Danh mục
LUẬT NUÔI CON NUÔI
Bùi Lan
164 ngày trước
timeline_post_file609b3e7bca65d-z2483953196048_6190b061b4d01ae71d3233a6b03cdd00.jpg
Nghiên cứu về thủ tục nhận con nuôi đích danh của người nước ngoài quốc tịnh Newzeland
Nghiên cứu về thủ tục nhận con nuôi đích danh của người nước ngoài quốc tịnh Newzeland I.Tóm tắt nội dungLoại hình nhận con nuôi: nhận con nuôi đích danhĐối tượng nhận nuôi: du học sinh Việt NamNgười nhận nuôi: người nước ngoài Quốc gia: NewzelandII. Thế nào là nhận nuôi đích danh có yếu tố nước ngoài?Căn cứ Luật Nuôi con nuôi 2010Nghị định Số: 19/2011/NĐ-CPCó quy định về nuôi con nuôi như sau :Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài.Nuôi Con nuôi có yếu tố nước ngoài đích danh được hiểu là việc xác lập mối quan hệ cha, mẹ con với đối tượng nhận con nuôi đã được chỉ định trước, tức là được chỉ định rõ người được nhận con nuôi đó là ai.Các trường hợp nhận nuôi con nuôi đích danh có yếu tố nước ngoài trong các trường hợp sau:Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi;Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm.Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam.Căn cứ pháp lý :Căn cứ Luật con nuôi 2010 được Quốc Hội ban hành ngày 17 tháng 06 năm 2010Nghị định 24/2019/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 19/2011/NĐ-CP Thông tư số 24/2014/TT-BTP sửa đổi bổ sung một số điều của thông tư số 12/2011/TT-BTPIII.Hồ sơGiấy tờ cần chuẩn bị đối với người nhận nuôi1.Đơn xin nhận con nuôi Thông tư Số: 24/2014/TT-BTP02 bản Bản dịch công chứngNộp trực tiếp tại Bộ tư pháp cụ thể tại Cục con nuôi Việt Nam 2.Bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế (Visa) 02 bản Bản sao chứng thực do :Đại sứ quán hoặc Bộ ngoại giao Newzealand cấpVisa xin tại cục xuất nhập cảnh Việt Nam. 3.Văn bản cho phép được nhận con nuôi ở Việt Nam;4.Tờ khai hoàn cảnh gia đình của người nhận con nuôi02 bản Bản dịch, công chứng, có xác nhận của nước đó5.Văn bản xác nhận tình trạng sức khỏe ( Giấy khám sức khỏe)02 Bản -Bản gốc (khi khám tại bệnh viện có chức năng khám cho người nước ngoài ở Việt Nam như Hồng Ngọc…)  hoặc bản dịch, công chứng (khi khám tại các bệnh  viện Newzealand (giá trị trong 06 tháng) 6.Văn bản xác nhận thu nhập và tài sản (02 bản gốc) :Sao kê tài khoản ngân hàng (Xin tại ngân hàng)Hoặc bảng lương (xin tại đơn vị công tác, làm việc) Hợp đồng lao động 7.Phiếu lý lịch tư pháp :02 Bản Bản dịch công chứng , bản hợp pháp hóa lãnh sựCơ quan tư pháp ở newzealand cấpSau đó được hợp pháp hóa lãnh sự tại lãnh sự quán của Việt Nam tại Newzealand8.Tờ khai xác nhận về tình trạng hôn nhân của mình: độc thân, đã ly hôn, đã kết hôn : 02 Bản Bản dịch công chứng 9.Các giấy tờ chứng minh người nhận nuôi thuộc các trường hợp như :  Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi (Bản sao giấy chứng nhận kết hôn của cha dượng hoặc mẹ kế với mẹ đẻ hoặc cha đẻ của người được nhận làm con nuôi) Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi (Sổ hộ khẩu …) Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm (Hộ chiếu , Visa, giấy phép lao động, thẻ tạm trú)Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam ( Thẻ thường trú )Nơi cấp : Hộ chiếu – Bộ ngoại giao Newzealand; Visa, thẻ tạm trú , thẻ thường trú – cục xuất nhập cảnhViệt Nam; Giấp phép lao động – sở Lao động Việt NamGiấy tờ cận chuẩn bị đối với người được nhận nuôi10.Giấy khai sinh : 03 bản Bản sao chứng thựcCấp tại Văn phòng công chứng hoặc UBND phường xã, Phòng tư pháp quận/huyện…11.Giấy khám sức khỏe : 03 bản Bản gốc hoặc bản sao chứng thựcGiá trị 06 tháng, bệnh viện từ huyện hoặc bệnh viện đa khoa.12.Ảnh toàn thân, nhìn thẳng : 02 ảnh chụp không quá 06 tháng13.Bản thuyết về đặc điểm, sở thích, thói quen đáng lưu ý của trẻ em: 03 bản Bản gốc điền theo mẫu14.Biên bản lấy ý kiến của cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ về việc cho trẻ em làm con nuôi nước ngoài : 03 bản Điền theo mẫuIV.Trình tự , thủ tục 1.Trình tự thực hiện.Bước 1: Người nhận con nuôi phải trực tiếp nộp hồ sơ nhận con nuôi và Phí , lệ phí  tại trụ sở của cơ quan đại diện nơi đăng ký việc nuôi con nuôi.=> Nộp tại Bộ tư pháp cụ thể tại Cục con nuôi.Trường hợp có lý do chính đáng mà không thể trực tiếp nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi, người nhận con nuôi ủy quyền bằng văn bản cho người có quan hệ họ hàng, thân thích thường trú tại Việt Nam nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi hoặc gửi hồ sơ cho Cục Con nuôi qua đường bưu điện theo hình thức gửi bảo đảm (Văn bản ủy quyền) Bước 2. Trước khi đăng ký việc nuôi con nuôi, cán bộ lãnh sự, hộ tịch phải kiểm tra, xác minh kỹ các nội dung sau đây:a) Tính tự nguyện của việc cho và nhận con nuôi;b) Tư cách của người nhận con nuôi;c) Mục đích nhận con nuôi.Thời hạn kiểm tra, xác minh các nội dung trên không quá 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp cần phải xác minh thêm, thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 5 ngày.Sau thời hạn nói trên, nếu xét thấy việc cho và nhận con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký việc nuôi con nuôi.Bước 3. Cục con nuôi cho ý kiến để Sở Tư pháp hướng dẫn lập hồ sơ trẻ em như nêu ở bước 3 và Cơ sở nuôi dưỡng hoặc gia đình hoàn tất 04 bộ  hồ sơ của trẻ em nộp cho Sở Tư phápBước 5:   Sở tư pháp công nhận việc nuôi con nuôiBước 6. Bên nhận và bên giao con nuôi đến Sở Tư pháp để tổ chức lễ  giao nhận con nuôi và ký vào Sổ đăng ký nhận con nuôi tại Sở Tư pháp (Sau  khi UBND tỉnh ký Quyết định cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi). Việc giao nhận con nuôi phải được lập thành biên bản: Biên bản giao nhận con nuôi theo mẫu TP/CN-2011/CNNNg.062.Thời hạn giải quyết -         05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ10 ngày làm việc trong trường hợp phải xác minh ( xác minh tính tự nguyện của việc cho và nhận con nuôi; Tư cách của người nhận con nuôi; Mục đích nhận con nuôi)Thời gian người nhận con nuôi có mặt ở Việt Nam để trực tiếp nhận con nuôi: 60 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Sở Tư pháp hoặc không quá 90 ngày, trong trường hợp có lý do chính đáng không thể có mặt tại lễ giao nhận con nuôi đúng thời hạn 60 ngày.3.Phí , lệ phí Nhà nước       Thu lệ phí đăng ký nuôi con nuôi: 9.000.000 đồng/trường hợp.Cục Con nuôi (Bộ Tư pháp) thu lệ phí đăng ký nuôi con nuôi nước  ngoài     Điều 5 và 6  nghị định Số: 114/2016/NĐ-CP)
Lê Tún Anh
164 ngày trước
timeline_post_file609a4e1ea0590-Nz_info.jpg
Nhận nuôi con nuôi đích danh đối với người nước ngoài
Thủ tục nhận con nuôi đích danh đối với người nước ngoàiI. Tóm tắt:- Bác người Việt Nam đã định cư ở Newzealand;- Năm 2021, người cháu ruột 20 tuổi đang sinh sống cùng bố mẹ tại Việt Nam;- Người bác và người mẹ là 2 anh em ruột;- Nay, người bác muốn nhận con nuôi đích danh người cháu 20 tuổi.II. Cơ sở pháp lý:1. Luật nuôi con nuôi 2010: - Điều 28.Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây: b). Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi; - Điều 30. Hợp pháp hoá lãnh sự giấy tờ, tài liệu:Giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ của người nhận con nuôi, hồ sơ của tổ chức con nuôi nước ngoài do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận phải được hợp pháp hoá lãnh sự khi sử dụng ở Việt Nam, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.- Điều 31. Hồ sơ của người nhận con nuôi: 3). Hồ sơ của người nhận con nuôi được lập thành 02 bộ và nộp cho Bộ Tư pháp thông qua cơ quan trung ương về nuôi con nuôi của nước nơi người nhận con nuôi thường trú; trường hợp nhận con nuôi đích danh quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật này thì người nhận con nuôi có thể trực tiếp nộp hồ sơ cho Bộ Tư pháp.2. Nghị định 19/2011/NĐ-CP:- Điều 2: Đối với việc nuôi con nuôi nước ngoài, thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh), nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi.Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi nước ngoài sau khi có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.- Điều 17: Trường hợp nhận con nuôi đích danh, thì người nhận con nuôi trực tiếp nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi. Trường hợp có lý do chính đáng mà không thể trực tiếp nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi, người nhận con nuôi ủy quyền bằng văn bản cho người có quan hệ họ hàng, thân thích thường trú tại Việt Nam nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi hoặc gửi hồ sơ cho Cục Con nuôi qua đường bưu điện theo hình thức gửi bảo đảm.III. Hồ sơ:1. Hồ sơ nộp tại trụ sở của Cục con nuôi thuộc Bộ Tư Pháp (04 bộ) STTLoại văn bảnVăn bảnTình trạngGhi chú1Tờ khai đăng ký việc nuôi con nuôiTheo mẫu do Trụ sở của cơ quan đại diện Việt Nam tại NewzeaLand cấpBản chínhDán ảnh 4x6 chụp không quá 6 tháng2Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt NamHộ chiếu, VisaBản sao 3Giấy thỏa nhận về việc cho và nhận con nuôiTheo mẫu do Trụ sở của cơ quan đại diện Việt Nam tại NewzeaLand cấpBản chínhNếu người được nhận nuôi trên 9 tuổi thì phải có ý kiến của người đó trong Giấy thỏa thuận4Văn bản cho phép được nhận con nuôi ở Việt Nam Bản chínhDo cơ quan có thẩm quyền nơi người xin nhận con nuôi thường trú cấp5Văn bản xác nhận sức khỏe-Giấy khám sức khỏeBản chínhDo cơ quan có thẩm quyền nơi người xin nhận con nuôi thường trú cấp6Văn bản xác nhận thu nhập và tài sản-Giấy xác nhập thu nhập;-Bảng lương; Sao kê tài khoản trả lương qua ngân hàng;-Đăng ký kinh doanh;-Hóa đơn tiền điện nước; Sổ tiết kiệm;………. Bản chínhDo cơ quan có thẩm quyền nơi người xin nhận con nuôi thường trú cấp7Phiếu lý lịch tư pháp-Phiếu pháp lý tư pháp số 1;Bản chínhDo cơ quan có thẩm quyền nơi người xin nhận con nuôi thường trú cấp8Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân-Giấy đăng ký kết hôn.-Bản án, quyết định của Tòa án về ly hôn;….Bản sao có chứng thựcDo cơ quan có thẩm quyền nơi người xin nhận con nuôi thường trú cấp9Tài liệu chứng minh người nhận con nuôi là cô, cậu, dì, chú, bác ruột với người được nhận làm con nuôi đích danh-Giấy xác nhận quan hệ;-Sổ hộ khẩu;-Giấy khai sinh;Bản chính 10Văn bản ủy quyền-Giấy ủy quyền cho người có quan hệ họ hàng, thân thích thường trú tại Việt Nam nộp hồ sơBản chínhNgười nhận nuôi không thể trực tiếp nộp tại Cục con nuôi thuộc Bộ Tư Pháp***Các văn bản được cấp chưa quá 12 tháng tại thời điểm nộp hồ sơ tại Việt Nam.  2. Hồ sơ của trẻ em được nhận làm con nuôi ( hồ sơ 4 bản ) gồm:STTLoại văn bảnVăn bảnTình trạngGhi chú1Giấy khai sinh Bản sao chứng thực 2Giấy khám sức khỏe Bản chínhDo cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp.3Hộ khẩuHộ khẩu; Giấy đăng ký tạm trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ Bản sao chứng thực 4Ảnh người được nhận con nuôiẢnh toàn thân, nhìn thẳng2 ảnh (10x15cm)Chụp không quá 6 tháng IV. Trình tự thực hiện:- Bước 1: Cá nhân làm đơn xin nhận trẻ em làm con nuôi (theo mẫu); xin Giấy phép/Giấy xác nhận đủ điều kiện nhận con nuôi do cơ quan có thẩm  quyền nơi người xin nhận con nuôi thường trú cấp; xin Giấy khám sức khoẻ;  xin Giấy tờ xác nhận thu nhập; Bản điều tra về tâm lý, gia đình, xã hội của  người xin nhận con nuôi, xin cấp LLTP. - Bước 2: Cá nhân đến cơ quan có thẩm quyền chứng thực sao y Hộ  chiếu, Visa, Giấy chứng nhận kết hôn. - Bước 3: Lập hồ sơ trẻ em: Bản sao Giấy khai sinh của trẻ em làm con nuôi, Giấy đồng ý cho trẻ em làm con nuôi, Giấy khám sức khoẻ của trẻ em,  02 ảnh của trẻ em (10x15 cm); Trẻ em đang sống tại gia  đình, phải có bản sao hộ khẩu hoặc Giấy đăng ký tạm trú của cha, mẹ hoặc  người giám hộ. - Bước 4: Người xin nhận con nuôi hoặc văn phòng con nuôi nước ngoài  tại Việt Nam được ủy quyền đến Cục con nuôi nộp hồ sơ và phí. - Bước 5: Cục con nuôi cho ý kiến để Sở Tư pháp hướng dẫn lập hồ sơ  trẻ em như nêu ở bước 3 và Cơ sở nuôi dưỡng hoặc gia đình hoàn tất 04 bộ  hồ sơ của trẻ em nộp cho Sở Tư pháp. - Bước 6: Nộp toàn bộ hồ sơ của bên nhận, hồ sơ trẻ em và lệ phí tại Sở Tư pháp. - Bước 7: Bên nhận và bên giao con nuôi đến Sở Tư pháp để tổ chức lễ  giao nhận con nuôi và ký vào Sổ đăng ký nhận con nuôi tại Sở Tư pháp (Sau  khi UBND tỉnh ký Quyết định cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi). b) Cách thức thực hiện: Nộp hồ sơ trực tiếp tại Sở Tư pháp sau khi Cục con nuôi đồng ý hồ sơ của bên nhận và bên con nuôi Thành phần, số lượng hồ sơ:  - Thành phần hồ sơ, bao gồm : + Bản chính: Đơn; Giấy phép/Giấy xác nhận đủ điều kiện nhận con nuôi; Giấy khám sức khoẻ; Bản điều tra về tâm lý, gia đình, xã hội, Giấy xác  nhận thu nhập; PLLTP; Giấy đồng ý cho trẻ em làm con nuôi; 02 ảnh của trẻ em (10 x 15 cm); Quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiếp nhận  trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng (trẻ em đang ở cơ sở nuôi dưỡng). Nếu trẻ em đang sống tại gia đình, phải có bản sao hộ khẩu hoặc Giấy  đăng ký tạm trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ. + Bản sao: Giấy khai sinh của trẻ em, Giấy chứng nhận kết hôn (nếu có), Hộ chiếu, Visa, sổ hộ khẩu hoặc Giấy đăng ký tạm trú của cha, mẹ,  Giấy đăng ký tạm trú của người giám hộ. - Số lượng hồ sơ: + Người nhận nuôi con nuôi: 02 bộ + Con nuôi: 04 bộ
Nguyễn Thị Tố Uyên
179 ngày trước
timeline_post_file60878722573b9-quyen-nuoi-con.jpg
Thủ tục nhận con nuôi ở Úc
Nhiều người Việt tại Úc muốn nhận con cháu mình làm con nuôi và bảo lãnh sang Úc nhưng lại không biết luật pháp Úc quy định như thế nào về vấn đề này.Nhiều cha mẹ người Việt có nguyện vọng nhận con cháu trong gia đình làm con nuôi và bảo lãnh sang Úc. Thủ tục nhận con nuôi ở Úc được quy định như thế nào? Liên hệ LegalZone ngay để được tư vấn: 0888889366Bảo lãnh con ruộtCác bậc cha mẹ khi đã trở thành thường trú nhân hay công dân Úc, có thể tiến hành bảo lãnh con cái sang đoàn tụ với mình tại Úc.Tuy nhiên việc bảo lãnh con cái được quy định rất chặt chẽ theo hướng dẫn của bộ di trú. Nếu con cái của quý vị sống tại Việt Nam đã trên 18 tuổi, đã lập gia đình hay đã đi làm thì sẽ không bao giờ có thể bảo lãnh được những người con này.Điều này có nghĩa là quý vị chỉ được phép bảo lãnh những đứa con nhỏ hơn 18 tuổi.Vậy trường hợp con cái của quý vị dù trên 18 tuổi mà vẫn chưa lập gia đình, thì có thể bảo lãnh được không?Theo quy định của bộ di trú thì nếu con cái của quý vị đã trên 18 tuổi nhưng chưa đến 25 tuổi và vào thời điểm nộp đơn xin visa cũng như tại vào thời điểm bộ di trú xét hồ sơ, thì những đứa con này đang học trung học, cao đẳng hay đại học toàn thời và hoàn toàn phụ thuộc vào cung cấp tài chính của cha mẹ.Nếu con cái của quý vị đã trên 25 tuổi, nhưng chưa lập gia đình và cũng không đi học toàn thời thì có thể bảo lãnh được không?Trong trường hợp này quý vị có thể bảo lãnh nếu con cái của quý vị bị tật nguyền và không thể tự mình đi làm kiếm sống được. Tuy nhiên bộ di trú sẽ xem xét rằng liệu những người con tật nguyền này có gây ra gánh nặng cho chính phủ Úc nếu cho họ sang định cư hay không.Nếu vào thời điểm quý vị bảo lãnh con cái mà người con này đang sống với cha ruột, hay mẹ ruột hay thân nhân, thì những người này phải làm những giấy tờ xác nhận cho phép người con đó, dưới 18 tuổi được sang Úc đoàn tụ với cha hay mẹ.Thời gian chờ đợi từ khi nộp hồ sơ đến khi con cái ở Việt Nam có visa đoàn tụ với cha mẹ có thể kéo dài đến 12 hay 15 tháng.Loại visa dùng để bảo lãnh con cái theo diện nói trên là visa 101.Thủ tục nhận con nuôi ở Úc, bảo lãnh con nuôi từ Việt Nam sang Úc đoàn tụ với cha mẹ nuôiLoại visa dùng để bảo lãnh con nuôi là visa 102. Người Việt chỉ có thể bảo lãnh được con nuôi từ Việt Nam sang Úc trong trường hợp như sau.– Đã xin và nhận con nuôi hợp pháp tại Việt Nam, có giấy xác nhận của tòa án đàng hoàng, trước khi quý vị sang Úc định cư, trước khi quý vị trở thành thường trú nhân hay công dân Úc, thì quý vị mới được phép bảo lãnh người con đó.– Ví dụ khi còn sống ở Việt Nam quý vị đã nhận con của anh chị của mình làm con nuôi hợp pháp, có giấy xác nhận của tòa án. Sau đó quý vị đi định cư nhưng không mang đứa nhỏ theo vì một lý do nào đó. Tuy nhiên nay quý vị muốn mang đứa nhỏ sang định cư với mình, thì quý vị có thể làm điều đó. Loại visa mà quý vị xin để bảo lãnh đứa con nuôi của quý vị chính là loại visa 101 đã được giới thiệu ở trên.Người gốc Việt hoàn toàn không được nhận con nuôi tại Việt Nam sau khi đã trở thành thường trú nhân hay công dân Úc.Hiện tại bộ di trú Úc không cho phép công dân Úc hay thường trú nhân tại Úc nhận con nuôi từ Việt Nam.Tuy nhiên Úc và Việt Nam đang đàm phán về việc cho và nhận con nuôi giữa hai quốc gia. Hy vọng trong tương lai khi hiệp định cho và nhận con nuôi giữa Úc và Việt Nam được ký và có hiệu lực, thì quý vị sẽ có cơ hội xin và bảo lãnh con nuôi sang Úc định cư với quý vị.Tìm hiểu về visa bảo lãnh con nuôi, thủ tục nhận con nuôi ở ÚcĐây là visa vĩnh viễn cho trẻ dưới 18 tuổi đã được nhận nuôi hoặc sắp được nhận nuôi từ bên ngoài nước Úc.Cha/mẹ nuôi, hoặc cha/mẹ nuôi tương lai, phải là công dân Úc, cư dân Úc vĩnh viễn, hoặc cư dân New Zealand đủ điều kiện.Cha/mẹ nuôi, hoặc cha/mẹ nuôi tương lai, với vai trò là người bảo trợ cho đứa trẻ thường nộp đơn xin visa thay cho đứa trẻ.Bộ Di Trú chịu trách nhiệm đánh giá đơn xin visa. Bộ không thể hỗ trợ việc sắp xếp xin con nuôi.Visa này dành cho ai?Visa này dành cho trẻ ở bên ngoài nước Úc, dưới 18 tuổi và đang trong quá trình hoặc đã được nhận nuôi bởi một công dân Úc, cư dân Úc vĩnh viễn hoặc cư dân New Zealand đủ điều kiện.Visa này có lệ phí bao nhiêuVisa này sẽ có phí đơn xin visa. Phí nộp đơn xin visa sẽ không được hoàn trả ngay cả khi đơn xin visa bị từ chối hoặc quý vị rút đơn xin visa. Lệ phí xin visa bao gồm lệ phí cho người nộp đơn và bất kỳ thành viên phụ thuộc nào bao gồm trong đơn.Visa này cho phép tôi làm gì?Visa này cho phép đứa trẻ:Sống vĩnh viễn ở Úc với cha/mẹ nuôiĐến và đi khỏi Úc trong vòng 5 năm kể từ ngày visa được cấpNếu đứa trẻ muốn đến và đi khỏi Úc với tư cách cư dân vĩnh viễn sau thời gian 5 năm, chúng sẽ cần xin visa và được cấp visa Cư dân trở lại 5 năm (hạng phụ 155) hoặc, nếu đủ điều kiện, nộp đơn xin quốc tịch Úc trước khi đi lại.Visa này hoạt động như thế nào?Đứa trẻ phải đã được nhận nuôi, hoặc đang trong quá trình nhận nuôi, bởi một công dân Úc, cư dân Úc vĩnh viễn, hoặc công dân New Zealand đủ điều kiện.Đứa trẻ phải ở bên ngoài nước Úc khi đơn xin visa được nộp và khi visa được cấp.Đối tượng Nghĩa vụNgười bảo trợ (cha/mẹ nuôi hoặc cha/mẹ nuôi tương lai) Bảo trợ cho đứa trẻ Nếu visa diện con nuôi (hạng phụ 102) được cấp, người bảo trợ phải hỗ trợ đứa trẻ, bao gồm chỗ ăn ở và hỗ trợ tài chính để đáp ứng nhu cầu hợp lý của đứa trẻ trong suốt 2 năm đầu ở Úc.Đứa trẻ hoặc người nộp đơnNộp đơn xin hoàn thiện bao gồm tất cả các mẫu đơn, tài liệu hỗ trợ và lệ phí.Lưu ý: Người bảo trợ thường nộp đơn thay cho đứa trẻCác điều kiện cho đứa trẻ và người bảo trợCác điều kiện nhất định phải được đáp ứng bởi cha/mẹ nuôi hoặc cha/mẹ nuôi tương lai, nộp đơn xin visa này thay cho đứa trẻ.Cha/mẹ nuôi sống ở ÚcChính quyền nhận nuôi trung tâm tiểu bang hoặc vùng lãnh thổ Úc có liên quan (STCAA) phải tham gia trong việc quản lý quá trình nhận nuôi với đất nước mà đứa trẻ đang sống.Nếu quý vị đang cân nhắc nhận con nuôi bên ngoài nước Úc, quý vị nên liên hệ với chính quyền nhận nuôi trung tâm ở tiểu bang hay vùng lãnh thổ của quý vị.Việc nhận nuôi được thỏa thuận riêng tưChính quyền tiểu bang và vùng lãnh thổ của Úc nhìn chung không hỗ trợ việc nhận nuôi được thỏa thuận riêng tư, bao gồm cả việc nhận nuôi đứa trẻ là họ hàng. Họ sẽ không giúp người nộp đơn/người bảo trợ đáp ứng các yêu cầu của visa về việc cấp visa cho đứa trẻ được nhận nuôi.Điều quan trọng: Những người muốn thực hiện việc nhận nuôi từ nước ngoài, mà không được sắp xếp bởi chính quyền nhận nuôi tiểu bang và vùng lãnh thổ của Úc, đầu tiên nên xin tư vấn luật pháp cả ở Úc và đất nước mà đứa trẻ sống.Cha/mẹ nuôi sống ở bên ngoài nước ÚcViệc nhận nuôi được thực hiện bởi công dân Úc, cư dân Úc vĩnh viễn hoặc công dân New Zealand đủ điều kiện thường sống ở các quốc gia khác không phải Úc, và được sắp xếp mà không có sự trợ giúp của chính quyền nhận nuôi của tiểu bang và vùng lãnh thổ Úc, được coi là việc nhận nuôi của người sống ở nước ngoài.Các điều kiện cho sự bảo trợĐứa trẻ phải được nhận nuôi – hoặc trong quá trình được nhận nuôi – bởi người bảo trợ. Người bảo trợ phải từ 18 tuổi trở lên và thuộc một trong các trường hợp sau:Công dân ÚcCó visa Úc vĩnh viễnCư dân New Zealand đủ tiêu chuẩn.Lưu ý: Người bảo trợ là cư dân New Zealand đủ tiêu chuẩn phải đáp ứng các yêu cầu về sức khỏe và nhân thân.Các điều kiện cho đứa trẻĐứa trẻ phải dưới 18 tuổi vào thời điểm nộp đơn. Nếu đứa trẻ dưới 18 tuổi vào thời điểm nộp đơn, nhưng sẽ đủ 18 tuổi trước khi đơn xin được quyết định, đứa trẻ sẽ không đủ điều kiện xin visa này.Yêu cầu về sức khỏeCon cái phải đáp ứng các yêu cầu về sức khỏe.Yêu cầu về nhân thânNgười nộp đơn từ 16 tuổi trở lên phải có nhân thân tốt để vào hoặc ở lại Úc.Giới hạn về sự bảo trợ và lợi ích tốt nhất của đứa trẻKhi người nộp đơn xin visa dưới 18 tuổi, việc bảo trợ sẽ không được thông qua (ngoại trừ trong một số trường hợp) khi người bảo trợ hoặc bạn đời của người bảo trợ hoặc người trong mối quan hệ chưa chính thức của người bảo trợ đã bị kết án hoặc đang bị buộc tội xâm phạm trẻ em. Người nộp đơn cũng cần thỏa mãn yêu cầu rằng không được có lý do cảm thông để giải thích cho việc cấp visa sẽ không mang lại lợi ích tốt nhất cho người nộp đơn.Nhằm đánh giá đơn xin bảo trợ và yêu cầu về lợi ích tốt nhất của đứa trẻ, những người bảo trợ trẻ em dưới 18 tuổi và bạn đời hay người phối ngẫu của người bảo trợ được yêu cầu nộp Bản kiểm tra của cảnh sát quốc gia liên bang Úc hoặc chứng nhận của cảnh sát nước ngoài, tùy thuộc vào hoàn cảnh.Nếu người bảo trợ hoặc người phối ngẫu của họ, đã dành tổng cộng từ 12 tháng trở lên sống ở Úc kể từ năm 16 tuổi, người đó phải cung cấp Biên bản kiểm tra của cảnh sát liên bang AFP. Họ cũng phải cung cấp chứng nhận của cảnh sát từ mỗi quốc gia họ đã sống từ 12 tháng trở lên trong vòng 10 năm qua kể từ năm 16 tuổi.Ngoại trừ: Khi Chính quyền nhận con nuôi tiểu bang và vùng lãnh thổ Úc đã thông qua việc nhận nuôi, và biên bản kiểm tra của cảnh lien bang AFP đã có trong quá trình phê duyệt, thì biên bản kiểm tra của cảnh sát quốc gia AFP sẽ không được yêu cầu kèm theo đơn xin visa.Phụ thuộc vào phúc lợi xã hộiNếu người nộp đơn, hoặc người bảo trợ của họ, có khả năng trở thành người sử dụng phúc lợi xã hội của Úc, thì Cam kết hỗ trợ (Assurance of Support) từ một công dân Úc, hoặc cư dân Úc vĩnh viễn có thể được yêu cầu. Nếu được yêu cầu, Bộ sẽ thông báo Cam kết hỗ trợ sẽ được lấy như thế nào.Các nghĩa vụNếu visa này được cấp, các yêu cầu sau phải được đáp ứng.Nghĩa vụ của người nộp đơnĐứa trẻ phải tuân thủ luật pháp của Úc và bất kỳ điều kiện nào áp dụng cho visa của chúng.Ví dụ: Đứa trẻ không được kết hôn hoặc có mối quan hệ không chính thức trước khi vào ÚcNghĩa vụ của người bảo trợLà người bảo trợ, cha/mẹ nuôi, hoặc cha/mẹ nuôi tương lai phải ký cam kết bảo trợ. Khi ký cam kết này, người bảo trợ có các nghĩa vụ sau, và phải:Chịu trách nhiệm về toàn bộ nghĩa vụ tài chính với chính phủ Úc mà đứa trẻ có thể phát sinh khi chúng ở ÚcĐảm bảo chỗ ăn ở và hỗ trợ tài chính theo yêu cầu để đáp ứng nhu cầu hợp lý của đứa trẻ. Nếu đứa trẻ nộp đơn bên ngoài Úc, việc trợ giúp sẽ kéo dài trong vòng hai năm đầu ở Úc. Nếu đứa trẻ ở Úc, sự trợ giúp sẽ kéo dài 2 năm kể từ khi visa được cấp.Cung cấp thông tin và tư vấn để giúp đứa trẻ định cư tại ÚcNgoài ra, người bảo trợ phải thông báo cho bộ bằng văn bản nếu hoàn cảnh thay đổi mà có thể ảnh hưởng tới các điều kiện hợp lệ của đứa trẻ để xin visa con cái hoặc các điều kiện hợp lệ của người bảo trợ đứa trẻ.
Nguyễn Thị Tố Uyên
179 ngày trước
timeline_post_file608786c0cf708-con_nuoi_ervt.jpg
Nhận con nuôi đích danh
Có thể nói, trên thực tế, nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội đặc biệt vốn đã xuất hiện từ rất lâu ở nước ta và đây cũng là một vấn đề mang tính nhân đạo sâu sắc. Trong xã hội hiện nay đang tổn tại một thực tế, nhiều người muốn nhận đích danh một đứa trẻ làm con nuôi, ví dụ như đứa trẻ bị bỏ rơi trước cửa nhà, hoặc tình cờ tìm thấy hoặc chỉ đơn giản là xuất phát từ sự yêu mến. Vậy nhận con nuôi đích danh là gì? Cùng Legalzone tìm hiểu trong bài viết dưới đây.Căn cứ pháp lýLuật Nuôi con nuôi 2010Nghị định 19/2011/NĐ-CPNghị định 114/2016/NĐ-CPThông tư 24/2014/BTP2. Các khái niệm về nuôi con nuôiKhoản 1, 2, 3, 5 điều 3 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định và giải thích các khái niệm chung về nuôi con nuôi, cha mẹ nuôi, con nuôi và con nuôi có yếu tố nước ngoài cụ thể là:– Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi.– Cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.– Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.– Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài.Như vậy, Luật nuôi con nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành không có khái niệm cụ thể về con nuôi đích danh, đồng thời, cũng không giải thích cụ thể nhận con nuôi đích danh là gì.3. Các trường hợp nhân con nuôi đích danhNhân con nuôi đích danh được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 28 Luật nuôi con nuôi, cụ thể: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây:a) Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;b) Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;c) Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;d) Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi;Trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh làm con nuôi gồm trẻ em bị sứt môi hở hàm ếch; trẻ em bị mù một hoặc cả hai mắt; trẻ em bị câm, điếc; trẻ em bị khoèo chân, tay; trẻ em không có ngón hoặc bàn chân, tay; trẻ em nhiễm HIV; trẻ em mắc các bệnh về tim; trẻ em bị thoát vị rốn, bẹn, bụng; trẻ em không có hậu môn hoặc bộ phận sinh dục; trẻ em bị các bệnh về máu; trẻ em mắc bệnh cần điều trị cả đời; trẻ em bị khuyết tật khác hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác mà cơ hội được nhận làm con nuôi bị hạn chế.đ) Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm.Như vậy, việc nhận con nuôi đích danh chỉ áp dụng trong trường hơp có yếu tố nước ngoài, tức chỉ có Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh. 4. Hồ sơ nhận nuôi con nuôi đích danh4.1. Hồ sơ của người nhận nuôi con nuôiHồ sơ của người nhận nuôi con nuôi được quy định tại Điều 31 Luật nuôi con nuôi. Hồ sơ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có các giấy tờ, tài liệu sau đây:« a) Đơn xin nhận con nuôi;b) Bản sao Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;c) Văn bản cho phép được nhận con nuôi ở Việt Nam;d) Bản điều tra về tâm lý, gia đình;đ) Văn bản xác nhận tình trạng sức khỏe;e) Văn bản xác nhận thu nhập và tài sản;g) Phiếu lý lịch tư pháp có giá trị sử dụng nếu được cấp chưa quá 12 tháng, tính đến ngày nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi h) Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;i) Tài liệu chứng minh thuộc trường hợp được xin đích danh quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật này.Các giấy tờ, tài liệu quy định tại điểm b, c, d, đ, e, g và h khoản 1 điều này do cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người nhận con nuôi thường trú lập, cấp hoặc xác nhận.3. Hồ sơ của người nhận con nuôi được lập thành 02 bộ và nộp cho Bộ Tư pháp thông qua cơ quan trung ương về nuôi con nuôi của nước nơi người nhận con nuôi thường trú; trường hợp nhận con nuôi đích danh quy định tại khoản 2 Điều 28 của Luật này thì người nhận con nuôi có thể trực tiếp nộp hồ sơ cho Bộ Tư pháp. »Nộp hồ sơ nhận nuôi con nuôi:Khi nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi, người nhận con nuôi đích danh phải nộp 01 bộ hồ sơ của người được nhận làm con nuôi và tùy từng trường hợp còn phải có giấy tờ tương ứng sau đây:1. Bản sao giấy chứng nhận kết hôn của cha dượng hoặc mẹ kế với mẹ đẻ hoặc cha đẻ của người được nhận làm con nuôi. 2. Giấy tờ, tài liệu để chứng minh người nhận con nuôi là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi. 3. Bản sao quyết định của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cho người đó nhận con nuôi Việt Nam và giấy tờ, tài liệu để chứng minh người con nuôi đó với trẻ em được nhận làm con nuôi là anh, chị em ruột.   4. Giấy tờ, tài liệu để chứng minh trẻ em được nhận làm con nuôi là trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh làm con nuôi.5. Giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã, nơi cư trú tại Việt Nam và giấy tờ, tài liệu khác để chứng minh người nhận con nuôi là người nước ngoài đang làm việc, học tập liên tục tại Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm, tính đến ngày nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi.4.2. Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi đích danhHồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi đích danh có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 32 Luật nuôi con nuôi, Điều 14 Nghị định 19/2011/NĐ-CP và khoản 6 Điều 1 Nghị định 24/2019/NĐ-CP, cụ thể hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi nước ngoài gồm có:a) Các giấy tờ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật nuôi con nuôi 2010;b) Văn bản về đặc điểm, sở thích, thói quen đáng lưu ý của trẻ em; Bản tóm tắt đặc điểm, sở thích, thói quen của trẻ em phải ghi trung thực các thông tin về sức khỏe, tình trạng bệnh tật (nếu có) của trẻ em, sở thích, thói quen hàng ngày đáng lưu ý của trẻ em để thuận lợi cho người nhận con nuôi trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em sau khi được nhận làm con nuôi .Trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi thì không cần văn bản này.c) Tài liệu chứng minh đã thực hiện việc tìm gia đình thay thế trong nước cho trẻ em theo quy định tại khoản 2 điều 15 của Luật này nhưng không thành.– Hồ sơ được lập thành 03 bộ và nộp cho Sở Tư pháp nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú.– Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ lập hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi sống tại gia đình; cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi sống tại cơ sở nuôi dưỡng>>>  Tham khảo: Nhận con nuôi ở Việt Nam 5. Thủ tục nhận nuôi con nuôi đích danhTheo quy định tại Điều 17 Nghị định 19/2011/NĐ-CP thì thủ tục nhận nuôi con nuôi đích danh có yếu tố nước ngoài được thực hiện như sau:Nộp và tiếp nhận hồ sơ của người nhận con nuôi nước ngoàiThủ tục nộp và tiếp nhận hồ sơ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi được thực cụ thể sau đây:Trường hợp nhận con nuôi đích danh, thì người nhận con nuôi trực tiếp nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi. Trường hợp có lý do chính đáng mà không thể trực tiếp nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi, người nhận con nuôi ủy quyền bằng văn bản cho người có quan hệ họ hàng, thân thích thường trú tại Việt Nam nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi hoặc gửi hồ sơ cho Cục Con nuôi qua đường bưu điện theo hình thức gửi bảo đảm.Cục Con nuôi xem xét, tiếp nhận hồ sơ của người nhận con nuôi căn cứ số lượng trẻ em Việt Nam có đủ điều kiện làm con nuôi ở nước ngoài.2) Trách nhiệm kiểm tra, xác minh hồ sơ và xác nhận trẻ em có đủ điều kiện được cho làm con nuôi– Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, tiến hành lấy ý kiến của những người liên quan trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Việc lấy ý kiến phải lập thành văn bản và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến.Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi cần được xác minh thì Sở Tư pháp đề nghị Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xác minh; cơ quan công an có trách nhiệm xác minh và trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của Sở Tư pháp.– Sau khi kiểm tra, xác minh, nếu thấy trẻ em có đủ điều kiện để cho làm con nuôi nước ngoài thì Sở Tư pháp xác nhận và gửi Bộ Tư pháp.3) Trách nhiệm kiểm tra và chuyển hồ sơ của người nhận con nuôi– Bộ Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra và xử lý hồ sơ của người nhận con nuôi trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.– Trường hợp người nhận con nuôi đích danh, Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ cho Sở Tư pháp nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định.– Sau khi kết thúc thời hạn thông báo tìm gia đình thay thế cho trẻ em, nếu trẻ em không được người trong nước nhận làm con nuôi thì Bộ Tư pháp chuyển hồ sơ của người nhận con nuôi cho Sở Tư pháp nơi trẻ em được giới thiệu làm con nuôi thường trú để xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi theo trình tự quy định tại Điều 36 của Luật nuôi con nuôi.Trên đây là nội dung tư vấn về nhận con nuôi đích danh là gì. Liên hệ ngay với Legalzone để được tư vấn và hỗ trợ nhé.
Nguyễn Thị Tố Uyên
179 ngày trước
timeline_post_file608785f711218-tu-van-dieu-kien-nhan-con-nuoi-tai-Nghe-An21.jpg
Muốn xin con nuôi ở hà nội
Với nhiều lý do và mục đích khác nhau, việc nhận con nuôi trong đời sống xã hội Việt Nam đã tồn tại từ lâu và dần trở nên phổ biến.Việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi có thể được thực hiện theo những cách thức khá nhau, Tùy theo sự lựa chọn của cá nhân trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể.Tuy nhiên có thể phân thành hai cách thức điển hình đó là xác lập quan hệ nuôi con nuôi về mặt xã hội và quan hệ nuôi con nuôi về mặt pháp lý.Để quan hệ nuôi con nuôi được đảm bảo bởi pháp luật thì người nhận con nuôi phải làm thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Legalzone hướng dẫn về thủ tục nhận nuôi con nuôi ở hà nội theo pháp luật hiện hành để quý khách hàng tham khảo.Điều kiện nhận nuôi con nuôiĐiều kiện đối với người nhận con nuôiCá nhân muốn xin con nuôi ở hà nội thì phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật nuôi con nuôi năm 2010, cụ thể các điều kiện bao gồm:Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;Có tư các đạo đức tốt.Ngoài ra: Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vơ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng hai điều kiện cuối;Trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài xin con nuôi ở hà nội thì ngoài các điều kiện nêu trên, người đó còn phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú.Bên cạnh đó, cá nhân thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không được nhận con nuôi ở hà nội, bao gồm:Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;Đang bị cháp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;Đang chấp hành hình phạt tù;Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác;ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôiTheo quy định tại Điều 8 Luật nuôi con nuôi năm 2010 thì người được nhận con nuôi ở hà nội bao gồm:Trẻ em dưới 16 tuổi;Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp: Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.Bên cạnh đó nhà nước cũng quy định một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.Thủ tục nhận nuôi con nuôiĐể đăng ký việc nuôi con nuôi thì cần thực hiện theo trình tự thủ tục nhận nuôi con nuôi hợp pháp như sau:Bước 1: Nộp hồ sơNgười muốn xin con nuôi ở hà nội phải nộp hồ sơ của mình và hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú.Hồ sơ của người nhận con nuôiĐơn xin nhận con nuôi;Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;Phiếu lý lịch tư pháp;Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; van bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp.Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nướcGiấy khai sinh;Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;Hai ảnh toan thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi;Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi;quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích;quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.Lưu ý: Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ.Bước 2: Kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến của những người có liên quanỦy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ nhận con nuôi ở hà nội có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, tiến hành xong việc lấy ý kiến của những người quy định tại Điều 21 Luật Nuôi con nuôi năm 2010.Việc lấy ý kiến phải lập thành văn bản và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến.Bước 3: Đăng ký việc nuôi con nuôiKhi xét thấy người muốn xin con nuôi ở hà nội và người được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi,trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày có ý kiến đồng ý của những người quy định tại Điều 21 của Luật này.Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và nêu rõ lý do trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có ý kiến của người liên quan.Giấy chứng nhận nuôi con được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của nguwoif nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi.Lưu ý: Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.Theo yeu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con, con từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi đươc xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi.Khi muốn xin con nuôi ở hà nội nhưng chưa nắm rõ trình tự, thủ tục, hãy liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ 
Nguyễn Thị Tố Uyên
179 ngày trước
timeline_post_file6087857795605-biacononmongon-3-540x360.jpg
Thủ tục nhận con nuôi là trẻ sơ sinh
Có thể nói, trên thực tế, nuôi con nuôi là một quan hệ xã hội đặc biệt vốn đã xuất hiện từ rất lâu ở nước ta và đây cũng là một vấn đề mang tính nhân đạo sâu sắc.Trong xã hội hiện nay đang tổn tại một thực tế, nhiều người muốn nhận đích danh một đứa trẻ làm con nuôi, ví dụ như đứa trẻ sơ sinh bị bỏ rơi trước cửa nhà, hoặc tình cờ tìm thấy hoặc chỉ đơn giản là xuất phát từ sự yêu mến.Vậy thủ tục nhận con nuôi là trẻ sơ sinh như thế nào? Việc nhận con nuôi là trẻ sơ sinh có khác gì so với nhận những đứa trẻ khác không phải là trẻ sơ sinh. Cùng Legalzone tìm hiểu trong bài viết dưới đây.Thủ tục nhận con nuôi là trẻ sơ sinh như thế nào?1. Căn cứ pháp lýLuật Nuôi con nuôi 2010Nghị định 19/2011/NĐ-CPNghị định 114/2016/NĐ-CPThông tư 24/2014/BTP2. Các khái niệm về nuôi con nuôiKhoản 1, 2, 3, 5 điều 3 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định và giải thích các khái niệm chung về nuôi con nuôi, cha mẹ nuôi, con nuôi và con nuôi có yếu tố nước ngoài cụ thể là:Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi.– Cha mẹ nuôi là người nhận con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.– Con nuôi là người được nhận làm con nuôi sau khi việc nuôi con nuôi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký.– Nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài.Như vậy, Luật nuôi con nuôi và các văn bản hướng dẫn thi hành không có khái niệm cụ thể về con nuôi là trẻ sơ sinh, đồng thời, cũng không giải thích cụ thể nhận con nuôi đích danh là gì.3. Điều kiện nhận nuôi con nuôiĐối với cha mẹ nuôiĐiều kiện đối với người nhận con nuôi được quy định tại Điều 14 Luật nuôi con nuôi 2010. Theo đó, người nhận nuôi con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:“a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;d) Có tư cách đạo đức tốt”.Trường hợp không được nhận nuôi con nuôiTheo quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật nuôi con nuôi 2010 thì những người sau đây không được nhận nuôi con nuôi:– Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;– Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;– Đang chấp hành hình phạt tù;– Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng điều kiện hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên và có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi.Đối với người được nhận làm con nuôiĐiều 8 Luật nuôi con nuôi 2010 quy định về điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi như sau:“1. Trẻ em dưới 16 tuổiNgười từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.4. Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi”.Như vậy, nếu muốn nhận trẻ sơ sinh làm con nuôi, bắt buộc đứa trẻ đó phải đáp ứng điều kiện theo quy định tại Điều 8 Luật nuôi con nuôi 2010. Theo đó, tại Khoản 4 Điều 21 Luật nuôi con nuôi 2010 có quy định: Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày.=> Như vậy để tránh phạm luật cũng như nhằm giúp cho cháu bé có sự phát triển tốt nhất thì ít nhất là 15 ngày sau sinh khi đứa trẻ đã cứng cáp thì mới có thể cho đứa trẻ đó làm con nuôi.Bên cạnh đó, đối với trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, mồ côi, bị khuyết tật thì còn có thể nhận con nuôi đích danh. Vậy điều kiện nhận con nuôi đích danh là gì? 3. Các trường hợp nhân con nuôi đích danhNhân con nuôi đích danh được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 28 Luật nuôi con nuôi, cụ thể: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây:a) Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;b) Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;c) Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;d) Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi;Trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo được nhận đích danh làm con nuôi gồm trẻ em bị sứt môi hở hàm ếch; trẻ em bị mù một hoặc cả hai mắt; trẻ em bị câm, điếc; trẻ em bị khoèo chân, tay; trẻ em không có ngón hoặc bàn chân, tay; trẻ em nhiễm HIV; trẻ em mắc các bệnh về tim; trẻ em bị thoát vị rốn, bẹn, bụng; trẻ em không có hậu môn hoặc bộ phận sinh dục; trẻ em bị các bệnh về máu; trẻ em mắc bệnh cần điều trị cả đời; trẻ em bị khuyết tật khác hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác mà cơ hội được nhận làm con nuôi bị hạn chế.đ) Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm.Như vậy, việc nhận con nuôi đích danh chỉ áp dụng trong trường hơp có yếu tố nước ngoài, tức chỉ có Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh.4. Hồ sơ nhận con nuôi là trẻ em sơ sinhHồ sơ của người nhận nuôi con nuôiĐiều 17 Luật nuôi con nuôi 2010 và Điều 7 Nghị định 19/2011/NĐ-CP  quy định về hồ sơ của người nhận nuôi con nuôi bao gồm:Đơn xin nhận con nuôi;Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;Phiếu lý lịch tư pháp;Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này.Phiếu lý lịch tư pháp, giấy khám sức khỏe, văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi trong nước có giá trị sử dụng nếu được cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã.Hồ sơ của người nhận con nuôi trong nước được lập thành 01 bộ. Trường hợp người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi không thuộc diện cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi và không cùng thường trú tại một địa bàn xã, thì việc xác nhận về hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi được thực hiện như sau:    –  Trường hợp người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi, thì văn bản về hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi do Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó thường trú xác nhận. –  Trường hợp người nhận con nuôi nộp hồ sơ đăng ký việc nuôi con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó thường trú, thì công chức tư pháp – hộ tịch xác minh hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi.Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôiHồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi được quy định tại Điều 18 Luật nuôi con nuôi 2010, bao gồm:a) Giấy khai sinh;b) Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;c) Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;d) Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;đ) Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.Cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ lập hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi sống tại gia đình; cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi sống tại cơ sở nuôi dưỡng.>>>  Tham khảo: Nhận con nuôi ở Việt Nam 5. Thủ tục nhận con nuôi là trẻ sơ sinh Thủ tục nhận nuôi con nuôi là trẻ sơ sinh quy định từ Điều 19 đến Điều 22 Luật nuôi con nuôi 2010, cụ thể như sau:Nộp hồ sơ và thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôiNgười nhận con nuôi phải nộp hồ sơ của mình và hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trú hoặc nơi người nhận con nuôi thường trú.Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ.Kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến của những người liên quanỦy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, tiến hành xong việc lập ý kiến của những người có liên quan.– Lấy ý kiến của những người liên quan+ Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó.+ Việc lấy ý kiến phải lập thành văn bản và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người được lấy ý kiến+ Người đồng ý cho làm con nuôi trên phải được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi nhận hồ sơ tư vấn đầy đủ về mục đích nuôi con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; quyền, nghĩa vụ giữa cha mẹ đẻ và con sau khi người đó được nhận làm con nuôi.+ Sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.+ Cha mẹ đẻ chỉ được đồng ý cho con làm con nuôi sau khi con đã được sinh ra ít nhất 15 ngày.Đăng ký việc nuôi con nuôi– Khi xét thấy người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày có ý kiến đồng ý của những người có liên quan.– Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và nêu rõ lý do trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày có ý kiến của những người có liên quan.Giấy chứng nhận nuôi con nuôi được gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi.6. Hệ quả của việc nhận nuôi con nuôiHệ quả của việc nhận nuôi con nuôi được quy định tại Điều 24 Luật nuôi con nuôi 2010, cụ thể:– Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.– Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.– Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.– Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi.Trên đây là nội dung tư vấn về thủ tục nhận con nuôi là trẻ sơ sinh. Liên hệ ngay với Legalzone để được tư vấn và hỗ trợ nhé.  
Nguyễn Thị Tố Uyên
179 ngày trước
timeline_post_file608784dcb29ab-tu-van-dieu-kien-nhan-con-nuoi-tai-Nghe-An21.jpg
Nhận con nuôi người nước ngoài
Trẻ em là một đối tượng rất nhạy cảm, và dễ tổn thương. Vì thế xã hội luôn mong muốn có thể gửi gắm những đứa trẻ đến với những nơi có điều kiện tốt nên những quy định về nhận con nuôi người nước ngoài khá chặt chẽ.Đặc biệt là đối với người nước ngoài tới Việt Nam nhận con nuôi. Với với mong muốn hỗ trợ dịch vụ tốt nhất cho cá nhân, tổ chức trong nước cũng như quốc tế, Legalzone hướng dẫn chi tiết thủ tục người nước ngoài nhận nuôi con nuôi tại Việt Nam qua bài viết dưới đâyCác trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoàiTheo quy định tại Điều 28 Luật nuôi con nuôi thì các trường hợp nhận con nuôi người nước ngoài bao gồm:Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây:Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi;Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm.Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi.Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam.Các trường hợp Công dân Việt Nam ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôiCác trường hợp nhận con nuôi người nước ngoài mà người nhận nuôi là công dân Việt Nam:Công dân Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi phải lập hồ sơ theo quy định tại Điều 17 của Luật này gửi Bộ Tư pháp.Bộ Tư pháp xem xét, cấp giấy xác nhận người nhận con nuôi có đủ điều kiện nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật Việt Nam trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.Trường hợp cần thiết, Bộ Tư pháp yêu cầu Sở Tư pháp nơi người đó thường trú xác minh thì thời hạn có thể kéo dài, nhưng không quá 60 ngày.Sau khi hoàn tất các thủ tục nhận con nuôi người nước ngoài, công dân Việt Nam có trách nhiệm làm thủ tục ghi chú việc nuôi con nuôi tại Sở Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó thường trú.Thủ tục người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận nuôi con nuôiNgười nhận con nuôi nộp hồ sơ của mình và của người được nhận làm con nuôi trực tiếp tại Sở Tư pháp nơi người được giới thiệu làm con nuôi thường trúThành phần hồ sơ:Hồ sơ của người nhận con nuôi: Đơn xin nhận con nuôi theo mẫu quy định; (Bản chính)Hộ chiếu/Chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế; (Bảo sao)Phiếu lý lịch tư pháp; (Bản chính, được cấp chưa quá 06 tháng)Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân (Bản sao nếu là Giấy chứng nhận kết hôn hoặc bản gốc nếu là giấy xác nhận tình trạng độc thân).Giấy khám sức khỏe do cơ sở y tế cấp huyện trở lên cấp (Bản chính, được cấp chưa quá 06 tháng);Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do UBND cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp(trường hợp cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi thì không cần văn bản này) (bản chính, được cấp chưa quá 06 tháng).Số lượng hồ sơ: 01 bộHồ sơ của người được nhận làm con nuôi:Giấy khai sinh;Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi;Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích;quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.Số lượng hồ sơ: 01 bộ;Thời hạn giải quyết: 35 ngàyLệ phí (nếu có): 400.000đ – Miễn lệ phí đăng ký nuôi con nuôi trong nước đối với trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi;Cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi; nhận trẻ em khuyết tật, trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo và việc nuôi con nuôi ở vùng sâu, vùng xa;Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính (nếu có):Yêu cầu khi cá nhân muốn nhận con nuôi người nước ngoàiCó năng lực hành vi dân sự đầy đủ;Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên – không áp dụng đối với trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu,dì, chú bác ruột nhận cháu làm con nuôi;Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi – không áp dụng đối với trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu,dì, chú bác ruột nhận cháu làm con nuôi;Có tư cách đạo đức tốt.Các trường hợp không được nhận con nuôiĐang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;Đang chấp hành quyết định xử lư hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;Đang chấp hành hình phạt tù;Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình;dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.Trình tự thủ tục công dân Việt Nam nhận con nuôi người nước ngoàiLegalzone giới thiệu thủ tục nhận con nuôi hợp phápBước 1: Công dân Việt Nam nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi nộp hồ sơ gửi Bộ Tư phápHồ sơ của người nhận nhận con nuôi người nước ngoài bao gồm:Đơn xin nhận con nuôi;Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;Phiếu lý lịch tư pháp; (được cấp chưa quá 06 tháng)Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; (được cấp chưa quá 06 tháng)Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp, trừ trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làmcon nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làmcon nuôi. (được cấp chưa quá 06 tháng)– Bước 2: Bộ Tư pháp xem xét, cấp giấy xác nhận có đủ điều kiện nhận con nuôi người nước ngoài, thời hạn giải quyết: 30 ngày (nếu cần xác minh có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày)– Bước 3: Người nhận con nuôi làm thủ tục ghi chú việc nuôi con nuôi  tại Sở Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó thường trú. Ngoài ra, chị của bạn cần đáp ứng  điều kiện để công dân Việt Nam ở trong nước nhận nuôi trẻ em nước ngoài theo quy định tại  điều 14 Luật nuôi con nuôi– Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;– Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;Trừ trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi;– Có tư cách đạo đức tốt.– Không thuộc các trường hợp không được nhận con nuôi:+ Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;+ Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;+ Đang chấp hành hình phạt tù;+ Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác;Ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.Trên đây là một số thông tin về vấn đề nhận con nuôi người nước ngoài. Hãy liên hệ với chúng tôi khi bạn cần hỗ trợ
Nguyễn Thị Tố Uyên
179 ngày trước
timeline_post_file6087843db382a-quyen-nuoi-con.jpg
Đổi họ tên cho con nuôi
Việc nhận nuôi con nuôi là một tình trạng khá phổ biến ở nước ta. Mặc dù xuất phát từ mục đích nhân đạo nhưng việc nhận con nuôi cũng cần được thực hiện theo đúng thủ tục luật định. Vậy việc Đổi họ tên cho con nuôi được thức hiện như thê nào? Bài viết sau đây của Legalzone sẽ đề cập đến vấn đề trên.Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôiTheo Điều 9 Luật nuôi con nuôi 2010 và Điều 2 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP thì:Đối với việc nuôi con nuôi trong nướcTrường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; Cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.Đối với việc nuôi con nuôi nước ngoàiỦy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi.Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi nước ngoài sau khi có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.Đối với việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau tạm trú ở nước ngoài,Cơ quan đại diện nơi tạm trú của người được nhận làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.Điều kiện đối với người nhận con nuôiTheo khoản 1, khoản 2 Điều 14 Luật nuôi con nuôi thì người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện:Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên.Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi.Có tư cách đạo đức tốt.Trường hợp người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, đang chấp hành hình phạt tù;Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác;Ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình;Dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em thì không được phép nhận nuôi con nuôi.Điều kiện để trẻ em được nhận làm con nuôiTheo khoản 1, 2, 3 Điều 8 Luật nuôi con nuôi:Là trẻ em dưới 16 tuổi.Là trẻ em từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc trường hợp được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.Một người chỉ được làm con của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.Hồ sơ của người nhận con nuôiThứ ba, hồ sơ của người nhận con nuôi theo Điều 17 Luật nuôi con nuôi 2010 và Điều 7 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP bao gồm:Đơn xin nhận con nuôi.Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế.Phiếu lý lịch tư pháp.Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân.Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp.>>>Tham khảo bài viết: nhận nuôi con nuôi nước ngoàiHồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôiHồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước theo Điều 18 Luật nuôi con nuôi 2010 gồm :Giấy khai sinh.Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp.Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng.Trình tự thực hiệntheo Điều 22 Luật nuôi con nuôi và Điều 10 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP:Công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến của những người có liên quan.Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch.Trường hợp từ chối đăng kýỦy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng.Theo khoản 2 Điều 19 Luật nuôi con nuôi và khoản 1 Điều 10 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CPKhi đăng ký nuôi con nuôi, cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ, người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và người được nhận làm con nuôi phải có mặt.Công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho các bên trong thời hạn là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Yêu cầu thay đổi họ tên của con nuôiSau khi hoàn tất thủ tục nhận nuôi con nuôi và nhận được Giấy chứng nhận nuôi con nuôi thì có được đổi họ tên cho con nuôi không?Theo điểm b khoản 1 Điều 27 Bộ luật dân sự thì cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, đổi họ tên cho con nuôi Trong trường hợp thay đổi họ cho con nuôi từ họ của cha đẻ hoặc mẹ đẻ sang họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi.Hơn nữa, theo khoản 2 Điều 25 Luật nuôi con nuôi và khoản 2 Điều 10 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CPCăn cứ vào Giấy chứng nhận nuôi con nuôi: Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi và sự đồng ý của con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên, cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thực hiện việc thay đổi họ, chữ đệm và tên của con nuôi.( đổi họ tên cho con nuôi)Phạm vi thay đổi theo Điều 26 Luật hộ tịch bao gồm:Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật Thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi.Thủ tục thay đổi họ tên cho con nuôiThẩm quyền thay đổiTheo điểm b khoản 1 Điều 7 và Điều 27 Luật hộ tịch thì Ủy ban nhân dân cấp xã đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi.Theo điểm b khoản 2 Điều 7 và khoản 3 Điều 46 Luật hộ tịch:Ủy ban nhân dân cấp huyện đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước.Hồ sơ thay đổi họ tên cho con nuôiTheo Điều 28 Luật Hộ tịch, hồ sơ đổi họ tên con nuôi  bao gồm:Tờ khai thay đổi họ cho con nuôi (theo mẫu)Bản chính giấy khai sinh của con nuôiBản chính Giấy chứng nhận nuôi con nuôiTrong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ đổi họ tên con nuôi nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi,Cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.Trên đây là một số thông tin liên quan đến thủ tục đổi họ tên cho con nuôi. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ miến phí
Nguyễn Thị Tố Uyên
179 ngày trước
timeline_post_file6087831ee19d2-quyen-nuoi-con.jpg
Thay đổi dân tộc của con nuôi
Việc nhận nuôi con nuôi là một tình trạng khá phổ biến ở nước ta. Mặc dù xuất phát từ mục đích nhân đạo nhưng việc nhận con nuôi cũng cần được thực hiện theo đúng thủ tục luật định. Và vấn đề có được thay đổi dân tộc con nuôi sau khi hoàn tất thủ tục nhận con hay không cũng đang là một trong những câu hỏi thiết yếu.Bài viết sau đây của Legalzone sẽ đề cập đến vấn đề trên.Quy định pháp luật về thay đổi dân tộc của con nuôiThẩm quyền đăng ký nuôi con nuôiTheo Điều 9 Luật nuôi con nuôi 2010 và Điều 2 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP thì:Đối với việc nuôi con nuôi trong nước, trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi;cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.Đối với việc nuôi con nuôi nước ngoài, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi quyết định cho người đó làm con nuôi.Sở Tư pháp thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi nước ngoài sau khi có quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.Đối với việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau tạm trú ở nước ngoài, thì Cơ quan đại diện nơi tạm trú của người được nhận làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.Điều kiện đối với người nhận con nuôiTheo khoản 1, khoản 2 Điều 14 Luật nuôi con nuôi thì người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện:Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên.Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi.Có tư cách đạo đức tốt.Trường hợp người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, đang chấp hành hình phạt tù;chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình;dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em thì không được phép nhận nuôi con nuôi.Điều kiện để trẻ em được nhận làm con nuôiTheo khoản 1, 2, 3 Điều 8 Luật nuôi con nuôi:Là trẻ em dưới 16 tuổi.Là trẻ em từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc trường hợp được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.Một người chỉ được làm con của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.Hồ sơ của người nhận con nuôiThứ ba, hồ sơ của người nhận con nuôi theo Điều 17 Luật nuôi con nuôi 2010 và Điều 7 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP bao gồm:Đơn xin nhận con nuôi.Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế.Phiếu lý lịch tư pháp.Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân.Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp.>>>Tham khảo bài viết: nhận nuôi con nuôi nước ngoàiHồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôiHồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước theo Điều 18 Luật nuôi con nuôi 2010 gồm :Giấy khai sinh.Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp.Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng.Trình tự thực hiệntheo Điều 22 Luật nuôi con nuôi và Điều 10 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CP:Công chức tư pháp – hộ tịch kiểm tra hồ sơ, lấy ý kiến của những người có liên quan.Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch.Trường hợp từ chối đăng ký, Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng.Theo khoản 2 Điều 19 Luật nuôi con nuôi và khoản 1 Điều 10 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 24/2019/NĐ-CPthì khi đăng ký nuôi con nuôi, cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ, người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và người được nhận làm con nuôi phải có mặt.Công chức tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký nuôi con nuôi và trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho các bên trong thời hạn là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ.Thủ tục thay đổi dân tộc của con nuôiKhoản 2 Điều 29 Bộ luật dân sự 2015  quy định về quyền xác định, xác định lại dân tộc:Quy định về thay đổi dân tộc của con nuôiCăn cứ Điều 24 Luật nuôi con nuôi 2014 có quy định về hệ quả của việc nuôi con nuôi cụ thể như sau:– Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con nuôi.Việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.– Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.Căn cứ quy định của pháp luật hiện hành thì hoàn toàn có thể nhận nuôi đứa bé bị bỏ rơi và có thể thay đổi họ tên cũng như xác định dân tộc cho cháu bé là người kinh theo dân tộc của mình nếu đáp ứng được các điều kiện về người nhận nuôi con nuôi theo quy định của Luật hộ tịch 2014 và thực hiện đầy đủ các thủ tục quy định tại luật này.Như vậy, việc thay đổi dân tộc của con nuôi chỉ áp dụng với đứa trẻ được nhận nuôi là trẻ em bị bỏ rơi. Trên đây là tư vấn của Legalzone về thay đổi dân tộc của con nuôi. Liên hệ ngay với Legalzone để được tư vấn và hỗ trợ nhé. 
Nguyễn Thị Tố Uyên
179 ngày trước
timeline_post_file608781afb9b9d-tu-van-dieu-kien-nhan-con-nuoi-tai-Nghe-An21.jpg
Thủ tục nhận con nuôi trong nước
Trong cuộc sống hiện nay, việc nhận con nuôi đang dần trở nên phổ biến. Tuy nhiên việc nhận con nuôi cũng phải tuân thủ theo quy định của pháp luật hiện hành.Cùng tìm hiểu về vấn đề này qua bài viết của công ty LegalzoneCăn cứ pháp lý :Luật con nuôi năm 2010Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôiNghị định số 24/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung nghị định 19/2011/NĐ-CPĐiều kiện nhận nuôi con nuôiĐiều kiện người nhận con nuôi :Theo Điều 14 Luật con nuôi 2010 quy định về điều kiện đối với người nhận con nuôi1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;d) Có tư cách đạo đức tốt.2. Những người sau đây không được nhận con nuôi:a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;c) Đang chấp hành hình phạt tù;d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.Điều kiện đối với người được nhận nuôiBên cạnh người nhận nuôi, người được nhận nuôi cũng được pháp luật quy định cụ thể về điều kiện theo Điều 8 Luật con nuôi 2010 :1. Trẻ em dưới 16 tuổi2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.3. Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.4. Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.Trình tự, thủ tục nhận nuôi con nuôiGiấy tờ pháp lýCăn cứ theo quy định tại Luật con nuôi 2010 và nghị định số 19/2011/NĐ-CP:Hồ sơ của người nhận con nuôi gồm có :+ Đơn xin nhận con nuôi (theo mẫu)+ Bản sao Hộ chiếu, Giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có giá trị thay thế;+ Phiếu lý lịch tư pháp;+ Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân;+ Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp có thẩm quyền cấp; văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận con nuôi thường trú cấp hoặc giấy tờ tương đương của cơ quan có thẩm quyền cấp.– Hồ sơ của người được giới thiệu làm con nuôi trong nước gồm có:+ Giấy khai sinh;+ Giấy khám sức khỏe do cơ quan y tế cấp huyện trở lên cấp;+ Hai ảnh toàn thân, nhìn thẳng chụp không quá 06 tháng;+ Biên bản xác nhận do Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi lập đối với trẻ em bị bỏ rơi; Giấy chứng tử của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của trẻ em là đã chết đối với trẻ em mồ côi; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất tích đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ đẻ mất tích; quyết định của Tòa án tuyên bố cha đẻ, mẹ đẻ của người được giới thiệu làm con nuôi mất năng lực hành vi dân sự đối với người được giới thiệu làm con nuôi mà cha đẻ, mẹ để mất năng lực hành vi dân sự;+ Quyết định tiếp nhận đối với trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng.Trình tự thực hiện Bước 1: Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước.Bước 2: UBND cấp xã cử công chức tư pháp – hộ tịch phối hợp với Công an xã tiến hành kiểm tra và xác minh.– Nếu các bên đáp ứng đủ điều kiện thì công chức tư pháp- Hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký việc nuôi con nuôi và Giấy chứng nhận việc nuôi con nuôi.Bước 3: Chủ tịch UBND cấp xã ký Giấy chứng nhận việc nuôi con nuôi và cấp cho người nhận nuôi con nuôi một bản chính.Khi xét thấy người nhận con nuôi và người được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện theo quy định của Luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức đăng ký nuôi con nuôi, trao Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho cha mẹ nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức giao nhận con nuôi và ghi vào sổ hộ tịch trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày có ý kiến đồng ý của những người quy định tại Điều 21 của Luật này.Trường hợp Ủy ban nhân dân cấp xã từ chối đăng ký thì phải trả lời bằng văn bản cho người nhận con nuôi, cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ hoặc đại diện cơ sở nuôi dưỡng và nêu rõ lý do trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có ý kiến của người liên quan.Giấy chứng nhận nuôi con được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi.Lưu ý: Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.Theo yêu cầu của cha mẹ nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi họ, tên của con, con từ đủ 09 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó.Dân tộc của con nuôi là trẻ em bị bỏ rơi đươc xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi.Thời gian giải quyết : Thời hạn giải quyết việc nuôi con nuôi là 30 ngày, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệTrên đây là toàn bộ nôi dung tư vấn về trình tự, thủ tục nhận nuôi con nuôi trong nước. Quý khách hàng có nhu cầu tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến nhận con nuôi hay lĩnh vực hôn nhân, gia đình xin vui lòng liên hệ bộ phận Luật sư tư vấn Công Ty Luật Legalzone.Trân trọng.
Bài viết được xem nhiều nhất
timeline_post_file60b5ae152557b-z2525705382890_4823d01a4c2e2134a94faa33ef20bc2f.jpg
KHỦNG HOẢNG TRUYỀN THÔNG - ẢNH HƯỞNG – BÀI HỌC XỬ LÝ  KHỦNG HOẢNG Khủng hoảng truyền thông có thể xảy ra với các thương hiệu bất kỳ lúc nào nhất là trong thời đại mạng xã hội đang bùng nổ. Việc kiểm soát khủng hoảng cho các thương hiệu cần có những chiến lược xử lý và phương pháp giải quyết nhanh chóng. Đặc biệt để lấy lại niềm tin của khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải có động thái rõ ràng và tích cực. Bở vậy, khủng hoảng truyền thông luôn là “bóng đen” đối với các doanh nghiệp. Vậy khủng khoảng truyền thông là gì? Nó được hình thành như thế nào ? Có ảnh hưởng ra sao ?Khủng hoảng truyền thông là gì?Khủng hoảng truyền thông là cụm từ tiếng Việt được dịch ra từ chữ crisis. Theo các giáo trình, khủng hoảng truyền thông là những sự kiện xảy ra ngoài tầm kiểm soát của công ty khi có thông tin bất lợi về công ty hay sản phẩm. Sự bất lợi này đe dọa đến việc tiêu thụ sản phẩm hoặc làm giảm uy tín của công ty.Theo định nghĩa giáo khoa, “khủng hoảng truyền thông là bất kỳ một sự kiện ngoài ý muốn nào mang mối đe dọa nghiêm trọng đến uy tín của công ty hoặc niềm tin của các bên liên quan. Sự kiện có thể là một hành động vi phạm lòng tin, một sự thay đổi trong môi trường cạnh tranh, cáo buộc bởi các nhân viên hoặc những người khác, một nghị định đột ngột của chính phủ, lỗ hổng trong sản phẩm, hoặc bất kỳ tác động tiêu cực nào khác” hay nói một cách đơn giản, “khủng hoảng là bất kỳ một sự kiện nào có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của công ty đối với công chúng của nó”.Ba yếu tố chung cho một cuộc khủng hoảng: Mối đe dọa đối với tổ chứcYếu tố bất ngờThời gian quyết định ngắnVenette  lập luận rằng “khủng hoảng là một quá trình biến đổi trong đó hệ thống cũ không còn có thể được duy trì”. Do đó, yếu tố thứ tư của khủng hoảng là sự cần thiết phải thay đổi. Nếu không cần thay đổi, sự kiện có thể được mô tả chính xác hơn là sự cố hoặc sự cố.Các loại khủng hoảng truyền thôngBất kỳ một sự việc nào cũng có mối quan hệ biện chứng giữa “nguyên nhân – kết quả”. Đúng vậy, các cuộc khủng hoảng truyền thông không tự nhiên sinh ra mà nó có thể xuất phát từ các xung đột chính, cơ bản như:Xung đột lợi ích: Một nhóm các cá nhân hoặc nhóm có mâu thuẫn với các tập đoàn về những lợi ích nhất định từ đó dẫn đến các hoạt động chống phá để mang lợi ích về phe mình. Các hoạt động chủ yếu của xung đột này là tẩy chay. Xung đột này, trên thị trường khốc liệt hiện nay thì thường xuyên xảy ra.Cạnh tranh không công bằng: Công ty hoặc tổ chức đối thủ có các động thái vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nhằm chống phá, bôi nhọ, hạ nhục danh tiếng của công ty kia. Tuy các hoạt động này đã được giới hạn nhưng vẫn còn đó mà cụ thể là hành động bắt nạt trên mạng.“Một con sâu làm rầu nồi canh”: Một cá nhân đại diện trong công ty, tổ chức có hành vi phạm tội, gây rúng động trong cộng đồng, khiến cộng đồng mất niềm tin và quay lưng với tổ chức. Trường hợp này cũng rất hay xảy ra ví dụ như vụ việc của Agribank.Khủng hoảng liên đới: Đối tác của công ty mình bị vướng vào vòng lao lý, từ đấy có một số tin đồn thất thiệt trên mạng xã hội nhắm vào làm bôi nhọ danh tiếng công ty khi đánh đồng công ty với những việc làm sai trái của đối tác.Khủng hoảng tự sinh: Các hoạt động truyền thông, sản phẩm hay dịch vụ vô tình có những lỗi hoặc phốt dẫn đến sự bất bình và lan truyền rộng rãi. Đây là lý do thường xuyên và phổ biến trong các doanh nghiệp. Ví dụ: vụ chai nước có ruồi của công ty Tân Hiệp Phát.Khủng hoảng chồng khủng hoảng: Là khi công ty, tổ chức xử lý truyền thông không khéo, không có thái độ thành khẩn sửa chữa lỗi lầm dẫn đến sự phẫn nộ sâu sắc hơn từ cộng đồng. Khủng hoảng này thường xảy ra khi công ty không có một chiến lược giải quyết khủng hoảng quy củ, cẩn thận.Và kết quả của những loại xung đột cộng thêm nhiều gia vị của truyền thông đã tạo nên những cuộc khủng hoảng truyền thông. Khủng hoảng truyền thông vừa là cơ hội, cũng vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp. Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng, tính chất của cuộc khủng hoảng, có thể chia thành các loại khủng hoảng truyền thông như sau:Khủng hoảng âm ỉLà những khủng hoảng hay vấn đề một nhóm người đã có với công ty, tổ chức nhưng những vấn đề này quá nhỏ hoặc nó chưa đủ sức lan truyền rộng ra cộng đồng. Nhưng càng về lâu về dài, những vấn đề lớn dần và phát sinh khủng hoảng rộng lớn. Khi khủng hoảng phát sinh, doanh nghiệp rất khó giải quyết vì sự chậm trễ trong thay đổi không mang lại giá trị tích cực đến khách hàng. Khi phát sinh các nguy cơ âm ỉ, doanh nghiệp nên có sự đánh giá suy xét từ đó chặn đứng các nguy cơ có thể có.Khủng hoảng bất chợtLà những khủng hoảng bất chợt xuất hiện mà không có cảnh báo hay dự đoán như một chai nước bị kém chất lượng hay nhân viên phạm tội, những khủng hoảng này lỗi không hoàn toàn do công ty và cách giải quyết nên là thành thật xin lỗi, giải quyết hậu quả bằng tất cả khả năng.Khủng hoảng đa kênhKhủng hoảng đa kênh (Omni-channel) chứa nhiều khả năng gây hại nhất vì nó thu hút sự chú ý của nhiều kênh truyền thông. Nếu một thương hiệu đang đối phó với một tình huống cực đoan, chẳng hạn như cáo buộc quấy rối nơi làm việc, thu hồi sản phẩm hoặc các hành vi không phù hợp tại công ty, thì nó có thể phải đón nhận phản hồi tiêu cực trên phương tiện truyền thông xã hội và trên các phương tiện truyền thông truyền thống.Chuẩn bị đối phó bằng cách có một kế hoạch quản lý khủng hoảng mạnh mẽ thường xuyên được áp dụng và cập nhật. Trong những tình huống như thế này, một phản ứng nhanh chóng và xác thực có thể tạo ra sự khác biệt lớn. Đảm bảo rằng tất cả các tin nhắn được đăng không chỉ trên trang web của công ty mà còn trên bất kỳ kênh xã hội nào đang nhận được phản hồi tiêu cực. Và mặc dù tính nhất quán trong thông điệp của công ty là chìa khóa, từ ngữ nên được chau chuốt để thể hiện thái độ chân thành.Với các mức độ, phương thức khủng hoảng khác nhau như vậy, thì liệu khủng hoảng truyền thông  tất cả đều là xấu, hay nó chính là một bàn đạp thể hiện sự đẳng cấp, khốn khéo của con người và là cơ hội cho các doanh nghiệp chuyển mình, vươn lên?Ảnh hưởng của khủng hoảng truyền thôngNền kinh tế phát triển càng năng động, quyền con người được đề cao, sức mạnh truyền thông ngày càng lớn, tất cả đều có 2 mặt: tích cực và tiêu cực.  Khủng hoảng truyền thông là bất kì một chuyện xấu gì xảy đến với doanh nghiệp hoặc tổ chức được lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội truyền thông, làm ảnh hưởng đến danh tiếng từ đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động, kinh doanh của các đối tượng bị khủng hoảng tác động đến.Khủng hoảng truyền thông thường kéo theo các cảm xúc tiêu cực không cần thiết mà hệ quả mang lại rất nặng nề:Làm lu mờ phán đoán chính xác.Tổn hại đến các đối tác của tổ chức bị khủng hoảng.Có tính lan truyền cao.Tính chính trực và danh tiếng của công ty cũng sẽ bị ảnh hưởng rõ nét phụ thuộc vào hành động của họ. Việc giải quyết kịp thời các khủng hoảng truyền thông là một bài toán khó của mọi ban ngành tổ chức. Khi gặp phải khủng hoảng, các cấp lãnh đạo, phòng ban nên có sự đối thoại nhanh chóng, rõ ràng để từ đó có thể giải quyết hiệu quả khủng hoảng, đặc biệt là khủng hoảng truyền thông xã hội. Các ngành nghề dễ bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng có thể kể đến thương mại điện tử, mạng xã hội, ngành thời trang,..Ví dụ, Những năm vừa qua, đã không ít các thương hiệu thiết sót trong việc xử lý khủng hoảng truyền thông. Như sự việc đáng tiếc của hãng Boeing để xảy ra hai vụ tai nạn nghiêm trọng đối với máy bay 737 Max 8 mới của mình, hãng phải chấp nhận mất doanh thu và thu nhập trên mỗi cổ phần đã giảm hơn 40% so với năm 2018. Hay trường hợp của Taco Bell xử trí khi nhân viên làm ảnh hưởng xấu đến thương hiệu trên Facebook…Khủng hoảng truyền thông là điều mà mọi doanh nghiệp đều không muốn xảy ra. Trong việc xử lý khủng hoảng, sẽ không có một quy trình chuẩn nào cả. Vì trong quá trình diễn ra khủng hoảng, sự việc biến đổi không ngừng. Nên cái doanh nghiệp cần chính là sự chuẩn bị. Và áp dụng linh hoạt các nguyên tắc xử lý khủng hoảng truyền thông. Sao cho phù hợp với từng tình huống, diễn biến tình hình bấy giờ.Tuy nhiên, cũng không thể nói hoàn toàn, khủng hoảng truyền thông đều có tác động xấu. Bởi lẽ, khủng hoảng cũng có thể là chất xúc tác có tác dụng kích thích tính năng động sáng tạo, huy động tối đa tiềm lực trí tuệ của con người, cộng đồng và xã hội. Chỉ cần, kịp thời đưa ra nhưng giải pháp, chiến lược phù hợp để xử lý thì tất cả có thể biến thành cơ hội hành động kêu gọi một cách thông minh, thì đương nhiên sẽ biến “nguy thành an” biến “ khó khăn thành cơ hội”. Điển hình như: KFC Xử lý khủng hoảng truyền thông tốt có thể giúp bạn biến bê bối thành một chiến lược độc đáo và thu về những phản hồi tích cực.Như vậy, thực tế đã chứng minh, có nhiều doanh nghiệp đã thật sự thất bại, điêu đứng trên bờ vực phá sản,…vì khủng khoảng truyền thông, nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp trở mình trên đường đua một cách ngoại mục.Các giải pháp xử lý khủng hoảng truyền thôngNhanh chóng đánh giá vấn đề gây khủng hoảngĐiều đầu tiên khi có những dấu hiệu khủng hoảng truyền thông là lập tức chúng ta phải tiếp cận và đánh giá vấn đề trong thời gian ngắn nhất. Trong đó, đặt ra các câu hỏi là một cách hiệu quả để nhìn nhận vấn đề một cách trực quan nhất.Vấn đề này có ảnh hưởng đến uy tín và danh tiếng của tổ chức, doanh nghiệp? Nó có ảnh hưởng đến bộ máy cấp cao hay không? Mức độ nghiêm trọng của vấn đề truyền thông nằm mà doanh nghiệp bạn đang gặp phải nằm ở khoảng nào ?Phản hồi với các đối tác, khách hàngThực tế, tốc độ phản hồi khách thực sự rất quan trọng khi khủng hoảng truyền thông xảy ra. Sự im lặng và thụ động sẽ biến mọi tình huống trở nên tệ hại hơn và nhận được nhiều sự giận dữ hơn. Hãy luôn trong tư thế sẵn sàng nhận các phàn nàn từ phía các đối tác, khách hàng và phản hồi ngay lập tức. Nếu bạn chưa thể có câu trả lời ngay, hãy ước tính một khoảng thời gian về phía khách hàng để họ cảm nhận rằng chúng ta thực sự quan tâm đến vấn đề họ đang mắc phải.Có thái độ tích cực và trung thựcChúng ta không nên che giấu và không rõ ràng với truyền thông, mạng xã hội khi có khủng hoảng truyền thông xảy ra. Lên tiếng trên mạng xã hội, đưa ra thông cáo, lời xin lỗi trình bày rõ ràng vấn đề chúng ta đang mắc phải và đưa ra phương hướng giải quyết chính là phương pháp để trấn an khách hàng, đối tác đồng thời nhận được sự thông cảm của dư luận.Như CMO Will McInnes của Brandwatch từng nói: “Chiến dịch có thể sẽ sai. Các thông điệp được kiểm tra trong nhóm sẽ không hiệu quả. Nhân viên sẽ không hành động đúng. Nhưng người tiêu dùng sẽ chấp nhận lỗi lầm khi nhận được những phản hồi phù hợp.”Xây dựng quy trình bài bản đề phòng khủng hoảng truyền thôngNgười ta vẫn thường nói: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh.” Cách tốt nhất để xử lý khủng hoảng truyền thông là tiêu diệt triệt để những lối mòn có thể dẫn đến khủng hoảng truyền thông trước khi nó xảy ra. Có những cách để ngăn chặn khủng hoảng truyền thông như:Xây dựng một đội ngũ thiết kế và quản lý web chuyên nghiệp để đăng tải và cập nhập thông tin kịp thờiKiểm soát chặt chẽ những thông tin phát tán trên mạng xã hội.Cẩn thận kiểm tra tất cả những sản phẩm truyền thông (viral videos, photos…) trước khi tạo chiến dịch truyền thông.Không nên quảng cáo quá xa vời thực tế, lố lăng về chất lượng doanh nghiệp.Có rất nhiều phương pháp xử lý khủng hoảng truyền thông, sự lựa chọn phương pháp giải quyết phù hợp là rất quan trọng nó quyết định đến sự thành bại. Dưới đây là một số tài liệu cần biết về khủng hỏang truyền thông của các thương hiệu lớn và phương thức xử lý, bài học rút ra rất hữu ích: Ngày thứ 2 đen tối và cơn ác mộng của người làm truyền thông: Tải về05 ví dụ về khủng hoảng truyền thông và bài học rút ra: Tải về10 bài học điển hình về xử lý khủng hoảng truyền thông: Tải vềCơ chế lan truyền của khủng hoảng truyền thông: Tải vềDomino-s Pizza- Dội nước dập tắt khủng hoảng truyền thông, thay vì im lặng chờ chết: Tải vềKhi nhân viên làm xấu hình ảnh thương hiệu trên facebook đừng xử trí như Taco Bell: Tải vềNestle và Bài học xử lý khủng hoảng trên mạng xã hội: Tải vềSocial Listening- khủng hoảng truyền thông của Agribank ảnh hưởng như thế nào ? Tải vềSocial Listening- Vì đâu BaBy Care gặp phải khủng hoảng truyền thông: Tải về Tổng hợp các cuộc khủng hoảng truyền thông: Tải vềTrên đây là các thông tin tư vấn của Legalzone về phương án quản lý doanh nghiệp hiệu quả. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và sử dụng dịch vụ.
timeline_post_file6114fe9f3dae9-photo-1-15719366239251263092270-crop-1571937073166232513292.jpg
Nguồn vốn xã hội hóa là gì? Đặc điểm của nguồn vốn xã hội hóa như thế nào? Cùng Legalzone tìm hiểu qua bài viết dưới đây. Khái nhiệm nguồn vốn xã hội hóaNguồn vốn xã hội hóa là gì?Nguồn vốn xã hội hóa được hiểu là những qui định phi chính thức, những chuẩn mực và các mối quan hệ lâu dài giúp thúc đẩy các hành động tập thể và cho phép mọi người thực hiện các hoạt động hợp tác kinh doanh cùng có lợi.Đặc điểm nguồn vốn xã hội hóaĐây là một loại hình vốn vậy nên có các đặc tính như:Tính sinh lợiThuộc tính sinh lợi cho biết vốn xã hội phải có khả năng sinh ra một nguồn lợi nào đó cả về mặt vật chất và tinh thần.Tính có thể hao mònTính hao mòn là thuộc tính hệ quả của tính sinh lợi, một điểm khác biệt quan trọng của vốn xã hội với các loại vốn khác là ngày càng sử dụng càng tăng.Cũng chính vì vậy mà vốn xã hội có thể bị suy giảm và triệt tiêu nếu không được sử dụng có thể bi phá hoại một cách vô tình hay cố ý khi vi phạm qui luật tồn tại và phát triển của loại hình vốn này.Tính sở hữuLà loại hình vốn nên vốn xã hội cũng sẽ thuộc sở hữu của một cộng đồng xã hội nào đó. Là một loại hình vốn nên nó có thể được đo lường, tích lũy và chuyển giao.Tính có thể đo lường tích lũy, chuyển giao.Một đặc điểm khác nữa của vốn xã hội là nó được làm tăng lên trong quá trình chuyển giao.Vốn xã hội có tính hai mặt:Nó có thể hướng đến sự phát triểnThiên về tính bảo tồn, kìm hãm sự phát triển.Vốn xã hội phải thuộc về một cộng đồng nhất định. Và là sự chia sẻ những giá trị chung, những qui tắc và ràng buộc chung của cộng đồng đó.Vai trò của vốn xã hội đối với tăng trưởng kinh tếnguon von xa hoiNhững tác động của vốn xã hội đến tăng trưởng kinh tế cũng được xem xét từ nhiều khía cạnh.Vốn xã hội có thể tác động tới tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh trực tiếp và gián tiếp khác nhau.– Kênh 1: vốn xã hội có thể thay thế các thể chế chính thức một cách hiệu quả.Vốn xã hội cho dù đó là vốn xã hội co cụm vào nhau hay vốn xã hội vươn ra ngoài bao hành sự tin tưởng lẫn nhau và các chuẩn mực phi chính thức có thể thay thế cho các thể chế chính thức để điều chỉnh các giao dịch kinh tế và do vậy giảm thiểu các chi phí -Kênh 2: vốn xã hội tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa mọi người thúc đẩy sự lưu chuyển, lan tỏa của các nguồn lực, thông tin, các ý tưởng và công nghệ.– Kênh 3: vốn xã hội tạo điều kiện cho sự phát triển của các hoạt động đổi mới, sáng tạo.– Kênh 4: vốn xã hội có tác động tích cực làm gia tăng vốn con người.Tuy nhiên, không phải vốn xã hội luôn có vai trò tích cực đối với tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh những lợi ích mà vốn xã hội đem lại, sự tồn tại của vốn xã hội luôn kèm theo những chi phí mà các cá nhân và xã hội phải chi trả.Không phải trong mọi trường hợp vốn xã hội luôn ưu việt hơn các thể chế chính thức. Khi mà tiến bộ công nghệ có thể giúp giảm chi phí thiết lập, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thể chế chính thức.Sự phát triển kinh tế thường đi song song với sự cải thiện đời sống về mặt vật chất. Nhưng một vùng đất nào đó rất giàu có về vật chất thuần túy mà thiếu vắng vốn xã hội. Các nhà nghiên cứu về nguồn vốn xã hội trong tương quan kinh tế đều đồng ý với nhau rằng:Một nền kinh tế lành mạnh trong một đất nước có kỷ cương và văn hiến không thể nào thiếu vắng nguồn vốn xã hội. Kẻ thù dai dẳng nhất của quá trình tích lũy, phát triển nguồn vốn xã hội là tham nhũng. Bởi vậy, vốn xã hội và tham nhũng có mối quan hệ nghịch chiều với nhau. Nạn tham nhũng càng bành trướng, vốn xã hội càng co lại. Khi tham nhũng trở thành “đạo hành xử” hàng ngày thì cũng là lúc vốn xã hội đang trên đà phá sản.Nếu chỉ có ánh sáng mới có khả năng quét sạch hay đuổi dần bóng tối. Tương tự như thế, vốn xã hội được tích lũy càng cao, nạn tham nhũng càng có hy vọng bị đẩy lùi dần vào quá khứ.Giống và khác giữa XHH và PPPMột số điểm tương đồng Chủ trương thu hútXuất phát từ việc nguồn vốn nhà nước hạn hẹp, không bảo đảm các công trình, dịch vụ cơ bản.Về lĩnh vực:XHH bắt nguồn từ lĩnh vực y tế. Đến nay đã điều chỉnh cả lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề, thể dục thể thao, văn hoá, môi trường.Một số mô hình PPP xuất phát từ lĩnh vực kết cấu hạ tầng như nhà máy điện, cấp nước. Đến nay đã bao gồm lĩnh vực như y tế, giáo dục, thể thao, văn hoá… theo thông lệ quốc tế.Về chủ thểBên cạnh các cơ sở ngoài công lập, chủ trương XHH còn điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ sở sự nghiệp công lập với đối tác liên doanh, liên kết.Hình thức đầu tư PPP cũng có chủ thể là khu vực công và khu vực tư, thực hiện hợp đồng đối tác trong thời gian dài.       Sự tương đồng giữa 2 hình thức dẫn đến sự lúng túng khi lựa chọn giữa đầu tư XHH và đầu tư PPP.Một số điểm khác biệtnguồn vốn đầu tư công chưa xử lý quan ngại về rủi ro có thể xảy ra trong triển khai dự án. Đầu tư PPP có cơ sở là hợp đồng, xác định rõ cơ chế xử lý và giảm thiểu rủi ro. Nhưng thiếu nguồn lực nhà nước tham gia nên chưa hấp dẫn nhà đầu tư.Về mức độ cam kết, chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và nhà đầu tư:Chính sách XHH chỉ đề cập về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư. Không quy định một cách chính thức về việc chia sẻ trách nhiệm với nhà đầu tư.PPP yêu cầu sự cam kết của Nhà nước ở mức độ cao hơn. Ngoài các ưu đãi, hỗ trợ, cơ chế bảo đảm đầu tư cũng được quy định trong hợp đồng để giảm thiểu rủi ro trong quá trình đầu tư.Về minh bạch hoá:Hoạt động liên doanh liên kết, các dự án, đề án liên doanh, liên kết được minh bạch hoá theo quy chế nội bộ, chưa thực sự hướng tới sự giám sát rộng rãi và độc lập.Điều này xuất phát từ thực trạng chung là thiếu cơ chế khuyến khích sự tham gia giám sát, đánh giá của các đơn vị độc lập, người sử dụng dịch vụ.Dự án PPP được công khai hoá, minh bạch hoá từ danh mục dự án đến các bước lựa chọn nhà đầu tư tại Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia và trang web của các bộ, địa phương.Về quy trình lựa chọn nhà đầu tư, đối tác tư nhân, giữa hai hình thức cũng có những khác biệt nhất định. Trên đây là một số thông tin giải đáp thắc mắc nguồn vốn xã hội hóa là gì. Hãy liên hệ với chúng tôi khi bạn cần hỗ trợ. Bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua hotline 0888889366. Hoặc fanpage Công ty Luật Legalzone.
timeline_post_file60ef9501df581-Barry-Callebaut-Offices-Chocolate-Academy-Istanbul-_-Office-Snapshots-570x570.jpg
Đây là những thông tin về cơ bản nhưng hầu như không nhiều người hiểu rõ được. Dù hàng ngày đang ngồi làm những công việc tại văn phòng của mình. Điều này cũng dễ vì cơ bản thì kiến thức này cũng không có gì gọi là quan trọng lắm đối với mọi người.Tuy nhiên, Công ty Luật Legalzone cũng vẫn sẽ chia sẻ đến bạn những thông tin chi tiết nhất về khái niệm chức năng để bạn tham khảo qua và hiểu rõ hơn về hình thức này để bạn có thêm nguồn kiến thức hữu ích cho mình nhé.Khái niệm văn phòng là gì?Khái niệm văn phòng đó là được xem như một thuật ngữ để chỉ về một khu vực hoặc vị trí trong một tòa nhà gần giống vậy, đây sẽ là nơi mà mọi người sẽ cùng ngồi làm việc với nhau. Đồng thời đây cũng là một những phần quan trọng của mỗi doanh nghiệp với các loại hình văn phòng được nhắc đến như: văn phòng diện hoặc văn phòng chi nhánh của doanh nghiệp đó.Ngoài ra thì nếu chúng ta hiểu theo một nghĩa khác thì đó là một nơi làm việc của một cá nhân hoặc tập thể và được cung cấp đầy đủ các vật dụng cần thiết để nhằm đáp ứng cho nhu cầu tất yếu của công việc khi thực hiện. Đó là một trong những thông tin để giải đáp cho câu hỏi văn phòng là gì? mà bạn có thể tham khảo qua.Những chức năng chính của văn phòngVăn phòng được hình thành đối với cá nhân thì đó là lúc thực hiện trang trí, bổ sung các vật dụng cần thiết đáp ứng nhu cầu của mình. Đối với doanh nghiệp thì thực hiện những hình thức đăng ký kinh doanh và có địa chỉ cụ thể cho nơi đó.Chức năng chính của văn phòng khi nhắc đến sẽ là:+ Nơi để mọi người có thể thực hiện toàn quyền hoạt động và sử dụng để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của công việc và duy trì hoạt động tại đây.+ Nơi thực hiện các hoạt động cần thiết như: hội họp, gặp khách hàng….+ Tiếp nhận thông tin, lưu trữ hồ sơ, tiếp nhận thư từ văn bản….Đó là những chức năng mà hình thức văn phòng thường được sử dụng để đáp ứng một cách trọn vẹn nhất đến cá nhân, doanh nghiệp khi sử dụng.Có những loại hình văn phòng nào?Tuỳ vào mục đích sử dụng mà thị trường hiện tại đang có những hình thức và loại hình văn phòng như sau:+ Văn phòng làm việc truyền thốngĐổi mới loại hình văn phòng này thì có lẽ cũng đã không còn xa lạ gì đối với mọi người nữa rồi. Bạn có thể thoải mái hoạt động và phát triển tại đây và có đầy đủ cơ sở vật chất sử dụng cần thiết mà mình muốn.+ Loại hình văn phòng ảoĐối với hình thức này thì sẽ dành cho các doanh nghiệp dùng để đăng ký kinh doanh, tất cả các hoạt động nhận và gửi thư đều sẽ được thực hiện tại đây. Hoặc những vấn đề liên quan mà khi hoạt động sẽ không có sự khác biệt quá về lợi ích so với văn phòng truyền thống.+ Văn phòng chia sẻHình thức này tương tự với văn phòng ảo, tuy nhiên điểm khác ở đây là nhiều doanh nghiệp sẽ cùng sử dụng chung một văn phòng và tất nhiên là các nhân viên làm việc tại đây đều làm chung với nhau. Hình thức này giúp tiết kiệm chi phí đáng kể, nhất là đối với những doanh nghiệp mới hoạt động.Trên đây là bài viết của Công ty Luật Legalzone. Liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 0888889366 hoặc Fanpage để được tư vấn và hỗ trợ. Bạn có thể tham khảo các thủ tục pháp luật khác trên trang Thủ tục pháp luật của chúng tôi hoàn toàn miễn phí.
timeline_post_file60decbef97581-giay-khai-sinh.jpg
Hiện nay, vấn đề bị sai thông tin trên giấy khai sinh rất nhiều khách hàng đang gặp phải và gửi câu hỏi về cho Legalzone. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ giải đáp về "thay đổi thông tin trên giấy khai sinh"Giấy khai sinh là gì?Giấy khai sinh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân khi được đăng ký khai sinh; nội dung Giấy khai sinh bao gồm các thông tin cơ bản về cá nhân theo quy định.Thứ nhất, về điều kiện thay đổi, cải chính giấy khai sinh:– Đối với người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi): việc thay đổi họ, chữ đệm, tên phải có sự đồng ý của cha, mẹ người đó và được thể hiện trong Tờ khai. Bởi lẽ, đây là đối tượng chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Với người từ đủ 9 tuổi trở lên thì việc thay đổi phải được sự đồng ý của người đó.– Chỉ được thực hiện việc cải chính hộ tịch này khi có căn cứ để cho rằng sự sai sót thông tin trên giấy khai sinh là do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc người yêu cầu đăng ký hộ tịch.Thứ hai, về thẩm quyền thay đổi, cải chính thông tin trên giấy khai sinh:Cải chính hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch 2014 ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2014:Việc chỉnh sửa, cải chính thông tin của cá nhân trong Sổ hộ tịch hoặc trong bản chính giấy tờ hộ tịch (như giấy khai sinh)Chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ để xác định có sai sót do lỗi của công chức làm công tác hộ tịch hoặc của người yêu cầu đăng ký hộ tịch.Việc cải chính hộ tịch nói chung và cải chính thông tin trên giấy khai sinh nói chung sau khi đáp ứng các điều kiện luật định để cải chính còn phải thực hiện đúng thẩm quyền.Thẩm quyền cải chính thông tin trên giấy khai sinh cũng giống thẩm quyền cải chính hộ tịch được quy định tại Điều 7 Luật hộ tịch 2014. Theo đó, thẩm quyền thuộc về Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyện tùy theo độ tuổi của người có thông tin cần cải chính. Cụ thể được quy định như sau:Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền cải chính đối với người chưa đủ 14 tuổi ở trong nước;Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền cải chính đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên ở trong nước;Đối với người Việt Nam định cự ở nước ngoài thì thẩm quyền thuộc về cơ quan đại diện.Như vậy, nếu có nhu cầu cải chính thông tin thì tùy vào từng trường hợp thì bạn phải nộp hồ sơ cải chính đúng thẩm quyền để có thể được giải quyết.Thứ ba, thủ tục tay đổi, cải chính thông tin trên giấy khai sinh: Về hồ sơ thay đổi thông tin trên giấy khai sinh:Người yêu cầu cải chính thông tin trên giấy khai sinh chuẩn bị hồ sơ cải chính bao gồm:– Tờ khai theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư 15/2015/TT-BTP;– Bản chính giấy khai sinh;– Một số giấy tờ làm căn cứ để thay đổi thông tin như: Sổ hộ khẩu, Hộ chiếu,…Về trình tự, thủ tục thay đổi thông tin trên giấy khai sinh:Thủ tục cải chính hộ tịch được thực hiện theo quy định tại  Điều 28 Luật hộ tịch 2014. Cụ thể như sau:Nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền.Thời hạn:Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ.công chức tư pháp – hộ tịch sẽ ghi nội dung thay đổi, cải chính vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch nếu thấy việc cải chính thông tin trên giấy khai sinh đáp ứng đủ điều kiện:Có cơ sởĐủ điều kiệnĐúng thẩm quyềnPhù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan,Công chức tư pháp-hộ tịch báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.Trường hợp phức tạp, cần phải xác minh thêmThời hạn giải quyết được kéo dài thêm nhưng không quá 03 ngày làm việc.Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là Cơ quan đại diện. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến Cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.Trên đây là bài viết của Legalzone về thủ tục cải chính, thay đổi thông tin trên giấy khai sinh. Liên hệ với chúng tôi để được tư vấn chi tiết. Hotline 0888889366. Hoặc bạn có thể gửi tin nhắn cho chúng tôi qua Fanpage Công ty Luật Legalzone.
timeline_post_file60ab4d3e15f73-quang-cao-tren-bao-dien-tu.jpg
Quảng cáo trên báo điện tửThứ hai, 24/5/2021, 00:54 (GMT+7)Đã lưu“Không cho phép thời gian chờ tắt hoặc mở quảng cáo vượt quá 1,5 giây” trên báo điện tử là quy định hiệu lực từ 1/6 tới.Quy định này, tại Nghị định 38/2021 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá và quảng cáo, có vẻ hợp lý với bạn đọc, nhưng chưa hợp lý với doanh nghiệp.Họ sẽ chuyển quảng cáo từ báo chí sang nền tảng như YouTube. Vì ở đây, quảng cáo của họ được kéo dài 5 giây hoặc hơn, thậm chí có thể "bắt" người dùng xem hết với những video quảng cáo ngắn. Hay với các nền tảng OTT hoặc game, quảng cáo đang không bị các quy định pháp lý theo luật Việt Nam khống chế.Người bị thiệt là báo chí và nhà quảng cáo, doanh nghiệp trong nước. Người hưởng lợi là các ông lớn như Google, Facebook, nhà phát hành game và ứng dụng OTT.Tổng doanh thu của báo điện tử Việt Nam mỗi năm chỉ trên 4.000 tỷ đồng, trong khi tổng chi phí quảng cáo trực tuyến khoảng 14.500 tỷ đồng. Phần chênh lệch hơn 10.000 tỷ đồng đang rơi vào túi "người ngoài" là các tập đoàn xuyên biên giới. Quy định pháp lý như Nghị định 38 mới đây càng khiến miếng bánh đã bé dễ bị chia thêm cho các ông lớn hơn.Tôi bắt đầu nghiên cứu cơ chế thu hút quảng cáo trên báo chí năm 1994, khi còn làm việc tại một số tòa soạn báo. Như một quy luật, các nhà quảng cáo sẵn lòng bỏ tiền vào nơi họ tin rằng có lượng bạn đọc nhất định thuộc phân khúc họ muốn tiếp cận. Họ sẽ trả tiền cao hơn nữa, nếu được đảm bảo xuất hiện ở trang báo có nội dung quan trọng, hấp dẫn mà bạn đọc của họ không bao giờ bỏ qua. Ví dụ, trang 3, trang 5 hoặc trang đầu của những chuyên mục quan trọng như "tài chính - ngân hàng", "thời sự", "pháp lý"...Tôi cũng đã áp dụng cơ chế tương tự để bán quảng cáo trên một số tạp chí của mình sau đó. Các thương hiệu xa xỉ từng giành giật nhau những vị trí tốt nhất mà họ tin rằng bạn đọc - người có khả năng chi trả cho sản phẩm của họ - sẽ nhìn thấy đầu tiên. Nếu không, ít nhất họ cũng muốn quảng cáo của mình nằm bên tay phải của những "bài đinh" nửa đầu cuốn tạp chí.Không chỉ trên báo in, thời kỳ đầu của báo điện tử, khoảng 15 năm trước, việc chiếm được vị trí trên đầu hoặc có logo trên trang chủ rất quan trọng, vì người đọc kiểu gì cũng phải đi qua "mặt tiền" để vào "nhà" đọc tin. Sau này, bạn đọc trải nghiệm nội dung theo link bài báo được gợi ý, chia sẻ trên mạng xã hội. Người đọc "đi" thẳng vào bài viết qua link, không nhất thiết phải qua trang chủ.Dĩ nhiên, nhà quảng cáo khôn khéo sẽ chọn xuất hiện ở ngay bài báo, với nhiều hình thức sáng tạo, dựa trên thuật toán xác định người đang đọc có phải đối tượng mình muốn tiếp cận không. Lý do rất đơn giản và tất yếu: quảng cáo phải xuất hiện ở đâu khách hàng của họ có thể nhìn thấy, khi lật trang báo hoặc lướt web theo dòng chảy nội dung.Nhưng từ ngày Nghị định 38 hiệu lực tới đây, các hành vi tưởng như hiển nhiên này bị coi là vi phạm Luật Quảng cáo, sẽ bị phạt rất nặng. Trên báo in, quảng cáo không được phép xuất hiện ở trang nội dung, đồng thời quảng cáo theo ngữ cảnh trên báo điện tử bị cấm. "Được nằm cạnh nội dung" - yếu tố tiên quyết để nhà quảng cáo bắt tay với báo chí - bị khóa lại.Thực ra, quảng cáo xen với nội dung đã bị cấm từ Luật Quảng cáo 2012. Ngay khi nó ra đời, các nhà chuyên môn đã chỉ ra những bất cập và lạc hậu của nhiều điều khoản trong luật, không theo kịp sự biến chuyển vũ bão của công nghệ truyền thông.Trên thế giới, với báo chí miễn phí tương tự như ở Việt Nam, quảng cáo được phép xen kẽ với bài nội dung và tuỳ biến dựa theo đối tượng đọc báo. Người ta sáng tạo nhiều cách để tránh gây phản cảm cho bạn đọc. Ví dụ như các video, box hình ảnh tĩnh và động, lời gợi ý thân thiện ngay trên thân bài viết. Các bài viết hay phụ trương doanh nghiệp trả tiền được ghi rõ "nội dung được tài trợ". Người đọc hoàn toàn thoải mái trong việc nhấp chuột vào hay bỏ qua. Nếu không muốn bị quảng cáo làm phiền, bạn có thể đặt báo in hay trả tiền mua nội dung báo online theo tháng, quý hoặc năm.Tôi nhận ra rằng, trong nỗ lực bảo vệ quyền của bạn đọc, các nhà lập pháp nước ta đã quên mất quyền của người bỏ tiền quảng cáo, quyền của doanh nghiệp - người mang lại nguồn thu chính cho báo chí, và là một phần của thị trường truyền thông. Họ bị tước bỏ dần các công cụ tiếp cận khách hàng thông qua sản phẩm truyền thông chính thống. Quyền được phát triển mạnh mẽ của báo chí - những người phục vụ nhu cầu thông tin cho xã hội - đang bị gạt sang bên lề.Báo in đang khó khăn, bạn đọc mỗi ngày một rời xa. Mô hình thu phí người đọc mới chỉ manh nha ở một, hai báo điện tử. Cho tới bây giờ, quảng cáo vẫn là nguồn thu gần như duy nhất đối với hầu hết cơ quan báo chí, để báo chí có thể tiếp tục miễn phí cho bạn đọc.Các doanh nghiệp đương nhiên vẫn phải bán hàng. Họ, dù không muốn, sẽ buộc phải chuyển dịch ngân sách quảng cáo lẽ ra dành cho báo chí sang các kênh khác. Doanh thu của báo điện tử hiện chỉ chiếm 20% - 25% tổng thị trường quảng cáo trực tuyến, với sự siết chặt này, sẽ càng thêm khó.Thay đổi trên thực ra còn bất lợi cho nhà nước. Việc quảng bá sản phẩm khó khăn hơn sẽ cản trở sự phát triển chung của kinh tế - xã hội. Báo chí vốn là kênh uy tín để doanh nghiệp tiếp cận khách hàng. Đặc biệt, trong đại dịch Covid-19, các doanh nghiệp, vì giãn cách, có nhu cầu sử dụng kênh báo chí nhiều hơn để tiếp cận công chúng. Những rào cản mới sẽ khiến việc quảng bá sản phẩm, dịch vụ khó khăn hơn. Nhà quảng cáo không được sử dụng kênh báo chí hiệu quả sẽ chuyển sang các nền tảng khác mà việc thu thuế hiện là vấn đề nan giải với chính phủ.Bộ Thông tin - Truyền thông cũng thấy rõ thị phần quảng cáo trực tuyến trong nước ngày càng bị co hẹp bởi sự cạnh tranh bất bình đẳng, không chung một luật chơi với các nền tảng xuyên biên giới. Cơ quan này đang nỗ lực nhiều cách để cải thiện sự công bằng trên bức tranh quảng cáo số Việt Nam. Trong bối cảnh đó, việc Nghị định 38 ra đời với một số quy định bóp nghẹt quảng cáo trên báo chí vô hình trung càng tạo thêm lợi thế cho các Big Tech.Trong câu chuyện này, chính độc giả cũng bị ảnh hưởng. Họ có thể phải chấp nhận quảng cáo kém tin cậy bởi mạng xã hội không chịu trách nhiệm về sự chính xác của thông tin được quảng cáo như báo chí chính thống. Và điều quan trọng nữa, động lực phát triển một trong những ngành kinh tế sáng tạo: ngành xuất bản và nội dung số, sẽ bị suy giảm đáng kể.Người đọc có quyền chặn quảng cáo, nếu muốn. Họ có thể từ chối đọc, xem một kênh báo chí quá nhiều quảng cáo. Họ cũng có cả quyền không trả tiền cho người làm nội dung nếu không thích. Nhưng báo chí và doanh nghiệp thì không được pháp luật bảo hộ những quyền tương tự.Với Nghị định trên, tôi không bình luận về mức độ và hình thức xử phạt, vì nó được đặt ra với mục tiêu ngăn chặn vi phạm. Nhưng tôi chắc chắn việc áp dụng sẽ là bước lùi trong tiến trình đổi mới sáng tạo truyền thông theo xu hướng chung của thế giới.Lê Quốc Vinh
timeline_post_file60dbe694906db-tang.png
TĂNG TRƯỞNG NÓNG BẰNG ĐÀO TẠO NỘI BỘKINH NGHIỆM TỪ CÁC MARKET LEADER Đào tạo nội bộ được đánh giá là hoạt động “nòng cốt” mà nhiều công ty, tập đoàn lớn đầu tư tài chính để giữ chân nhân tài. Tuy nhiên, nhiều công ty vẫn ngó lơ và không chú trọng vào hoạt động này khi nhân lực phân tán, không đủ nhân sự đào tạo, phương pháp đào tạo vẫn truyền thống,…Doanh nghiệp Tăng trưởng nóng đứng trước rất nhiều bài toán khi mở rộng hoạt động kinh doanh liên tục & quy  mô nhân sự trải dài trên toàn quốc: Thứ nhất, đội ngũ “khai thiên lập thạch" với những người đi lên từ chuyên môn không đủ kỹ năng quản lý khi  số lượng nhân sự tăng nhanh. Thậm chí nhiều người cũ ra đi do xung đột văn hóa và cách thức làm việc mới. Thứ hai, nhiều quản lý và người giỏi từ bên ngoài về làm việc một thời gian lại ra đi do không hợp văn hóa, gây  nhiều lãng phí và mất ổn định trong tổ chức. Thứ ba, đội ngũ bán hàng và chăm sóc khách hàng không nhất quán về thông tin sản phẩm, quy trình và các tiêu  chuẩn bán hàng cũng như chăm sóc khách hàng, làm ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm khách hàng, chỉ số hài  lòng và tỷ lệ giữ chân khách hàng. Thứ tư, nhiều kinh nghiệm, kiến thức quý về bán hàng và quản lý của doanh nghiệp không được chia sẻ và lưu  giữ khi nhân sự chủ chốt ra đi. Và rất nhiều bài toán gây đau đầu cho chủ doanh nghiệp & bộ phận nhân sự - đào tạo. Với mục tiêu chia sẻ kinh  nghiệm “Thực tiễn nằm gai nếm mật” về chuyển dịch chiến lược nhân sự từ Buy (Tuyển dụng từ bên ngoài)  sang Build (Đào tạo & Phát triển từ nội bộ) thông qua Phát triển năng lực tổ chức & Tăng trưởng nóng bằng  Đào tạo nội bộ tại các Doanh nghiệp Market Leader trong ngành Tài chính - Ngân hàng - Bảo hiểm, Bất động  sản, Bán lẻ-Phân phối - Thương mại, Công nghệ thông tin, Giáo dục-Đào tạo, Dịch vụ - Sản xuất, Chuỗi hội  thảo trưc tuyến“ TĂNG TRƯỞNG NÓNG BẰNG ĐÀO TẠO NỘI BỘ: KINH NGHIỆM TỪ CÁC MARKET LEADER” do Học viện Quản trị HRD Academy tổ chức với sự chia sẻ của các khách mời đã nhận được sự  quan tâm, tin tưởng và đồng hành chia sẻ, lan toả của hơn 500 doanh nghiệp từ khắp ba miền.. Legalzone  xin gửi đến bạn cuốn Ebook “Tăng trưởng nóng bằng Đào tạo nội bộ: Kinh nghiệm từ các Market Leader” tổng hợp các câu chuyện & bài viết kinh nghiệm phát triển nội lực & hệ thống đào tạo nội bộ tại các doanh nghiệp đầu ngành trong thời kỳ tăng trưởng nóng.
timeline_post_file60de8b5da39ce-z2588210320670_fd4d9139540540230ebf8e3b44689bc1.jpg
Bên cạnh thắc mắc về việc có được đóng bảo hiểm trong thời gian thử việc không, nhiều người lao động cũng đang băn khăn không biết lương thử việc có phải trích đóng thuế thu nhập cá nhân hay không? Bài viết sau đây của Legalzone sẽ giúp bạn trả lời câu hỏi Lương thử việc có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không?Từ 2021, thử việc được ký hợp đồng lao độngĐây là một điểm mới nổi bật của Bộ luật Lao động (BLLĐ) 2019 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021). Cụ thể, Điều 24 BLLĐ năm 2019 quy định:Người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc thỏa thuận về thử việc bằng việc giao kết hợp đồng thử việc.Như vậy, từ năm 2021, các bên có thể lựa chọn thỏa thuận nội dung thử việc ghi trong hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng thử việc.Bên cạnh đó, theo quy định mới, thời gian thử việc đối với người lao động cũng có sự điều chỉnh tại Điều 25 BLLĐ năm 2019:- Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp;- Không quá 60 ngày đối với công việc cần trình độ từ cao đẳng trở lên;- Không quá 30 ngày đối với công việc cần trình độ trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;- Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.Trong thời gian này, người lao động sẽ được nhận ít nhất 85% lương của công việc đã thỏa thuận.Lương thử việc có phải đóng thuế thu nhập cá nhân không?Theo Luật thuế Thu nhập cá nhân (TNCN), người nộp thuế là cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết chỉ đề cập đến vấn đề đóng thuế TNCN của người lao động là cá nhân cư trú.Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC đã liệt kê các loại thu nhập chịu thuế TNCN, trong đó có tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động. Do đó, tiền lương thử việc cũng được tính là khoản thu nhập chịu thuế TNCN.Vì vậy, trước khi trả lương cho người lao động, người sử dụng lao động được phép trừ số thuế phải nộp vào thu nhập của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Thông tư 111 như sau:1. Khấu trừ thuế...b) Thu nhập từ tiền lương, tiền côngb.1) Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần……i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khácCác tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng có tổng mức trả thu nhập từ 02 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân…Theo đó, để biết được tiền lương thử việc có phải trích đóng thuế TNCN hay không cần căn cứ vào từng trường hợp sau:Trường hợp 1: Người lao động thử việc bằng cách ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lênKhi đó, thuế TNCN của người lao động sẽ được tính theo Biểu thuế lũy tiến từng phần. Theo Điều 7 Thông tư 111/2013/TT-BTC, căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập tính thuế và thuế suất. Trong đó, thu nhập tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ đi các khoản giảm trừ sau: - Các khoản giảm trừ gia cảnh (với chính bản thân là 11 triệu đồng/tháng, với mỗi người phụ thuộc là 4,4 triệu đồng/tháng theo Điều 1 Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14 );- Các khoản đóng bảo hiểm, quỹ hưu trí tự nguyện.- Các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học.>>> Tham khảo bài viết: Tính thuế thu nhập cá nhân đối với người nước ngoài như thế nào?Như vậy, người lao động chỉ phải nộp thuế TNCN khi có tổng thu nhập từ tiền lương, tiền công > 11 triệu đồng/tháng (nếu không có người phụ thuộc, nếu có 01 người phụ thuộc thì thu nhập phải > 15,4 triệu đồng/tháng).Đồng nghĩa với đó, người lao động thử việc trong trường hợp này có thu nhập < 11>nếu không có người phụ thuộc) hoặc < 15>nếu có 01 người phụ thuộc) sẽ không phải đóng thuế TNCN.Trường hợp 2: Người lao động ký hợp đồng thử việc hoặc thử việc với hợp đồng lao động dưới 03 thángNgười lao động trong trường hợp này mà có tổng mức thu nhập từ 02 triệu đồng/lần trở lên thì doanh nghiệp thực hiện khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho người lao động.Tuy nhiên, căn cứ điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC, người lao động chỉ có duy nhất thu nhập nêu trên nhưng tổng mức thu nhập chịu thuế sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì có thể làm cam kết theo mẫu 02/CK-TNCN gửi người sử dụng lao động để không bị khấu trừ thuế. Đồng thời, người lao động còn phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết. Có 2 trường hợp người lao động thử việc không phải đóng thuế TNCN:- Người lao động thử việc nhưng ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên có thu nhập dưới 11 triệu/tháng (nếu không có người phụ thuộc) hoặc dưới 15,4 triệu đồng/tháng (nếu có 01 người phụ thuộc).- Người lao động chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế và làm cam kết theo mẫu.Người lao động thử việc không thuộc các trường hợp trên đều phải đóng thuế TNCN.