thủ tục bầu cử, Quốc hội chỉ chịu sự giám sát của Nhân dân và phải chịu trách nhiệm trước Nhân dân trong quá trình thực hiện thẩm quyền của mình.Thông thường, việc thực thi thẩm quyền của các cơ quan nhà nước luôn phải đặt dưới sự giám sát mang tính nhà nước. Ở nhiều các nước, hoạt động của cơ quan lập pháp bị kiểm soát thông qua cơ chế bảo hiến. Tuy vậy, mô hình bảo hiến ở Việt Nam hiện nay là mô hình không chuyên trách, trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp được giao cho nhiều chủ thể khác nhau, trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có quyền giám sát tối cao đối với mọi hoạt động của Nhà nước. Có thể thấy, trong bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay, chưa có một cơ chế kiểm soát mang tính nhà nước nào đủ mạnh để có thể kiểm soát Quốc hội. Trong thời gian tới, ngoài việc phát huy hiệu quả giám sát của Nhân dân đối với thực thi thẩm quyền của Quốc hội, trong tương lai vẫn cần xây dựng cơ chế bảo hiến chuyên trách để giám sát việc thực hiện thẩm quyền của Quốc hội đã được Nhân dân giao cho.2.1.2.   Nội dung thẩm quyền của Quốc hội Việt NamTheo quy định tại các Điều 69, Điều 70 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, các vấn đề thuộc phạm vi thẩm quyền của Quốc hội được chia thành ba lĩnh vực chính là: Lập hiến, lập pháp; Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; Giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước.2.4.2.1. Thẩm quyền của Quốc hội trong lập hiến, lập phápTrong hệ thống pháp luật Việt Nam, Hiến pháp là luật cơ bản của Nhà nước có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định về những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất, có tính nguyên tắc trong các lĩnh vực của đời sống xã hội từ chính trị đến kinh tế, xã hội, văn hóa, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương. Luật là văn bản quy định những vấn đề cụ thể để thực thi các nội dung quy định của Hiến pháp. Lập hiến, lập pháp là thẩm quyền quan trọng bậc nhất của Quốc hội Việt Nam. Nếu như Quốc hội các nước thường chỉ có quyền lập pháp thì Quốc hội Việt Nam ngoài quyền lập pháp còn thực hiện quyền lập hiến. Đây cũng là một trong những biểu hiện thể hiện tính quyền lực nhà nước cao nhất của Quốc hội so với các cơ quan nhà nước khác.Với quyền lập hiến, quyền lập pháp, Quốc hội định ra các quy tắc xử sự nền tảng, quan trọng nhất làm cơ sở cho toàn bộ hoạt động của Nhà nước và xã hội.Theo quy định tại Điều 70 Hiến pháp năm 2013, Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp bằng việc “làm Hiến pháp, sửa đổi hiến pháp; làm luật, sửa đổi luật”. Có thể nói, Hiến pháp Việt Nam là một trong số ít Hiến pháp có quy định trao cho Quốc hội thực hiện quyền lập hiến với hình thức là “làm Hiến pháp” và “sửa đổi Hiến pháp”154.“Làm Hiến pháp” là việc Quốc hội ban hành ra một Hiến pháp mới để thay thế Hiến pháp trước đó. Sau khi Hiến pháp mới được ban hành thì Hiến pháp trước sẽ hết hiệu lực toàn bộ. Với việc “làm Hiến pháp”, Quốc hội có thể thay đổi toàn bộ cấu trúc của Hiến pháp, loại bỏ hoặc điều chỉnh các nội dung mang tính nguyên tắc cho thiết tổ chức và hoạt động của Nhà nước, tức là có thể thay đổi cả chính thể của Nhà nước và các vấn đề quan trọng về mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân. Quyết định về “làm Hiến pháp” của Quốc hội thể hiện dưới hình thức “Hiến pháp”.“Sửa đổi Hiến pháp” là việc Quốc hội ban hành ra văn bản để điều chỉnh một số nội dung của Hiến pháp đang có hiệu lực (bãi bỏ, thêm nội dung, hoặc sửa câu từ trong các điều khoản của Hiến pháp). Sau khi văn bản sửa đổi Hiến pháp được thông qua thì văn bản đó trở thành một bộ phận cấu thành của Hiến pháp cùng với bản Hiến pháp được sửa đổi. Quyết định về “sửa đổi Hiến pháp” của Quốc hội thể hiện dưới hình thức “Nghị quyết”.Thông thường, Hiến pháp các nước không quy định về thủ tục “làm” Hiến pháp mà chỉ có quy định về “sửa đổi” Hiến pháp. Một số nước còn quy định rõ giới hạn về vấn đề được sửa đổi trong Hiến pháp. Còn ở Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Quốc hội được quyết định ban hành Hiến pháp mới hoặc sửa đổi bất kỳ một nội dung nào của Hiến pháp mà không bị hạn chế. Do đó, mặc dù Hiến pháp có sự phân biệt việc “làm Hiến pháp” và “sửa đổi Hiến pháp” nhưng quy trình “làm Hiến pháp” và “sửa đổi Hiến pháp” không được tách riêng ra mà được thực hiện theo một quy trình sửa đổi Hiến pháp được quy định tại Điều 120 Hiến pháp năm 2013 và các quy định pháp luật khác.So với các nước, phạm vi chủ thể có quyền đề nghị sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam nhìn chung được mở rộng. Ở Mỹ, nguyên thủ quốc gia không được đề nghị sửa đổi Hiến pháp. Theo Điều V của Hiến pháp Mỹ năm 1787 thì việc xem xét sửa đổi Hiến pháp chỉ được đặt ra khi có hai phần ba thành viên của của cả hai viện của Nghị viện liên bang đề xuất hoặc theo yêu cầu của cơ quan lập pháp của hai phần ba các bang. Ngược lại, ở Pháp, quyền đưa ra sáng kiến sửa đổi Hiến pháp thuộc về Tổng thống (theo đề nghị của Thủ tướng và các thành viên của Nghị viện)155. Ở Trung Quốc thì việc sửa đổi Hiến pháp do Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc hoặc một phần năm đại biểu Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc đề nghị156. Theo Điều 120 Hiến pháp năm 2013, quyền đề nghị về việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp thuộc về Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội. Tuy nhiều chủ thể được quyền đề nghị việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp nhưng các chủ thể này chỉ được đưa ra đề nghị chung mà không trình kèm theo dự thảo với các nội dung điều khoản dự kiến cho Hiến pháp mới hoặc nội dung dự kiến sửa đổi. Quốc hội quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Để có bản dự thảo Hiến pháp, Quốc hội thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp theo đề nghị của UBTVQH. Ủy ban soạn thảo Hiến pháp sau khi soạn thảo xong dự thảo Hiến pháp sẽ công bố bản dự thảo và triển khai tổ chức lấy ý kiến Nhân dân. Mục đích của việc lấy ý kiến Nhân dân là để phát huy quyền làm chủ, tạo sự đồng thuận của Nhân dân đối với việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp. Biệc lấy ý kiến góp ý về dự thảo Hiến pháp có thể được thực hiện nhiều lần. Dự thảo Hiến pháp sau khi hoàn thiện sẽ được trình Quốc hội để Quốc hội thảo luận, biểu quyết thông qua tại phiên họp toàn thể. Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Theo quy định tại Điều 120 Hiến pháp năm 2013, Quốc hội có thể quyết định trưng cầu ý dân về Hiến pháp157. Chủ tịch nước có trách nhiệm phải công bố Hiến pháp theo quyết định của Quốc hội về thời hạn công bố, thời điểm có hiệu lực của Hiến pháp. Nhìn chung, mặc dù quy trình lập hiến sự tham gia của nhiều chủ thể, nhưng Quốc hội là cơ quan giữ những quyền hạn quan trọng, có ý nghĩa quyết định ở tất cả các khâu của quy trình lập hiến.2.4.2.2. Thẩm quyền của Quốc hội trong quyết định những vấn đề quan trọng của đất nướcVới vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Quốc hội được Hiến pháp trao quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước là những vấn đề liên quan đến lợi ích của toàn xã hội, sự phát triển, sống còn của đất nước. Khác với các nước thường đặt quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước trong nội hàm của quyền lập pháp và Quốc hội các nước sẽ ban hành văn bản Luật để quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, quy định của Hiến pháp Việt Nam từ trước đến nay có sự phân biệt giữa quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước với quyền lập hiến, lập pháp. Hầu hết các quyết định của Quốc hội về các vấn đề quan trọng của đất nước có ý nghĩa xử lý một vấn đề cụ thể trong một thời điểm hay một giai đoạn nhất định, gắn với định hướng, mục tiêu nhất định của Nhà nước tại thời điểm hay trong giai đoạn cụ thể đó. Tùy theo tính chất của các vấn đề quan trọng cần quyết định mà quy trình xem xét, thông qua của Quốc hội đối với các vấn đề sẽ có sự khác nhau. So với quy trình lập hiến, lập pháp, quy trình Quốc hội xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước thường đơn giản hơn. Việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước thể hiện dưới hình thức Nghị quyết được Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp Quốc hội.Theo quy định của Hiến pháp hiện hành, các vấn đề quan trọng của đất nước thuộc thẩm quyền của Quốc hội gồm ba nhóm nội dung chủ yếu là:(1) Quyết định các vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước và nhân sự cấp cao của Nhà nước: Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên UBTVQH, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành lập; Phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán TANDTC; Phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia. Sau khi được bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TANDTC phải tuyên thê ̣trung thành vớ i Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp; Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật.(2) Quyết định các nhiệm vụ kinh tế - xã hội: Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước. Ngoài ra, Quốc hội còn quyết định đại xá; Quyết định trưng cầu ý dân.(3) Quyết định các vấn đề về quốc phòng, an ninh quốc gia và đối ngoại: Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; Quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước; Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; Quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia; Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; Phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa XHCN Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, các điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội.Các vấn đề quan trọng của đất nước được Quốc hội xem xét quyết định thông qua tại kỳ họp Quốc hội. Theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) thì dự thảo Nghị quyết của Quốc hội được xem xét tại nhiều nhất là 2 kỳ họp (trong khi dự thảo Luật có thể được xem xét tại ba kỳ họp). Trường hợp đặc biệt có thể được xem xét theo thủ tục rút gọn như: Trường hợp khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp; Trường hợp đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cháy, nổ; Trường hợp cấp bách để giải quyết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn; Trường hợp cần ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của VBQPPL để kịp thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Hiện hành quy định: trường hợp để ngưng hiệu lực toàn bộ hoặc một phần của VBQPPL trong một thời hạn nhất định); Trường hợp cần sửa đổi ngay cho phù hợp với VBQPPL mới được ban hành; Trường hợp cần ban hành ngay VBQPPL để thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên; Trường hợp cần bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ VBQPPL trái pháp luật hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội; Trường hợp cần kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần của VBQPPL trong một thời hạn nhất định để giải quyết những vấn đề cấp bách phát sinh trong thực tiễn.Quy trình, thủ tục để Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước được quy định bởi Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Nội quy kỳ họp Quốc hội (Ban hành kèm theo Nghị quyết 102/2015/QH13 ngày 24/11/2015). Hình thức văn bản để Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước là Nghị quyết. Các Nghị quyết của Quốc hội được thông qua khi “được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành”158, trừ một số vấn đề như: rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội, bãi nhiệm đại biểu Quốc hội sẽ chỉ được thông qua khi có “ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành”159. Hình thức biểu quyết về các vấn đề quan trọng của đất nước do Quốc hội quyết định chọn một trong ba hình thức là: Biểu quyết bằng hệ thống biểu quyết điện tử; Biểu quyết bằng bỏ phiếu kín; Biểu quyết bằng giơ tay. Đối với các quyết định về nhân sự như: bầu, phê chuẩn; miễn nhiệm, bãi nhiệm, cho thôi làm nhiệm vụ; phê chuẩn miễn nhiệm, cách chức; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu, phê chuẩn thì phải biểu quyết bằng bỏ phiếu kín. Trong các trường hợp này, Quốc hội bầu Quốc hội bầu Ban kiểm phiếu để hướng dẫn, điều hành việc biểu quyết bằng bỏ phiếu kín; xác định kết quả kiểm phiếu, kết quả biểu quyết.Khác với lập hiến, lập pháp, các nghị quyết của Quốc hội về quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước không cần sự công bố của Chủ tịch nước và thường có hiệu lực ngay khi được Quốc hội thông qua.Nhìn chung, thẩm quyền quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số quy định về thẩm quyền của Quốc hội, thể hiện rõ nét vị trí cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của Quốc hội. Bằng việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội định ra mô hình, cấu trúc, phương thức vận hành các bộ phận cấu thành của đời sống kinh tế - xã hội quốc gia theo những mục tiêu, mục đích đề ra, phù hợp với chủ trương, chiến lược phát triển đất nước của Đảng.2.4.2.3. Thẩm quyền của Quốc hội trong giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước“Giám sát” là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơquan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.160 Về mặt lịch sử, quyền giám sát tối cao của Quốc hội Việt Nam xuất hiện sau các quyền các quyền lập hiến, lập pháp và quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Quyền này lần đầu tiên được quy định tại khoản 3 Điều 50 Hiến pháp năm 1959. Hiện nay, theo Hiến pháp năm 2013, Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước (Điều 69). Quyền giám sát tối cao của Quốc hội có mối liên hệ chặt chẽ với các quyền lập hiến, lập pháp và quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Thông qua giám sát tối cao mà Quốc hội biết được kết quả của việc triển khai Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, từ đó có thể phát hiện ra những điểm còn chưa phù hợp để điều chỉnh kịp thời. Mặt khác, quyền giám sát của Quốc hội được ví như việc “nắm dây cương”161, nhờ giữ quyền giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước mà Quốc hội có thể ngăn ngừa được nguy cơ lạm quyền của các cơ quan nhà nước và khiến cho những cơ quan là đối tượng bị giám sát tăng cường trách nhiệm hơn trong tổ chức thực hiện Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội theo thẩm quyền của mình.Theo: Đinh Thị Cẩm HàLink luận án: https://docs.google.com/document/d/1CDbXbkodafex35-W9NtGPGygMw3emgDn/edit
Nguyễn Phương Thảo
522 ngày trước
Bài viết
LẤY PHIẾU TÍN NHIỆM CHỦ TỊCH NƯỚC, THỦ TƯỚNG, CHỦ TỊCH QUỐC HỘI VÀO THÁNG 10/2023
Quốc hội sẽ lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn vào kỳ họp thứ 6, khai mạc tháng 10/2023.Sáng 27/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức Hội nghị triển khai Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2023. Lấy phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội thực hiện quyền giám sát, đánh giá mức độ tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do cơ quan này bầu hoặc phê chuẩn để làm cơ sở cho việc xem xét đánh giá cán bộ.Các chức danh do Quốc hội bầu gồm Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao, Phó chủ tịch nước, Phó chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Thường vụ Quốc hội, Tổng kiểm toán Nhà nước. Các chức danh Quốc hội phê chuẩn, gồm Phó thủ tướng, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ.Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm bằng cách bỏ phiếu kín. Trên phiếu ghi rõ họ tên, chức vụ của những người được lấy phiếu tín nhiệm, với ba mức độ: tín nhiệm cao, tín nhiệm, tín nhiệm thấp.Quốc hội từng lấy phiếu tín nhiệm ba lần, vào tháng 6/2013, tháng 11/2014 và tháng 10/2018. Trong cả ba lần này, bà Nguyễn Thị Kim Ngân trong vai trò Phó chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội đều đứng đầu về số phiếu tín nhiệm cao.Theo quy định hiện hành, việc lấy phiếu tín nhiệm các chức danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội được tiến hành vào năm thứ 3 của nhiệm kỳ. Người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá "tín nhiệm thấp" thì có thể xin từ chức.Trường hợp người được lấy phiếu tín nhiệm có từ hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội trở lên đánh giá "tín nhiệm thấp" thì Ủy ban thường vụ Quốc hội trình cấp có thẩm quyền khởi động quy trình bỏ phiếu tín nhiệm (tín nhiệm, không tín nhiệm), làm cơ sở cho việc miễn nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm.Cũng trong năm 2023, Quốc hội sẽ giám sát tối cao hai chuyên đề: "Việc huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19; thực hiện chính sách, pháp luật về y tế cơ sở, y tế dự phòng" và "Việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về các Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025, giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030".Ủy ban Thường vụ Quốc hội giám sát hai chuyên đề: "Việc thực hiện Nghị quyết số 88/2014 và Nghị quyết số 51/2017 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông" và "Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển năng lượng giai đoạn 2016-2021". Với chuyên đề về sách giáo khoa, 8 tỉnh thành được đề xuất giám sát gồm Hà Nội, TP HCM, Hưng Yên, Lai Châu, Đăk Nông, Bình Định, Bình Phước, Sóc Trăng 
Bài viết được xem nhiều nhất
Bài viết
(mới)Những mẫu bản kiểm điểm đảng viên dành cho cán bộ, giáo viên, sinh viên,.. luôn được bạn đọc chú ý. Đây là thời điểm để mọi người nhìn nhận lại những gì mình đã và chưa làm được. Qua đó cho mình thêm động lực để phấn đấu hơn nữa. Hãy cùng nhau theo dõi ngay trong bài viết mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân của Legalzone - hệ thống thủ tục pháp luậtMẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân Bản kiểm điểm Đảng viên sẽ gồm có các phần chính sau:Ưu điểm, kết quả đạt được về tư tưởng chính trị;Phẩm chất đạo đức, lối sống;Y thức tổ chức kỷ luật;Tác phong, lề lối làm việc;Về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao;Về việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm.Cụ thể: Hạn chế, khuyết điểm đảng viên về tư tưởng chính trị; phẩm chất đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc; về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.Hạn chế khuyết điểm đảng viên về việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm và nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm.Kết quả khắc phục những ưu khuyết điểm của đảng viên đã được cấp có thẩm quyền kết luận hoặc được chỉ ra ở các kỳ kiểm điểm trước.Tại phần này cần kiểm điểm rõ:Từng ưu khuyết điểm đảng viên (đã được khắc phục; đang khắc phục, mức độ khắc phục; chưa được khắc phục)Những khó khăn, vướng mắc (nếu có)Trách nhiệm của cá nhân.Giải trình, nhận xét ưu khuyết điểm của đảng viên những vấn đề được gợi ý kiểm điểm (nếu có).Giải trình từng vấn đề được gợi ý kiểm điểm, nêu nguyên nhân.Xác định trách nhiệm của cá nhân đối với từng vấn đề được gợi ý kiểm điểm.Làm rõ trách nhiệm của cá nhân đối với những ưu điểm khuyết điểm của đảng viên (nếu có).Phương hướng, biện pháp khắc phục những ưu khuyết điểm của đảng viên. Tự nhận mức xếp loại chất lượng.Legalzone cung cấp cho bạn đọc 02 mẫu bản tự kiểm kiểm cá nhân tham khảo sau đây:Mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhânBẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂNHọ và tên: ………………… Sinh ngày: …………………………………Ngày vào Đảng: ……………… Chính thức ngày ………………………… Chức vụ Đảng: …………………………………………………………..Chức vụ chính quyền(đoàn thể): ………………………………………….Đơn vị công tác: ………………………………………………………Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: ………………………………………..I. Ưu điểm, kết quả công tác 1. Về tư tưởng chính trị– Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi luôn kiên định đối với đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.– Chấp hành nghiêm túc quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực để bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.– Luôn có ý thức tuyên truyền, vận động người thân, gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.– Xác định ý thức tích cực, tự giác tự học, tự nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác qua các lớp tập huấn, các lớp bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp…– Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng thực hiện cuộc vận động“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” của bản thân.Trong quá trình công tác, bản thân luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.2. Về phẩm chất đạo đức, lối sống.– Bản thân tôi luôn có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu.- Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong ngành. Luôn có ý thức giữ gìn tư cách, đạo đức tính tiên phong của người đảng viên trong tác chuyên môn.- Không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và những điều Đảng viên không được làm theo quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị.– Bản thân tôi luôn thực hiện tự phê bình và phê bình trung thực và thẳng thắn, giữ gìn đoàn kết trong Đảng trên cơ sở cương lĩnh và điều lệ Đảng, phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động chỉ đạo chuyên môn và luôn luôn xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ.-  Trong cuộc sống thường ngày sinh hoạt với địa phương, tôi đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tin tưởng, tham gia tích cực mọi hoạt động ở nới cư trú.3. Về thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao:– Bản thân luôn thực hiện đúng qui chế chuyên môn, đảm bảo tính khoa học.– Làm việc có trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. – Luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.– Luôn phối kết hợp tốt với các đồng nghiệp, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. -Trong công tác xây dựng Đảng, đoàn thể tôi luôn có ý thức tuyên truyền, tham gia xây dựng chi bộ, các đoàn thể trong cơ quan trong sạch, vững mạnh.4. Về tổ chức kỷ luật:– Bản thân tôi luôn thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, chấp hành sự phân công điều động, luân chuyển của tổ chức.- Bản thân luôn vận động gia đình chấp hành nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các luật và nghị định của Nhà nước về phòng chống ma tuý, chống tiêu cực ……– Bản thân tôi luôn thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng và đóng đảng phí theo quy định.- Tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt chi bộ, quán triệt sâu sắc các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và ngành đề ra.– Tham gia đầy đủ các buổi hội họp, học nghị quyết do chi bộ và Đảng bộ tổ chức; đóng Đảng phí đầy đủ, kịp thời.– Thực hiện tốt quy chế, nội quy của tổ chức Đảng cũng như của cơ quan đơn vị, có tinh thần gương mẫu chấp hành và lãnh đạo thực hiện tốt quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú- Ý thức lắng nghe, tiếp thu và tự sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng.– Thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở; có tinh thần tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền.- Luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao; thái độ phục vụ nhân dân tốt; có ý thức đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, gây phiền hà nhân dân.II. Khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân– Chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy kết quả chưa cao– Đôi khi còn chưa linh hoạt, trong giải quyết công việc với đồng nghiệp, với học sinh– Tuy có ý thức trong công tác tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt nhưng vẫn còn chưa mạnh dạn.– Đôi lúc chưa chủ động trong tổ chức thực hiện một số hoạt động. Trong công việc đôi lúc còn chưa mạnh dạn, thẳng thắn góp ý cho đồng nghiệp– Chưa cương quyết trong xử lí vi phạm, làm việc còn mang tính cả nểIII. Phương hướng và biện pháp khắc phục, sửa chữa yếu kém– Tuyệt đối chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.- Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong Đảng và cơ quan.– Không ngừng tu dưỡng đạo đức, tự học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị,chuyên môn nghiệp vụ, mạnh dạn hơn nữa trong việc tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị được giao.– Tiếp tục đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, luôn có ý thức tự phê bình và phê bình, tránh tư tưởng nể nang, nâng cao vai trò tiên phong của người đảng viên.Biện pháp khắc phục:– Trong thời gian tới sẽ phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm trên để bản thân được hoàn thiện hơn.– Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những hành động và việc làm cụ thể trong thực hiện công việc và nhiệm vụ được giaoXem thêm: Thủ tục thành lập trung tâm ngoại ngữ tại Hà NộiLink dowload các biểu mẫu miễn phíBẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂNBẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂN 2BẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁN BỘTải ngay mẫu Bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân tại phần ảnh tại bài viết hoặc tại phần bình luận của bài viết bạn nhé IV. Tự nhận mức xếp loại chất lượng Đảng viên, cán bộ, công chức:Mức 2: Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.Người viết bản kiểm điểmMẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân số 2ĐẢNG BỘ Xà.......CHI BỘ TRƯỜNG .........***ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ........, ngày...tháng...năm 2019BẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂNHọ và tên: ............. .............. Sinh ngày: ........... ................ ........... ............Ngày vào Đảng: ............... .............. Chính thức ngày .............. .............. Chức vụ Đảng: ........... ............ ............... .............. ................ ................. Chức vụ chính quyền(đoàn thể): .............. ................. .................. ............ Đơn vị công tác: ............ ............... ................ ................... ................. Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: .................... .................... .................... Ưu điểm, kết quả công tácVề tư tưởng chính trị- Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi luôn kiên định đối với đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.- Chấp hành nghiêm túc quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực để bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.- Luôn có ý thức tuyên truyền, vận động người thân, gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.- Xác định ý thức tích cực, tự giác tự học, tự nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác qua các lớp tập huấn, các lớp bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp...- Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", cuộc vận động "Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo" của bản thân. Trong quá trình công tác, bản thân luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.Về phẩm chất đạo đức, lối sống.- Bản thân tôi luôn có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu.Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong ngành.Luôn có ý thức giữ gìn tư cách, đạo đức tính tiên phong của người đảng viên trong tác chuyên môn.Không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và những điều Đảng viên không được làm theo quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị.- Bản thân tôi luôn thực hiện tự phê bình và phê bình trung thực và thẳng thắn, giữ gìn đoàn kết trong Đảng trên cơ sở cương lĩnh và điều lệ Đảng, phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động chỉ đạo chuyên môn và luôn luôn xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ. Trong cuộc sống thường ngày sinh hoạt với địa phương, tôi đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tin tưởng, tham gia tích cực mọi hoạt động ở nới cư trú.Về thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao:- Bản thân luôn thực hiện đúng qui chế chuyên môn, đảm bảo tính khoa học.- Làm việc có trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao- Luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.- Luôn phối kết hợp tốt với các đồng nghiệp, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao-Trong công tác xây dựng Đảng, đoàn thể tôi luôn có ý thức tuyên truyền, tham gia xây dựng chi bộ, các đoàn thể trong cơ quan trong sạch, vững mạnh.>>Tham khảo bài viết: Bộ luật Dân sự 2015: Điểm nổi bật và ý nghĩa trong bối cảnh pháp luật hiện đạiVề tổ chức kỷ luật:- Bản thân tôi luôn thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, chấp hành sự phân công điều động, luân chuyển của tổ chức. Bản thân luôn vận động gia đình chấp hành nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các luật và nghị định của Nhà nước về phòng chống ma tuý, chống tiêu cực ......- Tham gia đầy đủ các buổi hội họp, học nghị quyết do chi bộ và Đảng bộ tổ chức; đóng Đảng phí đầy đủ, kịp thời.- Thực hiện tốt quy chế, nội quy của tổ chức Đảng cũng như của cơ quan đơn vị, có tinh thần gương mẫu chấp hành và lãnh đạo thực hiện tốt quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú; ý thức lắng nghe, tiếp thu và tự sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng.- Luôn có thái độ cầu thị trong việc nhận và sửa chữa khắc phục khuyết điểm.- Thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở; có tinh thần tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền.- Luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao; thái độ phục vụ nhân dân tốt; có ý thức đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, gây phiền hà nhân dân.Khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân- Chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy kết quả chưa cao. - Chưa dành thời gian thích hợp để nghiên cứu, tìm hiểu sâu về Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết, quy định của Đảng; pháp luật, chính sách của Nhà nước.- Trách nhiệm cá nhân trong việc phối kết hợp với các đoàn thể khác trong trường có lúc chưa đạt hiệu quả cao nhất.- Đôi lúc chưa chủ động trong tổ chức thực hiện một số hoạt động. Trong công việc đôi lúc còn chưa mạnh dạn, thẳng thắn góp ý cho đồng nghiệp- Chưa cương quyết trong xử lí vi phạm, làm việc còn nể nang tình cảm trong công tác phê bình và tự phê bình.III. Phương hướng và biện pháp khắc phục, sửa chữa yếu kém- Tuyệt đối chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.- Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong Đảng và cơ quan.- Không ngừng tu dưỡng đạo đức, tự học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ- Mạnh dạn hơn nữa trong việc tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị được giao.- Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống- Luôn có ý thức tự phê bình và phê bình, nâng cao vai trò tiên phong của người đảng viên.Biện pháp khắc phục:- Trong thời gian tới sẽ phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm trên để bản thân được hoàn thiện hơn.- Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những hành động và việc làm cụ thể trong thực hiện công việc và nhiệm vụ được giao. Tự nhận mức xếp loại chất lượng Đảng viên, cán bộ, công chức:Mức 2: Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.     NGƯỜI TỰ KIỂM ĐIỂM(Ký, ghi họ tên) ĐÁNH GIÁ PHÂN LOẠI CHẤT LƯỢNG ĐẢNG VIÊNNhận xét, đánh giá của chi ủy:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ...............Chi bộ phân loại chất lượng:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ..........................., ngày...tháng...năm....T.M CHI ỦYBí thưĐảng ủy (chi ủy cơ sở) phân loại chất lượng:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ................................., ngày...tháng...năm...     T.M ĐẢNG ỦYTrên đây là một số thông tin về mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân bạn đọc tham khảo. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ. Hoặc bạn có thể tra cứu các thủ tục qua trang Thủ tục pháp luật của chúng tôi. 
Bài viết
[MỚI]Địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệpTừ 2021, tên địa điểm kinh doanh phải bao gồm cả tên doanh nghiệp. Đây là nội dung mới được Quốc hội đề cập đến tại Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14. Quy định mới về tên địa điểm kinh doanhCụ thể, Điều 40 Luật Doanh nghiệp 2020 nêu rõ:Tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệp kèm theo cụm từ “Chi nhánh” đối với chi nhánh, cụm từ “Văn phòng đại diện” đối với văn phòng đại diện, cụm từ “Địa điểm kinh doanh” đối với địa điểm kinh doanh.Hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không yêu cầu với địa điểm kinh doanh mà chỉ quy định tên chi nhánh, văn phòng đại diện phải mang tên doanh nghiệp kèm cụm từ “chi nhánh” với chi nhánh, cụm từ “văn phòng đại diện” với văn phòng đại diện.  Quy định mới về tên địa điểm kinh doanhNgoài ra, Điều 41 Luật 2020 cũng có quy định cụ thể với tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh gồm:– Phải được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và các ký hiệu;– Phải được viết hoặc gắn tại trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh. Trong đó, tên chi nhánh, văn phòng đại diện được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên tiếng Việt của doanh nghiệp trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu… do chi nhánh, văn phòng đại diện phát hành.Hồ sơ thành lập địa điểm kinh doanh* Thành phần hồ sơTheo Quyết định 1523/QĐ-BKHĐT, hồ sơ thành lập địa điểm kinh doanh bao gồm:– Thông báo lập địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp theo mẫu tại Phụ lục II-11 Nghị định 122/2020/NĐ-CP.– Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động theo Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc các giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương chưa thực hiện bổ sung, cập nhật thông tin đăng ký doanh nghiệp để được cấp đăng ký doanh nghiệp thay thế nội dung đăng ký kinh doanh trong Giấp phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương thì ngoài các giấy tờ nêu trên, doanh nghiệp phải nộp kèm theo:+ Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đầu tư;+ Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký thuế;+ Giấy đề nghị bổ sung, cập nhật thông tin đăng ký hoạt động đối với địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động theo giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.Lưu ý: Trường hợp không phải Chủ sở hữu hoặc Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trực tiếp đến nộp hồ sơ: người được ủy quyền phải nộp văn bản uỷ quyền kèm bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân:– Đối với công dân Việt Nam: Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực.– Đối với người nước ngoài: Hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị thay thế còn hiệu lực.* Số lượng hồ sơ: 01 bộTrình tự thủ tục lập địa điểm kinh doanhBước 1: Nộp hồ sơCó 02 cách thức để nộp hồ sơ, cụ thể:Cách 1: Nộp hồ sơ trực tiếp tại bộ phận một cửa Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt địa điểm kinh doanh hoặc chi nhánh.Cách 2: Đăng ký qua mạng tại Cổng thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp bằng chữ ký số công cộng hoặc sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh . Đối với Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phải đăng ký qua mạng.Bước 2: Tiếp nhận và giải quyết hồ sơBước 3: Nhận kết quả* Thời hạn giải quyết: 03 ngày làm việc* Lệ phí giải quyết:– 50.000 đồng/lần đối với hồ sơ nộp trực tiếp tại bộ phận một cửa Phòng Đăng ký kinh doanh.– Miễn lệ phí đối với hồ sơ đăng ký qua mạng điện tử.Trên đây là bài viết tham khảo về một số quy định mới về hộ kinh doanh từ năm 2021. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ.
Bài viết
Bảo hiểm thất nghiệp là một cơ chế quan trọng, giúp hỗ trợ người lao động trong những giai đoạn khó khăn khi họ mất việc làm. Tuy nhiên, để đảm bảo hoạt động hiệu quả và bền vững của quỹ bảo hiểm thất nghiệp, việc xác định mức đóng cũng như hiểu rõ nguồn hình thành của quỹ này là vô cùng quan trọng. Bài viết sau đây sẽ phân tích và giải đáp những thắc mắc liên quan đến mức đóng và nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, giúp người đọc có cái nhìn sâu rộng và đầy đủ hơn về vấn đề này.Bảo hiểm thất nghiệp là gì?Trong bối cảnh kinh tế phức tạp, bảo hiểm thất nghiệp trở thành một giải pháp hỗ trợ quan trọng, giúp giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho người lao động.Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ giúp bù lại một phần thu nhập cho những người mất việc, đồng thời hỗ trợ họ trong việc đào tạo nghề và tìm kiếm cơ hội làm việc mới, dựa trên việc đóng góp vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp (theo khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm 2013).Nhờ vào sự hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp, nhiều người lao động đã tìm ra cách giải quyết vấn đề việc làm, khẳng định vị thế của mình trên thị trường lao động và đóng góp vào sự ổn định và phát triển của xã hội.Mức đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp được xác định như nào?Mức đóng góp và trách nhiệm trong việc đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp (BHTN) được quy định cụ thể theo Khoản 1 Điều 57 của Luật Việc làm năm 2013. Theo đó:- Mỗi người lao động cần đóng 1% từ tiền lương hàng tháng của mình.- Người sử dụng lao động cũng phải đóng 1% từ quỹ lương hàng tháng dành cho nhân viên đang tham gia BHTN.- Nhà nước cam kết hỗ trợ thêm tối đa 1% từ quỹ lương hàng tháng cho việc đóng góp BHTN, với ngân sách được đảm bảo bởi chính phủ trung ương.Tổng cộng, mức đóng góp vào Quỹ BHTN là 3%, với 1% từ người lao động, 1% từ người sử dụng lao động, và 1% từ sự hỗ trợ của nhà nước.Quỹ BHTN hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:- Đóng góp từ người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ từ nhà nước.- Lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư của Quỹ BHTN.- Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật, bao gồm tiền lãi từ việc trễ hạn đóng góp BHTN và các khoản thu hợp pháp khác.Quỹ BHTN được sử dụng cho các mục đích sau:- Thanh toán trợ cấp thất nghiệp.- Hỗ trợ đào tạo, cập nhật kỹ năng nghề nghiệp để giữ việc làm cho người lao động.- Hỗ trợ học nghề.- Hỗ trợ tư vấn và giới thiệu việc làm.- Chi trả bảo hiểm y tế cho người nhận trợ cấp thất nghiệp.- Chi phí quản lý BHTN theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.- Đầu tư để bảo toàn và phát triển Quỹ.Phương thức đóng tiền vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp?Cách thức đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp (BHTN) diễn ra hàng tháng theo các quy định sau:- Người sử dụng lao động cần đóng góp vào BHTN theo tỷ lệ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 57 của Luật Việc làm 2013. Họ cũng cần trích một phần từ lương của nhân viên theo tỷ lệ quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 57 của cùng một luật, để đóng góp vào Quỹ BHTN.- Sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho Quỹ BHTN tuân theo nguyên tắc đảm bảo số dư quỹ hàng năm ít nhất bằng hai lần tổng chi cho các chế độ BHTN và chi phí quản lý của năm trước. Tuy nhiên, mức hỗ trợ không vượt quá 1% quỹ lương hàng tháng dành cho BHTN của những người đang tham gia. Cách thức chuyển kinh phí như sau:Vào quý IV mỗi năm, Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ dựa trên dự toán thu-chi BHTN được phê duyệt để xác định kinh phí hỗ trợ cho Quỹ BHTN của năm trước, tuân theo quy định tại Khoản 1 của Điều này. Số kinh phí này sẽ được gửi đến Bộ Tài chính để chuyển vào Quỹ BHTN một lần.Trong vòng 10 ngày làm việc kể từ khi nhận báo cáo quyết toán từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đã được Hội đồng Quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam chấp thuận, Bộ Tài chính sẽ thẩm định và quyết định kinh phí hỗ trợ cho Quỹ BHTN năm trước. Nếu kinh phí mà Bộ Tài chính đã cấp nhiều hơn số tiền cần hỗ trợ theo quy định tại Khoản 1 của Điều này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải trả lại phần chênh lệch cho ngân sách nhà nước. Ngược lại, nếu số tiền cấp ít hơn, Bộ Tài chính sẽ báo cáo cấp có thẩm quyền để phê duyệt kinh phí hỗ trợ bổ sung trong năm tiếp theo.Kinh phí hỗ trợ Quỹ BHTN đều được bảo đảm bởi ngân sách trung ương, từ nguồn chi đảm bảo xã hội đã được Quốc hội quyết định.Kết luận Mức đóng góp phải được xác định một cách hợp lý để đảm bảo quỹ có đủ kinh phí hoạt động và cùng lúc đó, không tạo áp lực tài chính quá lớn lên người lao động và người sử dụng lao động. Ngoài ra, việc hình thành quỹ từ nhiều nguồn khác nhau cần được quản lý chặt chẽ và minh bạch, điều này đòi hỏi sự phối hợp mật thiết giữa các cơ quan quản lý, người sử dụng lao động, và người lao động. Một hiểu biết đầy đủ và chi tiết về các khía cạnh này sẽ giúp người lao động cảm thấy an tâm hơn với quỹ bảo hiểm thất nghiệp, thúc đẩy sự tham gia tích cực và từ đó góp phần nâng cao chất lượng an sinh xã hội. Nếu có thắc mắc khác liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp, bạn có thể truy cập Thủ tục pháp luật để cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết. 
Bài viết
Trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước, Hội đồng thành viên đóng vai trò quan trọng, tham gia vào việc quản lý và định hình chiến lược của các tổ chức này. Hội đồng này thường bao gồm Chủ tịch và các thành viên khác, và quyền lực của họ thường được cơ quan đại diện chủ sở hữu kiểm soát thông qua việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng và kỷ luật. Những quyết định của Hội đồng thành viên có thể có tác động sâu rộng đến hoạt động kinh doanh và phát triển của doanh nghiệp nhà nước.Tuy nhiên, một vấn đề nổi lên trong quá trình xem xét tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên là khả năng của những người đã từng bị kỷ luật bởi Đảng. Chúng ta hãy tìm hiểu những quy định  liên quan vấn đề này.1. Điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên doanh nghiệp nhà nước là gì?Theo Điều 93 của Luật doanh nghiệp 2020, tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên Hội đồng thành viên được quy định như sau:Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 của Điều 17 của Luật doanh nghiệp 2020.Phải có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề hoạt động của doanh nghiệp.Không được phép có quan hệ gia đình với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu; thành viên Hội đồng thành viên; Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng của công ty; Kiểm soát viên công ty.Không được phép là người quản lý của doanh nghiệp thành viên.Trừ Chủ tịch Hội đồng thành viên, các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể kiêm nhiệm vị trí Giám đốc, Tổng giám đốc của công ty đó hoặc công ty khác mà không phải là doanh nghiệp thành viên, theo quyết định của cơ quan đại diện chủ sở hữu.Không được cách chức từ vị trí Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp nhà nước.Các tiêu chuẩn và điều kiện khác có thể được quy định bởi Điều lệ công ty.    Như vậy, những quy định này nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp, tính minh bạch, và tính hiệu quả trong quản lý và điều hành của doanh nghiệp. Điều quan trọng là, việc đảm bảo không có quan hệ gia đình và không từng bị cách chức từ các vị trí quan trọng trong doanh nghiệp nhà nước giúp bảo vệ tính độc lập và khách quan của quyết định của Hội đồng thành viên. Tuy nhiên, ngoài những điều kiện cơ bản này, Điều lệ công ty cũng có thể quy định thêm các tiêu chuẩn và điều kiện khác để phù hợp với đặc thù cụ thể của từng doanh nghiệp.2. Quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên doanh nghiệp nhà nước bao gồm những gì?Dựa vào Điều 92 của Luật doanh nghiệp 2020, quyền và nghĩa vụ của Hội đồng thành viên được phân rõ như sau:Hội đồng thành viên, thay mặt cho công ty, thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, cổ đông, và thành viên đối với công ty, đặc biệt khi công ty đóng vai trò làm chủ sở hữu hoặc sở hữu cổ phần, phần vốn góp.Hội đồng thành viên được ủy quyền với các quyền và nghĩa vụ cụ thể sau đây:Quyết định về các vấn đề liên quan đến việc sử dụng vốn nhà nước theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước để đầu tư vào hoạt động sản xuất và kinh doanh tại công ty.Quyết định về việc thành lập, tổ chức lại, giải thể các chi nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty.Đưa ra quyết định về kế hoạch sản xuất và kinh doanh hàng năm, xác định chủ trương phát triển thị trường, tiếp thị, và công nghệ của công ty.Tổ chức và quản lý hoạt động kiểm toán nội bộ và quyết định về việc thành lập đơn vị kiểm toán nội bộ cho công ty.Thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định tại Điều lệ công ty, Luật doanh nghiệp, và các quy định pháp luật khác có liên quan. Với vai trò đại diện cho công ty và các nhóm lợi ích khác nhau như chủ sở hữu, cổ đông, và thành viên, Hội đồng thành viên đảm bảo tính hiệu quả và quản lý đúng đắn của doanh nghiệp.Hội đồng thành viên được trao quyền quyết định quan trọng về việc sử dụng vốn nhà nước, tổ chức và phát triển công ty, kế hoạch sản xuất và kinh doanh, và cả việc kiểm toán nội bộ. Điều này đòi hỏi sự chuyên nghiệp, kiến thức, và sự thận trọng trong việc ra quyết định để đảm bảo sự phát triển bền vững của công ty và sự vững mạnh của hệ thống kinh tế. Các quyền và nghĩa vụ này cũng phải tuân theo Điều lệ của công ty và các quy định pháp luật liên quan khác để đảm bảo tính phù hợp và tuân thủ của mọi hoạt động doanh nghiệp.3. Có được làm thành viên hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước khi từng bị kỷ luật đảng không?Dựa trên Điều 94 của Luật doanh nghiệp 2020, các quy định về miễn nhiệm và cách chức thành viên Hội đồng thành viên được quy định như sau:Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể bị miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:Không còn đáp ứng đủ tiêu chuẩn và điều kiện được quy định tại Điều 93 của Luật doanh nghiệp 2020.Đã nộp đơn xin từ chức và được chấp thuận bằng văn bản từ cơ quan đại diện chủ sở hữu.Có quyết định về việc điều chuyển, bố trí công việc khác hoặc giải ngũ.Không đủ khả năng, trình độ để tiếp tục đảm nhận các nhiệm vụ được giao.Không đủ sức khỏe hoặc không còn đủ uy tín để giữ chức vụ thành viên Hội đồng thành viên.Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng thành viên có thể bị cách chức trong các tình huống sau:Công ty không hoàn thành các mục tiêu và chỉ tiêu kế hoạch hàng năm, không duy trì và phát triển vốn đầu tư theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu mà không có khả năng giải trình được nguyên nhân khách quan, hoặc nếu có giải trình, nhưng không được chấp thuận bởi cơ quan đại diện chủ sở hữu.Chịu án phạt từ Tòa án và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.Thực hiện không trung thực quyền và nghĩa vụ hoặc lạm dụng địa vị và chức vụ của họ, sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức hoặc cá nhân khác, hoặc cung cấp thông tin không trung thực về tình hình tài chính và kết quả sản xuất, kinh doanh của công ty.    Do đó, theo quy định, không có hạn chế cụ thể đối với việc trở thành thành viên Hội đồng thành viên đối với những người đã từng bị kỷ luật đảng. Tuy nhiên, cần xem xét lại Điều lệ của công ty để kiểm tra xem liệu có sự hạn chế cụ thể nào liên quan đến trường hợp này hay không. Cần lưu ý thêm rằng trong trường hợp này, những người có quá khứ kỷ luật đảng phải đáp ứng yêu cầu không từng bị cách chức từ các vị trí quan trọng như Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc, Phó giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc của doanh nghiệp nhà nước.Kết luận:  Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2020, không có hạn chế cụ thể đối với việc trở thành thành viên Hội đồng quản trị doanh nghiệp nhà nước đối với những người đã từng bị kỷ luật đảng. Tuy nhiên, điều này có thể phụ thuộc vào Điều lệ cụ thể của công ty và yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp. Điều quan trọng là đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ quy định của pháp luật trong quá trình tuyển dụng và bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị để đảm bảo quản lý hiệu quả và bền vững của doanh nghiệp nhà nước. Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan truy cập tại thủ tục pháp luật.    
Bài viết
Đăng ký bằng cách đi tới Link TTPL.VNNhấp vào tài khoản chọn đăng kýChọn Doanh nghiệpNếu bạn là Doanh nghiệp thường Hãy chọn Doanh nghiệpNếu bạn là công ty luật hãy chọn Công ty LuậtLưu ý: khi bạn chọn sẽ xuất hiện vành vàng ở loại hình bạn chọn, nếu không chọn sẽ gây lỗiĐiền thông tin theo hướng dẫnLưu ý: Email và số điện thoại phải có thực, tránh trường hợp mất tài khoản sau nàyĐăng nhập bằng tài khoản và mật khẩu đã dùngLưu ý: bạn cũng có thể dùng Số điện thoại và mật khẩu để đăng nhậpĐăng nhập vào sử dụng phần mềm quản lý công việcBạn có thể đăng nhập ngay bằng phần Dashboard tuy nhiên nếu muốn dùng tài khoản Pro (đầy đủ quyền) Hãy sử dụng nút mua ( Miễn phí)Hãy mua gói LGZ DIAMOND - Hiện tại đang miễn phí trọn đờiNhư vậy bạn đã tạo được một công ty hoàn chỉnh cho mình, Hãy thêm nhân viên và tiếp tục hoạt động miễn phí.Hotline:Hướng dẫn kỹ thuật: 0888889225Hướng dẫn chung: 0888889366  
Bài viết
Bình Luận án lệ số 24/2018/AL:Các quy định liên quan đến Án lệ số 24/2018/AL về “di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân” có thể kể đến các quy định sau:Thứ nhất, Điều 219 Sở hữu chung của vợ chồng (Bộ luật dân sự 2005):"1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.”Thứ hai,  Điều 223. Định đoạt tài sản chung (Bộ luật dân sự 2005)"1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật.2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật3. Trong trường hợp một chủ sở hữu chung bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua. Trong thời hạn ba tháng đối với tài sản chung là bất động sản, một tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác.Trong trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.4. Trong trường hợp một trong các chủ sở hữu chung từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.”Thứ ba, Điều 226. Chấm dứt sở hữu chung (Bộ luật dân sự 2005)"Sở hữu chung chấm dứt trong các trường hợp sau đây:1. Tài sản chung đã được chia;2. Một trong số các chủ sở hữu chung được hưởng toàn bộ tài sản chung;3. Tài sản chung không còn;4. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”Án lệ này đã đưa ra những điều kiện cần và đủ để xác định trường hợp nào thì di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân. Theo đó, việc người chồng hoặc vợ còn sống cùng với các thừa kế của người chết trước thống nhất phân chia toàn bộ nhà, đất của vợ chồng là hợp pháp khi có đủ các điều kiện sau:(1) Các bên thỏa thuận thống nhất phân chia nhà, đất;(2)Thỏa thuận phân chia không vi phạm quyền lợi của bất cứ thừa kế nào, không có ai tranh chấp;(3) Việc phân chia đã được thực hiện trên thực tế và được điều chỉnh trên sổ sách giấy tờ về đất đai.Các điều kiện nêu trên chính là điều kiện đảm bảo thỏa thuận phân chia thể hiện đúng ý chí của các bên, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên theo quy định của pháp luật, phù hợp với nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong giao dịch dân sự. Về mặt thủ tục, việc chuyển dịch về quyền tài sản thuộc diện phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ghi nhận. Án lệ đã khẳng định đối với trường hợp này, nhà, đất không còn là di sản thừa kế mà đã chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của các cá nhân. Không chỉ vậy, Án lệ đã chỉ ra đường lối áp dụng thống nhất pháp luật về tố tụng, theo đó trường hợp di sản thừa kế đã chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân thì người đã nhận phân chia tài sản chỉ có quyền khởi kiện đòi lại nhà, đất được chia đang bị người khác chiếm hữu, sử dụng bất hợp pháp mà không có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế là nhà, đất. Click vào đây để xem Nội dung Án lệ số 24/2018/AL 
Bài viết
Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sựMột luật sư cần những kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự trên thực tiễn ? Phân tích một số vụ án hình sự và các vấn đề pháp lý liên quan đến thực tiễn sẽ được luật sư LegalZone tư vấn, giải đáp, trích dẫn cụ thể:Nội dung chính bài viết1. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự1. Khái niệm về hồ sơ vụ án hình sự:2. Khái niệm Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:3. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ:4. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:4.1 Kỹ năng nghiên cứu bản cáo trạng:4.2 Kỹ năng nghiên cứu bản kết luận điều tra:4.3 Kỹ năng nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can:4.4 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng:4.5 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại4.6 Kỹ năng nghiên cứu biên bản đối chất4.7 Kỹ năng nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra …4.8 Kỹ năng nghiên cứu kết luận giám định:4.9 Kỹ năng nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo và các biên bản, tài liệu khác.5. Kỹ năng chuẩn bị luận cứ bào chữa cho bị cáoMỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý:1. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sựTrong quá trình phân tích vụ việc, nghiên cứu hồ sơ vụ án là khâu quan trọng để đi đến những lập luận hợp pháp có lợi nhất. Có những phương pháp nghiên cứu khác nhau cho từng loại hồ sơ tuỳ theo lĩnh vực : hồ sơ của vụ việc hành chính, dân sự, hình sự… Tuy nhiên, điển hình và tiêu biểu nhất vẫn là kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự1. Khái niệm về hồ sơ vụ án hình sự:Hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các văn bản, tài liệu được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập hoặc lập ra trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, được sắp xếp theo một trình tự nhất định phục vụ cho việc giải quyết vụ án và lưu trữ lâu dài.Thông thường hồ sơ vụ án hình sự được sắp xếp theo một trình tự nhất định, theo nhóm tài liệu, lấy thời gian thu thập làm căn cứ để sắp xếp theo thứ tự tài liệu thu thập trước để ở trên, tài liệu thu thập sau để ở dưới, cụ thể như sau:– Các văn bản về khởi tố vụ án, khởi tố bị can– Các văn bản về thủ tục trong việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn– Các tài liệu về kết quả điều tra không thuộc lời khai của những người tham gia tố tụng– Biên bản ghi lời khai của người tham gia tố tụng– Tài liệu về nhân thân bị can– Tài liệu về nhân thân người bị hại– Các tài liệu về đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra– Tài liệu kết thúc điều tra– Tài liệu về truy tố– Tài liệu trong giai đoạn xét xử– Các tài liệu của Toà án cấp trên khi huỷ án điều tra lại hoặc xét xử lại (nếu có)Việc nghiên cứu cách sắp xếp hồ sơ vụ án cho phép Luật sư nhìn nhận một cách tổng thể các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để có phương pháp nghiên cứu khoa học, hiệu quả và trích dẫn tài liệu, bút lục có trong hồ sơ đúng và chính xác. Mặt khác, luật sư phải nhớ thứ tự sắp xếp hồ sơ vụ án để khi kết thúc việc nghiên cứu hồ sơ, bàn giao lại hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng không bị thất lạc, mất thời gian tìm lại, đồng thời học cách sắp xếp tiểu hồ sơ của mình để tiện cho việc tra cứu, trích dẫn khi thực hiện bào chữa tại phiên toà.>>>>> Số điện thoại luật sư tư vấn miễn phí2. Khái niệm Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các họat động của Luật sư: xem xét, đọc, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhằm nắm vững bản chất vụ án, diễn biến của hành vi phạm tội, qua đó xác định sự thật khách quan của vụ án. Trên cơ sở đó, luật sư xác định những vấn đề cần trao đổi, đề xuất với cơ quan tiến hành tố tụng cũng như chuẩn bị kế hoạch, xác định phương án bào chữa hoặc phương án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ Luật sư cần phải nghiên cứu hồ sơ một cách tòan diện và đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tránh tư tưởng chủ quan chỉ nghiên cứu những tài liệu mà mình cho là quan trọng, còn các tài liệu khác thì bỏ qua. Tuỳ theo hồ sơ vụ án cụ thể, Luật sư có thể nghiên cứu hồ sơ theo thứ tự thời gian diễn ra, theo trình tự tố tụng hoặc theo từng tập tài liệu liên quan đến từng người tham gia tố tụng. Yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu đầy đủ, ghi chép, lập được hệ thống chứng cứ của vụ án để làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch bào chữa, đề cương bào chữa hoặc luận cứ bảo vệ quyền lợi cho đương sự.3. Phương pháp nghiên cứu hồ sơ:Phương pháp nghiên cứu hồ sơ là cách thức Luật sư có thể nghiên cứu hồ sơ vụ án theo trình tự tố tụng diễn ra theo thời gian bắt đầu từ quyết định khởi tố vụ án rồi mới nghiên cứu các tài liệu xác định về về hành vi phạm tội của bị can…Người bào chữa có thể nghiên cứu hồ sơ không theo trình tự tố tụng , phương pháp này bắt đầu từ việc nghiên cứu Cáo trạng của Viện kiểm sát tiếp đến là Kết luận điều tra và các tài liệu khác. Nghiên cứu theo phương pháp này cho phép nghiên cứu hồ sơ qua đó kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của các quyết dịnh tố tụng. Mỗi phương pháp có thế mạnh khác nhau, tuỳ theo từng hồ sơ vụ án, tính chất phức tạp, số lượng bị can, bút lục có trong hồ sơ của vụ án, thời gian vật chất dành cho việc nghiên cứu, vị trí tham gia tố tụng của người được trợ giúp pháp lý, người bào chữa có thể sử dụng một trong các phương pháp hoặc kết hợp các phương pháp nghiên cứu thích hợp để đạt hiệu quả cao.4. Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự:4.1 Kỹ năng nghiên cứu bản cáo trạng:Luật sư nghiên cứu bản cáo trạng để hiểu nội dung của vụ án, diễn biến hành vi phạm tội của bị can, yêu cầu giải quyết bồi thườngthiệt hại (nếu có) và quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát. Khi nghiên cứu bản cáo trạng, Luật sư cần ghi chép lại đầy đủ các hành vi phạm tội của bị can; tội danh, điều khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát viện dẫn để truy tố; các chứng cứ được Viện kiểm sát dùng làm căn cứ xác định tội phạm , người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị hại, đương sự. Thông qua nghiên cứu cáo trạng, luật sư cần rút ra được những điểm quan trọng liên quan đến việc bào chữa, bảo vệ.Cùng với việc nghiên cứu cáo trạng, Luật sư cần đọc biên bản giao nhận cáo trạng để tìm hiểu xem bị can có đồng ý với nội dung bản cáo trạng hay không? nếu không đồng ý thì ý kiến của bị can như thế nào, bị can có đưa ra được những chứng cứ để bác bỏ một phần hay toàn bộ nội dung quyết định truy tố hay không? Thông thường, những bị can đồng ý với nội dung bản cáo trạng thì ra phiên toà sẽ nhận tội, ít phản cung; những bị can không chấp nhận nội dung bản cáo trạng thì sẽ không nhận tội và thường thay đổi lời khai. Trường hợp bị can không đồng ý với nội dung bản cáo trạng Luật sư cần nghiên cứu kỹ các chứng cớ để xác định sự thật của vụ án và trao đổi với họ.4.2 Kỹ năng nghiên cứu bản kết luận điều tra:Luật sư nghiên cứu bản kết luận điều tra để hiểu rõvề diễn biến của tội phạm, các chứng cứ mà cơ quan điều tra dùng để hiểu rõ về diễn biến của tội phạm , các chứng cứ mà Cơ quan điều tra dùng để chứng minh tội phạm và quan điểm, ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của Cơ quan điều tra.Trong quá trình nghiên cứu bản kết luận điều tra, Luật sư cần so sánh, đối chiếu, ghi lại những hành vi của bị cáo có nêu trong cáo trạng nhưng không được đề cập trong kết luận điều tra ; những điểm mâu thuẫn giữa bản cáo trạng và kết luận điều tra; quan điểm, ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của cơ quan điều tra có lợi cho người được trợ giúp pháp lý mà mình bào chữa, bảo vệ.4.3 Kỹ năng nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can:Khi nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can, Luật sư cần làm rõ xem bị can có nhận những hành vi nêu trong cáo trạng hay không. trường hợp bị can nhận tội thì tìm hiểu tư tưởng, động cơ, mục đích, việc thực hiện hành vi phạm tội và sự ăn năn, hối cải của bị can như thế nào? Trên cơ sở đó xác định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo như hìan cảnh phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, động cơ, muc đích phạm tội, nhân thân của bị can. Trong trường hợp bị can không nhận tội, Luật sư nghiên cứu biên bản hỏi cung bị can để nắm được các lý lẽ, chứng cứ mà bị can đưa ra để bào chữa cho mình.Khi nghiên cứu các biên bản hỏi cung, Luật sư cần ghi lại theo trình tự thời gian: các hình vi bị can nhận như trong cáo trạng (có trích dẫn bút lục); hành vi nào cáo trạng nêu nhưng bị can không thừa nhận, các lý lẽ bị can đưa ra để bào chữa, chứng minh cho mình không có những hành vi đó? Hành vi nào ban đầu bị can nhận tội nhưng sau đó không thừa nhận nữa (ghi rõ tội nhận tội ở biên bản hỏi cung nào, bút lục nào?).Khi nghiên cứu các biên bản hỏi cung, Luật sư cần kiểm tra về thủ tục tố tụng: xem biên bản hỏi cung đầu tiên có ghi phần giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can hay không; biên bản hỏi cung có bị tẩy xóa, sửa chữa hay viết thêm hay không? Nếu bị sửa chữa thì có chữ ký xác nhận của bị can hay không? Trong trường hợp biên bản hỏi cung ghi cả thái độ, cử chỉ của bị can trong lúc trả lời như bị can cúi đầu, im lặng, không trả lời, lý do bị can không ký vào biên bản…thì Luật sư cần ghi lại và lưu ý làm rõ nguyên nhân, trong nhiều trường hợp những cử chỉ, hành vi này thể hiện diễn biến tâm lý, đấu tranh tư tưởng của bị can khi khai báo hoặc bị can phản ứng việc làm sai trái của Điều tra viên.4.4 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng:Luật sư nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng để hiểu rõ sự việc phạm tội xảy ra có những người nào biết, nghiên cứu những xác nhận của họ về các tình tiết của sự việc như thế nào. Trên cơ sở đó, Luật sư sử dụng lời khai của những người làm chứng để bảo vệ cho bị cáo hoặc đương sự. Khi nghiên cứu bản ghi lời khai của người làm chứng trực tiếp hay gián tiếp biết về tình tiết của vụ án; mối quan hệ của người làm chứng với bị can, bị cáo, người bị hại như thế nào? Khi người làm chứng tiếp nhận các thông tin về tội phạm thì các điều kiện chủ quan (tinh thần, tuổi tác, nghề nghiệp, khả năng tiếp thu thông tin, nhận thức của người làm chứng…) và điều kiện khách quan ( không gian , thời gian, thời tiết, ánh sáng, âm thanh..nơi xảy ra vụ án) tác động ra sao? Những tình tiết trong lời khai của người làm chứng cần được sử dụng để bảo vệ cho bị can , bị cáo (ghi rõ số bút lục). Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa các lời khai của một người làm chứng teong các lần khai khác nhau hoặc mâu thuẫn giữa các lời khai của những người làm chứng thì phải tìm ra nguyên nhân, kiểm tra tính xác thực, trong trường hợp cần thiết phải đối chiếu với các lời khai, chứng cứ khác.4.5 Kỹ năng nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hạiLuật sư nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại để nắm vững diễn biến của tội phạm, các hành vi phạm tội của bị can, bị cáo đã thực hiện như thế nào? mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, quan điểm của người bị hại hoặc nhân thân của họ về việc giải quyết vụ án và yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Khi nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người bị hại, cần chú ý so sánh, đối chiếu các lời khai của người bị hãi trong các lần khác nhau xem có phù hợp hay mâu thuẫn với nhau; đối chiếu giữa lời khai của người bị hại với lời khai của bị can, bị cáo thì Luật sư cần làm rõ mâu thuẫn trong lời khai của người bị hại với thực tế khách quan và với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nếu bảo vệ cho người bị hại, Luật sư cần nghiên cứu và ghi lại những tình tiết xac định hành vi phạm tội của bị can, bị cáo và các chứng cứ xác định về việc bồi thường thiệt hại là có cơ sở.4.6 Kỹ năng nghiên cứu biên bản đối chấtTrong hồ sơ vụ án có thể có nhiều biên bản đối chất giữa các bị can, bị cáo với nhau; biên bản đối chất giữa bị can và người làm chứng…Khi tham gia tố tụng, Luật sư cần nghiên cứu các biên bản này để có cơ sở đánh giá những lời khai còn mâu thuẫn. Nếu lời khai trong biên bản đối chất có lợi cho người được trợ giúp pháp lý thì cần ghi lại để sử dụng trong quá trình bảo vệ, bào chữa.4.7 Kỹ năng nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra …Nghiên cứu các biên bản khám xét, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, biên bản thực nghiệm điều tra… nhằm kiểm tra xem các loại biên bản này có được thực hiện theo đúng trình tự và thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định hay không như có ghi trong thành phần người tham gia, ý kiến người chứng kiến hay không; những đồ vật cần niêm phong có chữ ký của chủ quản đồ vật hay không. Đối với hoạt động điều tra, thu thập vật chứng, Luật sư cần chú ý địa điểm và cách thức thu thập vật chứng, các đặc điểm riêng của vật chứng, quá trình thu thập vật chứng. Luật sư cần so sánh vật chứng với các chứng cứ khác xem có phù hợp hay không để xác định giá trị chứng minh nguồn chứng cứ này.4.8 Kỹ năng nghiên cứu kết luận giám định:Nghiên cứu kết luận giám định nhằm kiểm tra các điều kiện để đưa ra kết luận giám định có được bảo đảm hay không (vật chứng, số lượng, chất lượng đồ vật, tài liệu gửi đi giám định, thủ tục yêu cầu giám định…); các phương pháp được áp dụng để thực hiện giám định có cơ sở khoa học hay không. Luật sư cần so sánh kết luận giám định với các chứng cứ khác của vụ án để đánh giá độ chính xác của kết luận giám định. Nếu thấy kết quả giám định không có cơ sở tin cậy (thiếu cơ sở khoa học, không phù hợp với thực tiễn khách quan…) thì ghi lại và đề nghị với Tòa án yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại.4.9 Kỹ năng nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo và các biên bản, tài liệu khác.Luật sư cần nghiên cứu giấy tờ về lý lịch của bị can, bị cáo để hiểu rõ về nhân thân của họ; cần ghi tóm ắtt hoàn cảnh gia đình, điều kiện sống của bị can, bị cáo. Đặc biệt khi bào chữ cho bị can, bị cáo phải chú ý ghi lại những điểm về nhân thân bị can, bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt để làm cơ sở đề nghị Toà án xem xét quyết định hình phạt. trường hợp luật sư bảo vệ cho người bị hại thì cần ghi lại những đặc điểm nhân thân bất lợi cho bị cáo như bị cáo có tiền án, tiền sự, những lần vi phạm pháp luật của bị cáo…Khi tham gia tố tụng, Luật sư cần nghiên cứu các biên bản, tài liệu khác như biên bản giao nhận cáo trạng, các biên bản xác minh của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; các nhận xét và đề nghị của các cơ quan đoàn thể; các đơn từ khiếu nại và yêu cầu của những người tham gia tố tụng. Luật sư cần nghiên cứu kỹ các tài liệu này nhằm tìm ra những chứng cứ có lợi cho thân chủ mà mình bảo vệ, bác bỏ những điểm mâu thuẫn, bất hợp lý để đề nghị Toà án bác bỏ, bảo vệ quyền lợi cho thân chủ.5. Kỹ năng chuẩn bị luận cứ bào chữa cho bị cáoDù luật sư giỏi đến đâu chăng nữa, trước khi tham dự phiên tòa đều phải chuẩn bị đề cương chi tiết bài bào chữa, trong đó đặc biệt chú ý đến luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích cho bị cáo trên cơ sở những nhận định, đánh giá, buộc tội bì cáo trong hồ sơ vụ án và các tài liệu, chứng cứ, vật chứng có liên quan đến vụ án.Kết quả bào chữa phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị bài bào chữa. Nó giúp cho người bào chữa tự tin, giữ được tâm lý chủ động trong quá trình tranh tụng và lịp thời bổ sung thêm những lậun cứ mới phát sinh trong quá trình tranh tụng. Nếu không chuẩn bị tốt bài bào chữa, Luật sư sẽ rơi vào tình thế bị động, bào chữa tản mạn, dài dòng, lập luận không logic, chặt chẽ, thậm chí dùng những thuật ngữ không chính xác, bỏ sót những tình tiết có lợi cho bị cáo hoặc đương sự, không tập trung vào vấn đề mang tính bản chất nhằm gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.Để chuẩn bị bản luận cứ bào chữa tốt thì người bào chữa phải tổng hợp các tài liệu đã có trong hồ sơ, các tài liệu thu thập được sau khi nghiên cứu hồ sơ, các tài liệu do bị cáo và thân nhân của họ cung cấp; các tài liệu thu nhập được trong quá trình gặp người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án, các tài liệu đã xuất trình với cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị họ ch6áp nhận làm chứng cứ của vụ án và các văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, Luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hình sự,…mà người bào chữa sẽ sử dụng và viện dẫn khi bào chữa.Để xây dựng được một bài bào chữa ngắn gọn, xúc tích, lập luận chặt chẽ, logic và có sức thuyết phục, Luật sư phải tập trung trí tuệ phân tích các quan điểm, nhận định, đánh giá luận cứ buộc tội của Kiểm sát viên về diễn biến vụ án, đặc điểm phạm tội, các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và các luận cứ buộc tội. Trên cơ sở đó, so sánh với nhận định, đánh giá, quan điểm của mình sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét hiện trường, tài liệu, chứng cứ, vật chứng có liên quan, tìm hiểu nhân thân bị cáo và tham khảo ý kiến cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quanhoặc biết vụ việc và đưa ra luận cứ của mình.Thông thường nội dung của bài bào chữa gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận.– Phần mở đầu của bài bào chữa bao giờ cũng bắt đầu từ những lời thưa gửi xã giao, lịch thiệp: “Kính thưa Hội đồng xét xử; kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, thưa các quý vị…” thể hiện sự tôn trọng với tất cả mọi người. Sau đó, người bào chữa tự giới thiệu về bản thân mình, về tổ chức chủ quản, về lý do tham gia bào chữa, bảo vệ cho thân chủ. Ví dụ: Kính thưa Hội đồng xét xử, kính thưa vị đại diện Viện kiểm sát, tôi là Nguyễn Văn A, trợ giúp viên pháp lý (Luật sư là cộng tác viên) của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố Đà Nẵng nhận nhiệm vụ bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý là bị cáo Nguyễn Văn B tại phiên toà sơ thẩm hôm nay.Có nhiều cách để mở đầu khác nhau nhưng nhìn chung, phần mở đầu phải giới thiệu để Hội đồng xét xử, những người tham gia phiên toà biết được người bào chữa, bảo vệ là ai, lý do tham gia bào chữa và bào chữa cho ai? Yêu cầu của phần mở đầu là phải gậy được sự chú ý cho ngừơi nghe, kích thích được sự quan tâm của tất cả những người có mặt ở phiên tòa và định hướng cho họ tiếp nhận những quan điểm, ý kiến tranh luận của Luật sư. Vì vậy, phần mở đầu cần ngắn gọn, rõ ràng, khúc triết, gây chú ý cho ngườ nghe ngay từ đầu.– Phần nội dung của bài bào chữa cần tập trung phân tích những nhận định, đánh giá, luận cứ buộc tội của cáo trạng và đưa ra những chứng cứ pháp lý chứng minh sự không đầy đủ, mâu thuẫn, không phù hợp với sự thật khách quan của vụ án để phủ nhận lời cáo buộc của Viện kiểm sát và gỡ tội cho bị cáo. Trong phần này phải nêu ra được các chứng cứ, phân tích được các tình tiết có lợi cho thân chủ, phải viện dẫn các căn cứ pháp luật theo hướng có lợi cho thân chủ để từ đó chứng minh cho định hướng bào chữa của mình. Trong trường hợp có tình tiết mới Luật sư thu thập được chứng cứ gỡ tội, giảm nhẹ tội thì sử dụng để bác bỏ luận cứ buộc tội của Viện kiểm sát. Để có luận cứ gỡ tội hoặc đề nghị giảm nhẹ tội, Luật sư phải nêu lên được điều kiện (nguyên nhân phạm tội), phân tích đặc điểm nhân cách của thân chủ lúc phạm tội dẫn đến động cơ phạm tội, làm rõ nguyên nhân dẫn đến bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và cấu trúc của hành vi phạm tội. Trong nhiều trường hợp, động cơ phạm tội quyết định hình thức lỗi là tình tiết định tội, định khung hình phạt, nhưng đồng thời cũng là những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Luật sư cần chú ý đề cập đến những vấn đề trên khi nó có tác dụng gỡ tội hoặc là tình tiết giảm nhẹ tội.– Phần kết luận của bài bào chữa cần ngắn gọn và biểu cảm, trong đó khẳng định quan điểm, nhận định cuối cùng của người bào chữa với những chứng cứ pháp lý rõ ràng và đưa ra những đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm, khoản, điều của các luật tương ứng để từ đó đưa ra những kết luận có lợi cho người được trợ giúp pháp lý cũng như việc giải quyết vần đề khác của vụ án. Cuối cùng, Luật sư thể hiện sự tin tưởng vào phán quyết công minh, bình đẳng, khách quan và đúng pháp luật của Hội đồng xét xử và chân thành cảm ơn.MỘT SỐ ĐIỂM CẦN LƯU Ý:1. Khi chuẩn bị luận cứ bào chữa, sau mỗi ý phải để khoảng trống, cách dòng để có thể bổ sung thêm được những nội dung mới phát sinh tại Toà án, tránh phải sửa chữa, tẩy xoá trong bản bào chữa. Đây là kinh nghiệm thực tiễn có nhiều tiện ích nên người bào chữa cần lưu ý.2.Bài bào chữa dù soạn thảo cẩn thận đến đâu cũng không phải là hoàn hảo nhất vì nó được chuẩn bị trên cơ sở những gì đã có trong hồ sơ vụ án và những chứng cứ, tài liệu thu thập được. Nó có thể chưa đầy đủ hoặc thừa, vô dụng khi tại phiên toà phát sinh những tình tiết mới, sự kiện mới, chứng cứ mới hoặc bên buộc tội tự rút bỏ hoặc bổ sung thêm những chứng cứ buộc tội của mình. Vì vậy, luật sư cần phải tập trung cao độ chú ý lắng nghe khi Kiểm sát viên đọc bản luận tội, và những câu hỏi, trả lời, ý kiến tranh luận của những người tham gia phiên toà để kịp thời điều chỉnh quan điểm, nhận xét, đánh giá và đưa ra luận cứ gỡ tội phù hợp;3. Khi tranh tụng tại Toà án, Luật sư nên sử dụng đề cương chi tiết của bài bào chữa mà không nên đọc bài bào chữa chuẩn bị sẵn. Như vậy sẽ giúp cho luật sư tự tin và tự nhiên hơn, tự do, thoải mái hơn mà không phụ thuộc nhiều vào bài bào chữa. Đương nhiên là Luật sư phải thuộc bài bào chữa đã được chuẩn bị.4.Trước khi tham dự phiên toà, người bào chữa phải kiểm tra bản bào chữa, bài bảo vệ bằng cách đọc lại và rà soát lại nội dung, luận cứ bào chữa, đồng thời chuẩn bị tài liệu, chứng cứ cần thiết phục vụ bào chữa. Tài liệu, chứng cứ phục vụ bào chữa phải được sắp xếp khoa học, thuận tiện cho việc sử dụng tại phiên toà bằng cách tài liệu nào cần sử dụng trước thì để lên trên, cái nào sử dụng sau thì để xuống dưới, tráng trường hợp khi cần viện dẫn thì tìm mãi không thấy.