0888889366
Tra cứu thông tin hợp đồng
Danh mục
LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
avatar
Đặng Kim Nhàn
206 ngày trước
Bài viết
Để được hưởng ưu đãi thuế TNDN doanh nghiệp sản xuất phần mềm cần làm gì?
Những quy định về hồ sơ là yếu tố quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất phần mềm muốn tận dụng ưu đãi thuế TNDN (Thuế thu nhập doanh nghiệp). Việc tuân thủ chính sách thuế này không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng tài chính mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phần mềm. Bài viết này sẽ trình bày những quy định quan trọng về hồ sơ mà bạn cần biết. 1.  Thuế thu nhập doanh nghiệp là gì?Hiện tại, vẫn chưa có văn bản chính thức đặc điểm hóa loại thuế này. Tuy nhiên, dựa trên cơ sở pháp lý và quy định của Điều 3 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, ta có thể hiểu rằng:Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là một dạng thuế trực thu được áp đặt lên doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế. Thuế này được thu từ các nguồn thu nhập phải chịu thuế, bao gồm thu nhập từ hoạt động kinh doanh, sản xuất, vận chuyển hàng hóa, cung cấp dịch vụ, và các nguồn thu nhập khác mà doanh nghiệp thu được theo quy định của pháp luật.Thuế TNDN được tính trên phần thu nhập mà doanh nghiệp phải chịu thuế sau khi đã trừ đi các khoản chi phí hợp lý. Điều này có nghĩa là thuế TNDN được áp dụng trên lợi nhuận thực sự mà doanh nghiệp đạt được sau khi đã khấu trừ các chi phí hoạt động.TNDN đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách quốc gia, giúp chính phủ có nguồn tài trợ để đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng như giáo dục, y tế, giao thông, bảo vệ môi trường, và nhiều lĩnh vực khác. Đây là nguồn tài chính cần thiết để hỗ trợ sự phát triển và cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân.Hơn nữa, TNDN cũng được sử dụng như một công cụ để điều chỉnh sự phân phối của các nguồn lực trong nền kinh tế.2. Để xác định một doanh nghiệp là doanh nghiệp sản xuất phần mềm cần có các tài liệu nào?Việc xác định một doanh nghiệp là "doanh nghiệp sản xuất phần mềm" đòi hỏi sự cung cấp các tài liệu quan trọng, theo quy định của Khoản 2, Điều 4 Thông tư 13/2020/TT-BTTT. Dưới đây là danh sách những giấy tờ và tài liệu quan trọng mà một doanh nghiệp phải cung cấp để đáp ứng điều kiện này.Tài liệu Xác Định Yêu CầuCông đoạn Xác Định Yêu Cầu là một phần quan trọng trong quá trình sản xuất phần mềm. Để được xem xét là doanh nghiệp sản xuất phần mềm, bạn cần cung cấp các tài liệu sau:Mô tả Ý Tưởng: Mô tả về phương thức phát triển sản phẩm, đặc tính của sản phẩm, và ngữ cảnh sử dụng sản phẩm.Kết Quả Khảo Sát và Mô Tả Đề Xuất: Bao gồm kết quả khảo sát, làm rõ yêu cầu đối với sản phẩm và phân tích chi tiết nghiệp vụ.Mô Tả Yêu Cầu Hoàn Chỉnh: Đây là mô tả yêu cầu hoàn chỉnh đối với sản phẩm và nội dung tư vấn điều chỉnh quy trình.Biên Bản Thống Nhất Yêu Cầu: Cung cấp biên bản thống nhất yêu cầu, xét duyệt yêu cầu, và mô tả khả năng kiểm soát sản phẩm.Tài Liệu Tương Tự: Bất kỳ tài liệu nào có nội dung tương tự liên quan đến quá trình Xác Định Yêu Cầu.Tài liệu Phân Tích và Thiết KếCông đoạn Phân Tích và Thiết Kế là một phần quan trọng khác để xác định doanh nghiệp sản xuất phần mềm. Các tài liệu cần cung cấp ở đây bao gồm:Mô Tả Yêu Cầu: Mô tả yêu cầu tổng quan của sản phẩm.Phân Tích Bài Toán Phát Triển: Mô tả kỹ thuật, tính đúng đắn và khả năng kiểm tra của phần mềm.Mô Hình Dữ Liệu và Thiết Kế: Bao gồm mô hình dữ liệu, mô hình chức năng, mô hình luồng thông tin.Thiết Kế Giải Pháp: Mô tả giải pháp phần mềm, thiết kế hệ thống phần mềm, thiết kế dữ liệu, thiết kế kiến trúc, và các đơn vị, mô đun thành phần của phần mềm.Thiết Kế Bảo Mật và An Toàn Thông Tin: Nếu có, cung cấp tài liệu về thiết kế bảo mật và an toàn thông tin cho phần mềm.Thiết Kế Giao Diện Trải Nghiệm Khách Hàng: Mô tả thiết kế giao diện và trải nghiệm khách hàng.Giấy Tờ Pháp LýNgoài các tài liệu trên, công ty sản xuất phần mềm cần cung cấp các giấy tờ pháp lý sau đây:Giấy Chứng Nhận Đăng Ký Doanh Nghiệp hoặc Giấy Phép Kinh Doanh: Để chứng minh rằng hoạt động kinh doanh của công ty là hợp pháp và được đăng ký.Chứng Minh Hoạt Động Kinh Doanh: Cung cấp các chứng từ, bằng chứng về hoạt động kinh doanh của công ty.Chú ý rằng để được xác định là doanh nghiệp sản xuất phần mềm, bạn cần ít nhất một trong hai công đoạn: Xác Định Yêu Cầu hoặc Phân Tích và Thiết Kế. Các tài liệu và giấy tờ trên cần phải hoàn chỉnh và tuân thủ quy định để tận dụng được ưu đãi thuế TNDN trong lĩnh vực phát triển phần mềm.3. Để được hưởng ưu đãi thuế TNDN doanh nghiệp sản xuất phần mềm cần làm gì?Doanh nghiệp sản xuất phần mềm cần thực hiện các quy định về thông tin và tự xác định các yêu cầu liên quan đến ưu đãi thuế TNDN theo Điều 5 của Thông tư 13/2020/TT-BTTT. Cụ thể quy định như sau:“Điều 5. Tổ chức sự kiện……2. Tổ chức và doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm, như được quy định trong Thông tư này, chịu trách nhiệm về:a) Tự xác nhận tính chính xác của thông tin trong hồ sơ đề xuất ưu đãi thuế đối với hoạt động sản xuất phần mềm và tự đánh giá hoạt động sản xuất phần mềm của mình có đáp ứng đủ các quy trình quy định hay không.b) Gửi và duy trì thông tin liên quan đến sản phẩm phần mềm, các công đoạn trong quá trình sản xuất sản phẩm phần mềm đáp ứng quy trình, cùng với các thông tin về mức thuế được khấu trừ đến Bộ Thông tin và Truyền thông (Vụ Công nghệ thông tin) để thực hiện việc tổng hợp.c) Đảm bảo rằng các hoạt động liên quan đến sản xuất sản phẩm phần mềm và sản phẩm phần mềm của họ tuân thủ tất cả các quy định về sở hữu trí tuệ và các quy định pháp luật khác liên quan”Ngoài ra, cần lưu ý rằng theo quy định của Thông tư 78/2014/TT-BTC, doanh nghiệp không cần thực hiện các thủ tục cụ thể để hưởng ưu đãi về thuế. Thay vào đó, họ chỉ cần tự xác định các điều kiện ưu đãi thuế, mức thuế suất ưu đãi, thời gian miễn thuế, giảm thuế, và số lỗ được trừ vào thu nhập tính thuế. Sau đó, doanh nghiệp tự thực hiện việc kê khai và quyết toán thuế với cơ quan thuế. Cơ quan thuế có trách nhiệm kiểm tra và thanh tra để đảm bảo tuân thủ các điều kiện được tự xác định bởi doanh nghiệp. Trong trường hợp vi phạm, cơ quan thuế sẽ thực hiện truy thu thuế và áp dụng xử lý vi phạm hành chính về thuế theo quy định của Luật thuế liên quan.    Nói cách khác, để được hưởng ưu đãi thuế TNDN, doanh nghiệp sản xuất phần mềm cần tự quản lý và đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình sản xuất và báo cáo thuế. Cơ quan thẩm quyền sẽ kiểm tra và thanh tra để đảm bảo tuân thủ các điều kiện ưu đãi thuế được tự xác định bởi doanh nghiệp và trong trường hợp vi phạm, sẽ áp dụng biện pháp xử lý và truy thu thuế tương ứng.Kết Luận: Luật pháp về thuế có thể thay đổi theo thời gian. Do đó, việc theo dõi và cập nhật hồ sơ để đáp ứng các thay đổi này là quan trọng. Không tuân thủ các quy định mới có thể dẫn đến mất quyền ưu đãi thuế TNDN.Chính vì vậy, việc hiểu và tuân thủ các quy định về hồ sơ là một phần quan trọng của việc tận dụng ưu đãi thuế TNDN cho doanh nghiệp sản xuất phần mềm. Sự chuẩn bị cẩn thận và sử dụng các dịch vụ chuyên gia có thể giúp đảm bảo rằng bạn không chỉ tuân thủ các quy định mà còn tối ưu hóa lợi ích thuế cho doanh nghiệp của mình. Để tìm hiểu rõ hơn các vấn đề liên quan truy cập tại thủ tục pháp luật. 
avatar
Nguyễn Thị Ngọc Lan
252 ngày trước
Bài viết
HOÀN THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Trong thập kỳ qua, việc bảo vệ môi trường đã trở thành một ưu tiên hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới. Để khuyến khích doanh nghiệp thực hiện các biện pháp thân thiện môi trường, hoàn thuế bảo vệ môi trường đã được đưa ra. Nhưng hoàn thuế này là gì và lợi ích của nó đối với doanh nghiệp là gì? Hãy cùng tìm hiểu!1.Thế nào là thuế bảo vệ môi trường?Dựa vào Điều 2 của Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010, thuế bảo vệ môi trường được định nghĩa là một loại thuế gián thu, áp dụng cho các sản phẩm và hàng hóa khi chúng được sử dụng và gây ra tác động xấu lên môi trường.2. Các trường hợp hoàn thuế bảo vệ môi trường.Theo Điều 11 của Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010, có 05 tình huống được hoàn thuế bảo vệ môi trường:Các mặt hàng nhập khẩu đang lưu trữ tại cảng và dưới sự giám sát của Hải quan khi được tái xuất khẩu.Sản phẩm nhập khẩu dành để bán hoặc giao cho nước ngoài qua đại lý ở Việt Nam; cũng như xăng, dầu được bán cho các phương tiện của công ty nước ngoài tại cảng Việt Nam hoặc cho phương tiện của Việt Nam trên các tuyến đường quốc tế.Hàng hóa được nhập khẩu tạm thời và sau đó tái xuất khẩu dưới hình thức kinh doanh hàng tạm nhập, tái xuất.Sản phẩm nhập khẩu được người nhập khẩu tái xuất khẩu.Hàng hóa được nhập khẩu tạm thời cho các sự kiện như hội chợ, triển lãm và khi được tái xuất khẩu.3. Tính thuế bảo vệ môi trường vào thời điểm nào?Theo Điều 9 của Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010:Khi hàng hóa được sản xuất, bán, trao đổi hoặc tặng, thuế được tính vào thời gian chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa.Đối với hàng hóa sản xuất cho mục đích sử dụng nội bộ, thuế được tính vào thời điểm hàng hóa bắt đầu được sử dụng.Với hàng hóa nhập khẩu, thuế sẽ được tính vào thời điểm hoàn tất tờ khai hải quan.Riêng với xăng và dầu, dù là sản phẩm trong nước hay nhập khẩu, thuế sẽ được áp dụng vào thời điểm các doanh nghiệp xăng dầu bán sản phẩm ra thị trường.4. Đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường bao gồm?Theo Điều 3 của Luật Thuế bảo vệ môi trường năm 2010:Các sản phẩm dầu và mỡ nhờn, bao gồm:Các loại xăng, trừ loại etanol.Nhiên liệu dùng cho máy bay.Dầu diezel.Dầu hỏa.Dầu mazut.Dầu nhờn và mỡ nhờn.Các loại than đá:Than nâu.Antraxit.Than mỡ.Các loại than đá khác.Dung dịch HCFC.Túi ni lông có mức thuế áp dụng.Các loại thuốc có hạn chế sử dụng như thuốc diệt cỏ, thuốc trừ mối, thuốc bảo quản lâm sản và thuốc khử trùng kho.Lưu ý: Ủy ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền xem xét và thêm đối tượng chịu thuế theo từng thời điểm cụ thể để phù hợp với thực trạng và nhu cầu xã hội.5. Cách thức thực hiện.Để được hưởng hoàn thuế bảo vệ môi trường, doanh nghiệp cần:Đầu tư vào các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm, tái sử dụng và tái chế.Thực hiện và báo cáo đầy đủ, minh bạch về việc sử dụng các giải pháp thân thiện môi trường.Đăng ký và làm theo quy trình hoàn thuế theo quy định của cơ quan thuế.Kết luận:Hoàn thuế bảo vệ môi trường không chỉ là một cơ hội để doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mà còn là một phần trong chiến lược xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Với sự hỗ trợ từ chính sách này, các doanh nghiệp có thể tận dụng tối đa lợi ích, đồng thời đóng góp vào việc bảo vệ môi trường. 
avatar
Đặng Quỳnh
311 ngày trước
Bài viết
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN LUẬT THUẾ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
3.1.   Một số giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt NamTrên cơ sở lý luận về hoàn thiện pháp luật thuế môi trường ở Chương 1, tương ứng với những đánh giá về hiệu quả của pháp luật thuế môi trường ở Chương 2, phần viết sau sẽ đề xuất một số giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này với mục tiêu nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam.3.1.1.  Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về nội dung thuế môi trường3.1.1.1. Đối tượng chịu thuế và người nộp thuế theo Luật Thuế bảo vệ môi trườngNhững phân tích và đánh giá ở tiểu mục 2.1.1.1 đã cho thấy, các quy định của Luật Thuế BVMT về đối tượng chịu thuế còn khá hẹp, chưa bao quát hết các sản phẩm gây ô nhiễm, quy định về thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội còn chưa phù hợp với Hiến pháp năm 2013. Do vậy, Luật Thuế BVMT năm 2010 cần được sửa đổi, bổ sung để đảm bảo tính toàn diện và tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật.Thứ nhất, cần nghiên cứu rà soát, bổ sung đối tượng chịu thuế BVMT, trước hết là bổ sung các hàng hóa theo thông lệ quốc tế cũng chịu thuế môi trường như: phân bón hóa học, thuốc lá, khí than, khí thiên nhiên.-   Đối với phân bón hóa học: mức thuế BVMT với phân bón hóa học ngoài việc góp phần hạn chế những tác động có hại đến môi trường và khuyến khích sử dụng hợp lý phân bón trong hoạt động nông nghiệp thì việc quy định mức thu thuế BVMT với sản phẩm này nên bao gồm cả việc tạo ra cơ hội sử dụng NSNN cho nông nghiệp và nông dân. Theo đó, cần thiết quy định khung mức thuế theo hướng một phần số thu từ thuế BVMT đối với phân bón hóa học mà vượt quá chi phí quản lý thuế BVMT đối với sản phẩm này sẽ được phân bổ lại tới hộ gia đình nông dân có sử dụng phương pháp canh tác thân thiện với môi trường hoặc có hành động cụ thể để BVMT.Vì vậy, mức thuế chiếm khoảng 3,5 - 5%/giá bán 1kg phân bón hóa học.Kinh nghiệm thế giới cho thấy: Bỉ cũng thực hiện thu thuế cho mục đích BVMT đối với phân bón hóa học sử dụng trong nông nghiệp. Mỗi nông dân được giấy phép về việc sử dụng phân bón (mức phân bón được phép sử dụng đối với đất nông nghiệp là 180kg/ha). Nếu sử dụng vượt quá mức cho phép thì phải nộp 1€/phần vượt quá theo quy định. Trường hợp nông dân nào không sử dụng hết mức cho phép trong giấy phép mà người đó chấp hành tốt các quy định về việc sử dụng phân bón thì sẽ được bán quyền sử dụng phân bón đó cho người khác.-  Đối với thuốc lá: Hiện nay, tỷ lệ thuế (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng) trên giá bán lẻ thuốc lá hiện hành chỉ chiếm khoảng 44,9%; thấp hơn nhiều nếu so với tỷ lệ thuế trên giá bán lẻ của các nước trong khu vực và trên thế giới. Do đó, cần thiết phải đưa thuốc lá vào diện chịu thuế BVMT. Đề xuất khung thuế BVMT đối với thuốc lá là: 200-500 đồng/điếu thuốc. Với mức đề xuất này, nếu cộng thêm thuế BVMT thì tỷ lệ thuế (thuế BVMT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng) trên giá bán lẻ thuốc lá từ 51-58%, tương đương với tỷ lệ thuế trên giá bán lẻ thuốc lá của bình quân các nước trong khu vực Đông Nam Á.-  Đối với khí thiên nhiên, khí than: Mức thuế nên được xây dựng tương đương tỷ lệ 30% giá bán (chưa có thuế giá trị gia tăng).Về lâu dài, phạm vi đối tượng chịu thuế BVMT cần được mở rộng đối với các hàng hóa khác như: chất tẩy rửa, sơn, pin, ắc quy, điện.Thứ hai, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 3 Luật thuế BVMT về đối tượng chịu thuế như sau: “Dung dịch hydro-chloro-fluoro-carbon (HCFC), bao gồm cả dung dịch HCFC có trong chất hỗn hợp chứa dung dịch HCFC” để xác định rõ dung dịch HCFC được sản xuất hoặc nhập khẩu dưới dạng chất hỗn hợp cũng thuộc đối tượng chịu thuế BVMT.Thứ ba, bỏ quy định tại Khoản 9 Điều 3 Luật Thuế BVMT năm 2010: “Trường hợp xét thấy cần thiết phải bổ sung đối tượng chịu thuế khác cho phù hợp với từng thời kỳ thì Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quy định”. Xét về khía cạnh lý luận, quy định này chưa phù hợp với quy định về thẩm quyền của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội được nêu trong Hiến pháp năm 2013. Xét về mặt thực tiễn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa bao giờ “tự” bổ sung đối tượng chịu thuế.Để đảm bảo tính hợp hiến, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Luật Thuế BVMT hiện hành cần được sửa đổi theo hướng: bãi bỏ những quy định mở rộng thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội và bổ sung những quy định cụ thể về đối tượng chịu thuế.3.1.1.2.   Đối tượng chịu thuế và người nộp thuế theo Luật Thuế tài nguyênNhư đã phân tích ở mục 2.1.1.2, quy định về đối tượng chịu thuế và người nộp thuế của Luật Thuế tài nguyên, về cơ bản, đã đảm bảo tương thích với thông lệ quốc tế và phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Tuy nhiên, pháp luật thực định về thuế tài nguyên vẫn còn tồn tại một số bất cập cần được sửa đổi như sau:Thứ nhất, với những lập luận tương tự như mục 3.2.1.1, cần bỏ quy định tại Khoản 9 Điều 2 Luật Thuế tài nguyên năm 2009: “Tài nguyên khác do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định”.Thứ hai, cần thống nhất tên gọi các loại nước thiên nhiên tại Điều 2, Khoản 5 Điều 5 và Điều 8 Luật Thuế tài nguyên năm 2009. Theo đó, nước thiên nhiên bao gồm: Nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp, nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện, nước thiên nhiên dùng cho sản xuất, kinh doanh. Thay cụm từ “nước thiên nhiên dùng cho mục đích công nghiệp” tại Khoản 5 Điều 5 bằng “nước thiên nhiên dùng cho sản xuất kinh doanh”.Thứ ba, nghiên cứu bổ sung một số loại tài nguyên có giá trị kinh tế cao vào diện đối tượng chịu thuế như: san hô đỏ, đá bazan dạng cột được sử dụng làm đá xây dựng cao cấp.Thứ tư, để thống nhất giữa Luật Thuế tài nguyên với Luật Khoáng sản, Luật Lâm nghiệp và Luật Tài nguyên nước, tạo cơ chế quản lý thuế có hiệu quả, chống thất thu thuế đối với những trường hợp được phép khai thác nhưng sản lượng khai thác nhỏ lẻ, Điểm c Khoản 2 Điều 3 Luật Thuế tài nguyên cần được sửa đổi. Theo đó, bổ sung thêm cụm từ “được cấp phép khai thác” vào trước đoạn “khai thác nhỏ lẻ”. Khi đó, Điểm c Khoản 2 Điều 3 sửa đổi sẽ là: “Tổ chức, cá nhân được cấp phép khai thác tài nguyên nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua và tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua cam kết chấp thuận bằng văn bản về việc kê khai, nộp thuế thay cho tổ chức, cá nhân khai thác thì tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế”.3.1.1.3. Đối tượng chịu thuế và người nộp thuế theo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệtVới những phân tích ở tiểu mục 2.1.1.3, quy định về đối tượng chịu thuế tiêuthụ đặc biệt vẫn còn có một số hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung những nội dung sau:Trước hết, đối với xe ô tô chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, cần có những điều chỉnh sâu sắc trong tư duy pháp lý đối với mặt hàng này. Tiêu chí đánh thuế tiêu thụ đặc biệt với xe ô tô không nên căn cứ vào số chỗ ngồi mà chỉ nên dựa trên mức độ tiêu thụ nhiên liệu (tức dung tích xi lanh) của xe. Xe ô tô càng tiêu thụ nhiều năng lượng hóa thạch thì mức thuế càng cao.Ngoài ra, nhà làm luật cũng nên cân nhắc việc bỏ quy định đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe ô tô chạy bằng điện, ô tô chạy bằng năng lượng sinh học nhằm khuyến khích các phát minh, sáng chế mới trong lĩnh vực giao thông và kích cầu tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường.Thứ hai, để phù hợp với thông lệ quốc tế, cần bổ sung đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là dầu diezel và dầu khí hóa lỏng. Đối với xăng, cần có sự phân biệt về mức thuế tiêu thụ đặc biệt theo hàm lượng lưu huỳnh (hoặc chỉ số octan) của xăng.3.1.1.4.   Căn cứ tính thuế theo Luật Thuế bảo vệ môi trườngNhững phân tích ở mục 2.1.2.1 cho thấy, pháp luật Thuế BVMT hiện hành còn có những hạn chế về biểu khung thuế suất đối với một số hàng hóa. Để khắc phục những hạn chế này, người viết xin đề xuất như sau:Trước hết, cần quán triệt nguyên tắc “mức thuế BVMT phải được đưa ra trên cơ sở mức độ gây ô nhiễm của hàng hóa chịu thuế”, vì vậy, theo người viết, thuế suất thuế BVMT nên là mức thuế tuyệt đối cố định theo từng loại hàng hóa, không nên quy định mức tối thiểu và mức tối đa. Kiến nghị này nhằm làm tăng tính minh bạch, tính ổn định của Luật Thuế BVMT, tránh mở rộng thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trái với Hiến pháp năm 2013. Hơn nữa, quy định pháp lý hiện hành về thuế suất tối thiểu và tối đa đang chỉ dựa trên lập luận “linh hoạt, dễ điều chỉnh theo điều kiện kinh tế - xã hội”232 mà thiếu các căn cứ khoa học, do vậy, thiếu tính thuyết phục. Các đề xuất tăng thuế BVMT của Bộ Tài chính trong thời gian gần đây thường vấp phải phản ứng dữ dội của dư luận chính là minh chứng rõ ràng nhất cho nhận định này.233 Mức thuế suất thuế BVMT cần được xác định trên cơ sở khảo sát, đánh giá kết quả thực hiện Luật Thuế BVMT trong thời gian từ khi Luật có hiệu lực cho đến nay. Mức thuế phải hợp lý để bảo đảm sự cân bằng giữa những chi phí mà người dân phải bỏ ra để đóng thuế, chi phí quản lý thuế của Nhà nước và lợi ích mà người dân cũng như cộng đồng được hưởng từ việc đánh thuế BVMT.Thứ hai, quy định mức thuế suất đối với xăng, dầu cần dựa trên hàm lượng lưu huỳnh để phù hợp với mức độ gây ô nhiễm của từng sản phẩm cũng như tương thích với thông lệ quốc tế. Chẳng hạn, đối với xăng có hàm lượng lưu huỳnh trên 10mg/kg thì mức thuế cao hơn xăng có hàm lượng lưu huỳnh dưới 10mg/kg.Thứ ba, cần xem xét điều chỉnh mức thuế suất đối với than nhằm tăng cường trách nhiệm của người sử dụng sản phẩm này, khuyến khích việc chuyển đổi sang các dạng năng lượng khác thân thiện hơn với môi trường. Theo lẽ thông thường, giá than rẻ hơn giá điện, giá gas thì đương nhiên người dân sẽ “thích” dùng than hơn.Thứ tư, đối với thuốc bảo vệ thực vật, để thống nhất với Thông tư số 03/2018/TT-BNNPTNT ngày 09/02/2018 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam (sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 13/2018/TT-BNNPTNT), cần bỏ cụm từ “thuộc loại hạn chế sử dụng” ở Khoản 5, 6, 7, 8 Điều 3 Luật Thuế BVMT năm 2010. Ngoài ra, đối tượng chịu thuế là “thuốc diệt cỏ” quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật Thuế BVMT cần thay bằng “thuốc trừ cỏ” để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của pháp luật. Bên cạnh đó, mức thuế suất đối với từng loại thuốc bảo vệ thực vật cần được xác định dựa trên mức độ độc hại, mức độ ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe con người của từng sản phẩm.Thứ năm, theo ý kiến của nhiều chuyên gia, cách đánh thuế BVMT đối với túi ni lông nên căn cứ vào số lượng túi sẽ có tác dụng BVMT tốt hơn. Cách đánh thuế hiện nay dựa trên khối lượng túi ni lông sẽ khuyến khích sản xuất nhiều túi ni lông loại mỏng vì túi ni lông dày chịu thuế cao hơn, trong khi đó các loại túi ni lông mỏng thì hầu như không thể tái chế, khả năng tái sử dụng cũng thấp. Các loại túi ni lông dày hơn và đựng đồ sạch thì có thể tái sử dụng, tái chế dễ hơn. Tuy nhiên, đánh thuế dựa trên số lượng túi ni lông có nhược điểm là hành thu sẽ khó hơn do các hóa đơn, hợp đồng mua bán túi ni lông đều dựa trên khối lượng, khi tính thuế cần thực hiện thêm một thao tác để quy đổi từ khối lượng sang số lượng túi ni lông.Bên cạnh đó, nhà làm luật cũng cần điều chỉnh mức thuế BVMT đối với sản phẩm này vì mức thuế hiện hành đang tỏ ra chưa hiệu quả, chưa tương xứng với mức độ gây ô nhiễm môi trường của túi ni lông.Trong Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế BVMT, cơ quan soạn thảo đang đề xuất mức thuế với túi ni lông từ 40.000 đồng đến 200.000 đồng. Về lâu dài, có ý kiến còn cho rằng nên cấm hẳn việc sản xuất túi ni lông không thân thiện với môi trường nhằm khuyến khích sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm “xanh” thay thế túi ni lông.236 Người viết cũng tán thành các giải pháp này bởi trên thực tế, số thuế BVMT thu được từ túi ni lông không đủ để bù đắp các chi phí xử lý ô nhiễm môi trường do sản phẩm này gây ra. Hơn nữa, trên thị trường đã có rất nhiều sản phẩm “xanh” thay thế túi ni lông như túi vải, túi giấy.3.1.1.5.   Căn cứ tính thuế theo Luật Thuế tài nguyênNhư đã phân tích ở tiểu mục 2.1.2.2, quy định của Luật Thuế tài nguyên về căn cứ tính thuế còn có nhiều bất cập, cần phải sửa đổi, bổ sung.Thứ nhất, cần khắc phục tình trạng thiếu tính ổn định (tương đối) và khả năng dự báo kém của pháp luật thuế tài nguyên. Việc thu thuế tài nguyên được triển khai thực hiện ở nước ta từ năm 1990 theo Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1990 (sửa đổi, bổ sung năm 1998). Hiện nay, Luật Thuế tài nguyên năm 2009 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) đang có hiệu lực thi hành. Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, thuế tài nguyên đã có thời gian thi hành rất dài (gần 20 năm), tuy nhiên, tính toàn diện, tính đồng bộ và kỹ thuật lập pháp của đạo luật này vẫn luôn là vấn đề gây nhiều tranh luận (xem phần trình bày ở tiểu mục 2.1.2.2).Nhà làm luật có lẽ cần “đầu tư” trí tuệ nhiều hơn, lắng nghe và tiếp thu ý kiến người dân, các chuyên gia cũng như cộng đồng doanh nghiệp để xây dựng, hoàn thiện luật thuế tài nguyên, tránh việc sửa đổi, bổ sung chắp vá như hiện nay.Thứ hai, để đảm bảo sự thống nhất với Luật Điện lực và Luật Hải quan, Điểm a Khoản 3 Điều 6 Luật Thuế tài nguyên cần sửa đổi như sau: giá tính thuế “đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thủy điện là giá bán lẻ điện bình quân do Bộ Công thương trình Thủ tướng Chính phủ quyết định”; Điểm c Khoản 3 Điều 6 Luật Thuế tài nguyên cần sửa đổi như sau: giá tính thuế “đối với tài nguyên khai thác không tiêu thụ trong nước mà xuất khẩu là trị giá hải quan của tài nguyên xuất khẩu”.Thứ ba, cần trừ chi phí sản xuất, chế biến, chi phí xuất khẩu khi xác định giá tính thuế đối với tài nguyên khai thác chưa bán ra ngay mà phải qua sản xuất, chế biến thành sản phẩm tài nguyên mới bán ra (quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 6 Thông tư số 152/2015/TT-BTC) để phù hợp với bản chất của thuế tài nguyên: đánh thuế phải dựa trên giá trị gốc của tài nguyên chưa qua chế biến như thông lệ quốc tế.Thứ tư, xác định thuế suất thuế tài nguyên đối với khoáng sản cần được cân đối dựa trên việc tổng hợp các khoản thu đối với sản phẩm này. Pháp luật hiện hành quy định các khoản thu sau đối với khoáng sản:Xét trong tổng thể các khoản thu đối với khoáng sản, như đã trình bày ở mục 2.1.2.2, thuế suất thuế tài nguyên của Việt Nam là khá cao (trừ dầu thô). Nhà làm luật cần nghiên cứu, xem xét điều chỉnh giảm thuế suất thuế tài nguyên đối với khoáng sản (trừ dầu thô).Thứ năm, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia đã xây dựng quỹ riêng để quản lý các khoản thu từ khai thác tài nguyên không tái tạo nhằm hạn chế các cú sốc về biến động giá cả và tạo nguồn lực tài chính cho các thế hệ tương lai, hướng tới phát triển bền vững. Các quốc gia này cũng ban hành các chính sách quy định cụ thể về tỷ lệ dự trữ, phân bổ và sử dụng nguồn thu từ tài nguyên để đầu tư phát triển các ngành sản xuất khác. Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay chưa xây dựng một hệ thống quản lý riêng đối với nguồn thu từ khai thác tài nguyên khoáng sản (đặc biệt là đối với dầu khí). Điều này dẫn đến nhiều thách thức trong việc quản lý các biến động về nguồn thu khi giá tài nguyên sụt giảm và khó khăn trong việc xây dựng kế hoạch chi một cách hợp lý và hiệu quả.237Việt Nam cần nghiên cứu, xem xét việc thành lập Quỹ Tài nguyên để quản lý hiệu quả nguồn thu từ khai thác khoáng sản. Để thực hiện giải pháp này, Luật NSNN năm 2015 cũng cần có những sửa đổi nhằm tạo sự thống nhất giữa pháp luật về NSNN và pháp luật thuế tài nguyên. Khoản 1 Điều 7 Luật NSNN quy định: các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định pháp luật được tổng hợp đầy đủ vào cân đối NSNN, theo nguyên tắc không gắn với nhiệm vụ chi cụ thể. Do vậy, Luật NSNN cần bổ sung quy định về ngoại lệ đối khoản thu từ khoáng sản. Theo đó, khoản thu này sẽ có nguyên tắc quản lý, phân bổ và sử dụng đặc thù, đảm bảo phát triển bền vững.3.1.1.6.   Căn cứ tính thuế theo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệtQuy định của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt về căn cứ tính thuế, như đã phân tích tại tiểu mục 2.1.2.3, có một số hạn chế cần khắc phục như sau:Thứ nhất, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá cần được điều chỉnh tăng để đảm bảo tỷ lệ thuế/ giá bán lẻ thuốc lá tối thiểu là 65% theo khuyến nghị của WB, WHO và xu hướng chung của thế giới. Nếu thuốc lá được đưa vào diện chịu thuế BVMT như đề xuất tại mục 3.2.1.1, thì tỷ lệ thuế/ giá bán lẻ thuốc lá cần cộng thêm cả thuế BVMT.Thứ hai, thực hiện yêu cầu của Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020, để phù hợp với thông lệ quốc tế và bản chất của thuế tiêu thụ đặc biệt, cần nghiên cứu áp dụng thuế suất tuyệt đối. Ngoài ra, với một số mặt hàng, để nâng cao hiệu quả hướng dẫn tiêu dùng, cần áp dụng đồng thời cả thuế suất tỉ lệ và thuế suất tuyệt đối như: thuốc lá. (Xem thêm Phụ lục 5 về thuế tiêu thụ đặc biệt của các nước OECD).3.1.2.  Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế môi trường3.1.2.1.   Pháp luật thuế môi trường về các thủ tục hành chínhNhững phân tích và đánh giá ở mục 2.2.1 cho thấy, pháp luật thuế môi trường về các thủ tục hành chính chưa mang lại những kết quả tích cực xét về khía cạnh BVMT, về tính hiệu quả kinh tế, về tính đơn giản và tính ổn định (tương đối). Để khắc phục những hạn chế này, người viết xin kiến nghị một số giải pháp sau:Thứ nhất, cần tăng cường công tác quản lý thu thuế BVMT đối với túi ni lông, thuốc bảo vệ thực vật và dung dịch HCFC. Trên thị trường, các sản phẩm này chủ yếu do các hộ gia đình sản xuất, kinh doanh nhưng việc khoán thuế đối với chủ thể này đang tồn tại nhiều bất cập (đã phân tích ở mục 2.2.1). Luật Quản lý thuế năm 2019 đã có những sửa đổi quan trọng nhằm khắc phục hạn chế này, cụ thể là:i)  Phân loại hộ kinh doanh quy mô lớn để áp dụng hình thức quản lý thuế phù hợp như áp dụng chế độ kế toán đơn giản tương ứng với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ; áp dụng chế độ hóa đơn điện tử, khai thuế điện tử, nộp thuế điện tử. Theo đại diện Tổng cục Thuế, mục tiêu của việc làm này là hạn chế tối đa sự lợi dụng mô hình hộ kinh doanh nhằm mục đích trốn thuế, tạo khuôn khổ pháp lý về thuế thúc đẩy hộ kinh doanh quy mô lớn chuyển đổi thành doanh nghiệp.ii)   Phân loại hộ kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ có giao dịch thanh toán bằng tiền mặt với người tiêu dùng để áp dụng các biện pháp không dùng tiền mặt trong giao dịch kinh doanh bán lẻ, nhà hàng, cửa hàng dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí...Trên cơ sở đó, có biện pháp quản lý đối với việc bán hàng phải xuất hoá đơn, hoặc thanh toán không dùng tiền mặt nhằm đẩy mạnh sử dụng hoá đơn điện tử, kết nối thông tin doanh thu bán hàng thông qua máy tính tiền hoặc các thiết bị chấp nhận thẻ thanh toán.iii) Phân loại hộ kinh doanh quy mô nhỏ để áp dụng hình thức thuế khoán, tăng cường tính minh bạch, tăng cường vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương và các tổ chức có liên quan trên địa bàn. Tổng cục Thuế cho rằng, mục đích của việc làm này nhằm hạn chế tối đa việc khoán thuế không sát thực tế, hạn chế tối đa việc phát sinh thỏa thuận ngầm giữa hộ kinh doanh và cán bộ thuế gây bất bình trong xã hội.Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng đề xuất xây dựng giải pháp quay xổ số hoá đơn nhằm khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia giám sát doanh thu kinh doanh của người nộp thuế (bao gồm cả doanh nghiệp và hộ kinh doanh) đảm bảo người nộp thuế kê khai doanh thu đúng thực tế. Theo đó, hóa đơn mua sắm của người dân sẽ được xổ số định kỳ. Xổ số hóa đơn sẽ khuyến khích người mua lấy hóa đơn nên bắt buộc người bán phải xuất, thất thoát thuế sẽ được hạn chế.Những giải pháp trên là phù hợp với bối cảnh số lượng hộ kinh doanh đang ngày càng tăng nhanh và đóng góp tỉ lệ không nhỏ trong GDP. Việc phân loại hộ kinh doanh cần dựa trên tiêu chí định lượng rõ ràng như: số lượng lao động được sử dụng, lượng điện năng, lượng nước tiêu thụ trong tháng/ quý. Đối với hộ kinh doanh nhỏ, thuế khoán phải bao gồm cả thuế BVMT.Thứ hai, Việt Nam có thể đẩy mạnh giảm phát thải GHG ở tất cả các lĩnh vực phát thải, bao gồm sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF), nông nghiệp, chất thải và sản xuất công nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất và tiêu dùng năng lượng. Phát thải GHG từ sản xuất và tiêu dùng năng lượng chiếm phần lớn lượng phát thải hiện tại và tương lai của Việt Nam, lượng phát thải này tăng gấp bốn lần trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2030 về mặt con số tuyệt đối và chiếm 86% tổng lượng phát thải ròng vào năm 2030 theo kịch bản thông thường (viết tắt là BAU).Phân tích kinh tế vĩ mô cho thấy việc tăng tham vọng giảm phát thải GHG bên ngoài Đóng góp do quốc gia tự quyết định (viết tắt là NDC239) hiện tại có thể làm cho GDP của Việt Nam tăng nhanh hơn; tạo ra các công việc xanh và sạch mới; và gia tăng các mặt hàng xuất khẩu nhờ hiện đại hóa công nghệ và nâng cao hiệu suất. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải sử dụng các cơ hội và định hướng cho việc mở rộng năng lượng tái tạo (viết tắt là RE) và tăng hiệu quả năng lượng (viết tắt là EE). Các tác động đối với lạm phát từ việc tăng giá năng lượng ban đầu có thể sẽ không đáng kể và giá năng lượng có thể sẽ thấp hơn trong trung và dài hạn so với BAU. Việc chuyển đổi năng lượng sẽ không chỉ giúp đạt được tham vọng giảm phát thải cao mà còn giảm sự phụ thuộc vào thị trường nhiên liệu hóa thạch và vận tải quốc tế, đồng thời tăng cường an ninh năng lượng quốc gia.EE của Việt Nam trên mỗi đơn vị GDP hiện tương đối thấp. Tuy nhiên, có thể cải thiện hướng tới chi phí thấp trong EE, giúp giảm chi tiêu của các ngành công nghiệp và người tiêu dùng. Trong những năm đầu chuyển đổi năng lượng, giá năng lượng có thể tăng ở mức khiêm tốn 15-20% nếu áp thuế carbon để tính chi phí ngoại biên trong việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch và loại bỏ tất cả các hỗ trợ gián tiếp đối với việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Giá cao hơn sẽ là động lực chính để đầu tư nhiều hơn vào EE cũng như RE. Bên cạnh đó, cần có các biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp đối phó với mức giá cao hơn và cải thiện EE. Giá năng lượng tăng cũng sẽ tác động đến các nhóm thu nhập thấp, vì vậy cần có các cơ chế hỗ trợ, đặc biệt là giá bán lẻ điện lũy tiến. Trong trung đến dài hạn, cải thiện EE, giảm nhập khẩu nhiên liệu và chi phí RE thấp hơn sẽ giúp giảm chi phí điện năng tại Việt Nam.Thứ ba, để cải thiện khả năng dự báo số thu thuế tiềm năng ở Việt Nam, các tác giả Gangadha Prasad Shukla, Phạm Minh Đức, Michael Engelschalk, Lê Minh Tuấn (2011) đề xuất 3 bước chính liên quan tới công tác dự báo số thu thuế ở Việt Nam là: củng cố cơ sở dữ liệu với những dữ liệu về số thu từ thuế và kinh tế; đào tạo đội ngũ cán bộ của Vụ Dự toán tính thu nhập thuế, Tổng Cục Thuế; và xây dựng những mô hình dự báo thực sự. Hai bước đầu tiên có thể diễn ra song song trong khi bước thứ 3 nên được thực hiện sau khi 2 bước trên đã hoàn tất.Cũng cần lưu ý là những mô hình này có thể được sử dụng để dự báo số thu từ thuế ở cấp tỉnh hay cấp huyện, xã miễn là những dữ liệu đó đều có sẵn cho từng tỉnh hoặc huyện, xã.Bước 1: Tăng cường cơ sở dữ liệuTrong bước đầu tiên này, Tổng Cục Thuế nên giao việc xây dựng cơ sở dữ liệu cho một nhóm các cán bộ trong Vụ dự toán tính số thu từ thuế. Những cán bộ này sẽ rà soát một cách có hệ thống những dữ liệu có sẵn tại các bộ phận phòng ban của Tổng Cục Thuế, ban thống kê (thuộc Bộ kế hoạch và Đầu tư), Ngân hàng Trung ương, các phòng thương mại và công nghiệp, các viện nghiên cứu…, và nên thu thập những dữ liệu có liên quan theo định dạngđiện tử.Trong khi bài toán xây dựng mô hình có thể được khởi động ngay khi cơ sở dữ liệu đang trong quá trình xây dựng và rà soát thì cũng cần nhấn mạnh rằng độ rộng, độ sâu và tính liên kết của những dữ liệu này sẽ quyết định chất lượng cuối cùng của các mô hình và kết quả của chúng.Do vậy đây là bài toán rất quan trọng và nên được khởi động đầu tiên và nên được thực hiện tỉ mỉ, thận trọng.Bước 2: Đào tạo nhân sựCông tác đào tạo cán bộ bao gồm sự kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và ứng dụng (bài tập, các trường hợp nghiên cứu tình huống, thuyết trình) và phải rất thực tế. Nhìn chung, nên dành nửa thời gian để giảng giải lý thuyết, các quy định và dẫn chứng, nửa thời gian còn lại nên dành cho những bài tập thực hành và ứng dụng trên máy.Các cán bộ của Tổng Cục Thuế cần được đào tạo theo 2 hình thức: (1) Đào tạo về mặt công cụ nên tập trung gồm cả lĩnh vực toán kinh tế như e-views, STATA, những công cụ tính toán phức tạp trong Excel bao gồm việc viết các macro đơn giản những khái niệm vĩ mô đơn giản và những quy tắc căn bản của kinh tế vi mô- vĩ mô được sử dụng trong phân tích việc chính sách thuế và dự báo tính số thu từ thuế; (2) Những môn học chủ yếu bao gồm Thuế Trong Kinh tế học (phân tích chính sách thuế) và những kĩ thuật dự báo tính số thu từ thuế.Bước 3: Xây dựng mô hình dự báo số thu thuếNhiệm vụ thực sự của xây dựng mô hình có thể được thực hiện sau khi công tác đào tạo cán bộ và chuẩn bị cơ sở dữ liệu được hoàn tất. Việc xây dựng những mô hình vĩ mô, yêu cầu ước tính vốn liên quan tới việc tính toán những chỉ số co giãn thuế trên nền tảng một bộ dữ liệu sạch về thuế và dữ liệu vĩ mô, có thể được khởi động sớm hơn nếu những dữ liệu này đã sẵn sàng. Công việc cho xây dựng mô hình tính toán số thu hàng tháng cũng tương tự như vậy.Quá trình này nên được hoàn tất theo từng phương pháp một (vĩ mô trước, vi mô sau) và theo từng loại thuế và trong từng giai đoạn.Khung thời gianNếu được thực hiện và tổ chức một cách có hệ thống thì toàn bộ quá trình được miêu tả trên đây chỉ mất 18 đến 24 tháng để thực hiện. Khi những mô hình này đã sẵn sàng nên kiểm tra lại để chỉnh sửa bất kỳ tính năng nào nhằm phục vụ cho công tác dự tính. Cũng cần lưu ý là bước đầu tiên của những mô hình dự báo nên trả lời cho câu hỏi “cái gì (xảy ra) nếu” và một khi chúng đưa ra một loạt con số tính toán thu nhập thuế bị giảm dần thì quá trình đó chưa thể hoàn tất được. Cần ít nhất thêm hai năm nữa trước khi cơ sở dữ liệu hoàn tất và sạch, cũng như các mô hình được chỉnh sửa đầy đủ. Tuy nhiên đây là một phần của quá trình xây dựng mô hình thông thường ở bất kỳ quốc gia nào chứ không phải xảy ra duy nhất ở Việt Nam; mỗi nước đều phải (hoặc đã) trải qua một lộ trình giống như vậy.241Thứ tư, để thực sự cắt giảm chi phí quản lý thuế, theo người viết, có lẽ không chỉ dừng lại ở việc sáp nhập các chi cục thuế như cách làm hiện nay của Bộ Tài chính. Nhà làm luật cũng nên nghiên cứu phương thức quản lý thuế tiên tiến của các quốc gia trên thế giới. Nhiều nước không tách riêng ba chức năng: quản lý thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội cho ba cơ quan khác nhau mà chỉ tập trung vào một đầu mối duy nhất (ví dụ: HM Revenue and Customs ở Vương quốc Anh). Cách làm này vừa tinh gọn bộ máy, vừa đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất các khoản thu của ngân khố quốc gia, đồng thời cũng dựa trên cơ sở khoa học: căn cứ tính các khoản thu này đều là thu nhập của người đóng thuế/ bảo hiểm, hoặc là số lượng, giá trị hàng hóa, dịch vụ. Việc tập trung quản lý các khoản thu bắt buộc này cũng giúp tăng cường tính liên thông, liên kết của hệ thống thông tin.Ngoài ra, Quyết định số 13/2016/QĐ-TTg cũng cần được cân nhắc sửa đổi. Quy định: kinh phí bảo đảm hoạt động của Tổng cục Thuế là 1,8% dự toán thu NSNN, của Tổng cục Hải quan là 2,1% dự toán thu NSNN liệu có thực sự cần thiết?Như đã phân tích tại tiểu mục 1.2.3.3, người viết cũng tán thành việc xây dựng chính sách đặc thù đối với cán bộ quản lý thuế, tuy nhiên, việc ấn định kinh phí quản lý thuế là một tỉ lệ trên dự toán thu NSNN thì không có căn cứ khoa học nên thiếu tính thuyết phục và không phù hợp với thông lệ quốc tế. Quy định này sẽ tạo “động lực” cho cơ quan quản lý thuế tìm mọi cách “tiêu” hết số kinh phí được khoán mà nhiều khi những cán bộ trực tiếp làm công tác hành thu thuế lại không được hưởng hoặc hưởng không xứng đáng với công lao. Vì vậy, chính sách đặc thù nên áp dụng trực tiếp đối với cán bộ quản lý thuế, ví dụ: lương, phụ cấp của cán bộ thuế gấp ba hoặc bốn lần lương của công chức ngành khác.Thứ năm, để giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho các doanh nghiệp, bảo đảm đạt được mục tiêu nâng xếp hạng chỉ số B1 của Việt Nam, góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh theo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 (theo GCI 4.0), theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp, trước mắt cần tập trung thực hiện ngay một số nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thi hành pháp luật, cụ thể:i)   Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế để giảm chi phí tuân thủ pháp luật, cần đánh giá đúng, thực chất gánh nặng chi phí tuân thủ pháp luật mà các doanh nghiệp đã, đang và sẽ tiếp tục gặp phải trong quá trình thực hiện, chấp hành các quy định pháp luật, qua đó, tiếp tục khẩn trương thực hiện rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định không rõ ràng, không cụ thể, không khả thi, cản trở điều kiện đầu tư kinh doanh, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp; Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2018 và Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01 tháng 01 năm 2019. Các cơ quan tư pháp địa phương tiếp tục nâng cao chất lượng thẩm định trong hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đảm bảo không có các quy định mới chứa đựng các yêu cầu không cần thiết, bất hợp lý, cản trở điều kiện đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, khả thi, giảm thiểu chi phí tuân thủ pháp luật trong các văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới.Thực hiện rà soát, đánh giá toàn bộ các quy định về phí, lệ phí mà các doanh nghiệp đang phải gánh chịu, kiến nghị sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Tạo sự liên thông giữa hoạt động xây dựng, hoàn thiện pháp luật với hoạt động tổ chức thực thi pháp luật, theo đó, thường xuyên, kịp thời phối hợp trong nắm bắt, tổng hợp các quy định của pháp luật có nội dung chưa rõ, khó hiểu, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc thiếu khả thi, đồng thời, rà soát tổng hợp các quy định pháp luật không rõ ràng, thiếu tính minh bạch, khó tuân thủ, bất hợp lý để sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ theo thẩm quyền hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ.ii) Thực hiện cập nhật kịp thời, đầy đủ và thường xuyên tuyên truyền, phổ biến các quy định pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức và cộng đồng doanh nghiệp, trong đó chú trọng tuyên truyền các quy định mới, để các doanh nghiệp nắm được các quy định mới của các văn bản pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh, quyền và nghĩa vụ của cơ quan nhà nước và của doanh nghiệp để ngoài việc kiến nghị, đề xuất cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ, doanh nghiệp còn tự bảo vệ mình trước các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu; phát động trong các doanh nghiệp thống nhất nhận thức, thái độ hành xử kiên quyết không “lót tay” cho cán bộ, công chức, viên chức, không chấp nhận chi những khoản chi phí “bôi trơn” để được hưởng những lợi ích, nhưng “ưu tiên” ngoài quy định của pháp luật. Xây dựng, phát hành, tổ chức hướng dẫn sử dụng các tài liệu về tuân thủ các quy định pháp luật liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh trong phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của ngành, địa phương mình.iii)Thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp.iv)Tiếp nhận và xử lý kịp thời các kiến nghị, phản ánh của doanh nghiệp, thực hiện thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý kỷ luật và khen thưởng trong tổ chức thực thi và tuân thủ pháp luật. Bằng các hình thức đa dạng, linh hoạt để tiếp nhận, xử lý, giải quyết kịp thời, công khai, công bằng, nhanh chóng, khách quan, đúng thẩm quyền kiến nghị, phản ánh của doanh nghiệp; chủ động tổ chức đối thoại với doanh nghiệp. Thiết lập kênh thông tin đa dạng, thuận lợi, bảo mật thông tin về tổ chức, cá nhân khiếu nại, tố cáo để doanh nghiệp tự giác, kịp thời khiếu nại, tố cáo về những hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi pháp luật. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra công vụ. Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 17 tháng 5 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp.v)  Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện nghiêm việc công khai các thủ tục hành chính, cập nhật thường xuyên, kịp thời các thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục hành chính về điều kiện đầu tư kinh doanh trên Cổng, trang thông tin điện tử, niêm yết tại trụ sở cơ quan nhà nước, tại nơi tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả, tại nơi làm việc của các hiệp hội, địa điểm sinh hoạt cộng đồng doanh nghiệp bảo đảm thuận tiện cho việc tìm hiểu, tra cứu, cập nhật thông tin đối với doanh nghiệp. Cải tiến quy trình giải quyết các thủ tục hành chính; rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính. Tiếp tục thực hiện và đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tăng tỷ lệ cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4; đẩy mạnh phương thức tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích. Không tự đặt thêm điều kiện đầu tư kinh doanh trái quy định của pháp luật. Tăng cường, thúc đẩy chia sẽ dữ liệu, tăng cường phối hợp trong nội bộ ngành, địa phương mình và giữa các ngành, địa phương; Thường xuyên quan tâm, chú trọng hơn nữa đến công tác phối hợp giữa các đơn vị hữu quan trong xây dựng, hoàn thiện thể chế và tổ chức thực thi pháp luật, bảo đảm sự chính xác, thống nhất, đồng bộ, khả thi, hiệu quả trong quy định của các văn bản pháp luật và trong thực tiễn thi hành pháp luật hành đối với các doanh nghiệp.Thứ sáu, cũng như nhiều lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật quản lý thuế cần tăng cường tính ổn định và tính minh bạch, cải thiện tình trạng văn bản pháp lý thường xuyên thay đổi.3.1.2.2. Các quy định về giám sát và bảo đảm tuân thủ pháp luật thuế môi trườngNhững phân tích ở mục 2.2.2 cho thấy, pháp luật điều chỉnh hoạt động giám sát và bảo đảm sự tuân thủ thuế môi trường còn có một số bất cập, cần được hoàn thiện.Thứ nhất, cần bổ sung các quy định cụ thể về cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan tài nguyên môi trường trong xác định sản lượng tài nguyên tính thuế. Cơ chế này cần làm rõ thêm các vấn đề sau: (i) Cách thức phối hợp kiểm tra thực địa tại khai trường; (ii) trình tự thủ tục để cơ quan tài nguyên môi trường thực hiện các biện pháp nghiệp vụ nhằm xác định sản lượng khai thác thực tế của doanh nghiệp khai khoáng.Thứ hai, bổ sung cơ chế phối hợp cụ thể để xác định trách nhiệm chủ trì, trách nhiệm phối hợp, cách thức phối hợp của cơ quan chủ trì và trách nhiệm người đứng đầu có liên quan trong quản lý thuế tài nguyên nói riêng và quản lý hoạt động khai thác tài nguyên nói chung.Thứ ba, cần nghiên cứu cơ chế pháp luật và cơ chế tài chính nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại để giám sát, xác định đúng sản lượng tài nguyên được khai thác. Chẳng hạn, nên xem xét triển khai mở rộng sáng kiến của Cục thuế Thanh Hóa lắp đặt camera giám sát tại các mỏ trọng điểm.Thứ tư, tăng cường vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý thu đối với khai thác tài nguyên thông qua xác lập trách nhiệm của người đứng đầu địa phương trong quản lý tài nguyên. Địa phương nào để xảy ra khai thác lậu, trốn thuế thì phải làm rõ trách nhiệm và phải xử lý kỷ luật người đứng đầu; tùy theo từng trường hợp mà xử lý trách nhiệm liên đới hoặc trách nhiệm chính.242Thứ năm, Việt Nam cần sớm tham gia Sáng kiến minh bạch trong công nghiệp khai thác (EITI).EITI được cựu Thủ tướng Anh Tony Blair đề xuất lần đầu tiên tại Hội nghị Thượng đỉnh về phát triển bền vững ở Johannesburg (Nam Phi) vào năm 2002. Sáng kiến có mục tiêu thúc đẩy minh bạch, trách nhiệm giải trình và quản trị tốt công nghiệp khai thác trong bối cảnh nhiều quốc gia đang phải đối mặt với những thách thức trong quản lý tài nguyên thiên nhiên. Sau hơn 15 năm đề xuất áp dụng, tính đến nay, trên thế giới đã có 52 quốc gia đăng ký thực thi EITI. Trong khu vực ASEAN có bốn quốc gia đã tham gia EITI gồm Indonesia, Phillipines, Timor Leste và Myanmar. Trong 52 quốc gia cam kết thực thi EITI, có 37 quốc gia được công nhận là đã tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của EITI.Nguyên tắc chung của EITI là đảm bảo sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của các bên liên quan bao gồm Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng trong quản trị công nghiệp khai thác. Theo đó, một số thông tin liên quan đến công nghiệp khai thác phải được công khai dưới sự giám sát của hội đồng các bên liên quan bao gồm Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội dân sự. Theo yêu cầu của EITI cơ bản (Bộ tiêu chuẩn EITI 2011), chính phủ phải công khai các khoản thu từ doanh nghiệp khai khoáng và doanh nghiệp phải công khai các khoản đã nộp cho chính phủ dưới sự giám sát của hội đồng các bên liên quan. Do nội dung mới chủ yếu tập trung ở các số liệu về các khoản thu và nộp từ hoạt động khai thác tài nguyên, EITI 2011 còn bộc lộ nhiều hạn chế như không giải quyết được các vấn đề liên quan đến quá trình cấp phép, quản lý hoạt động khai thác, phân bổ nguồn thu và đưa ra những gợi ý cải thiện chính sách. EITI 2011 đã được thay thế bởi EITI 2013, EITI 2016. Mới đây nhất, Bộ tiêu chuẩn EITI 2019 đã được phát hành ở Hội nghị toàn cầu Paris ngày 18/6/2019. EITI 2019 đặt ra 7 yêu cầu chính, bao gồm: (i) Giám sát bởi các bên liên quan; (ii) Cơ chế pháp lý và thể chế, bao gồm hợp đồng và cấp phép; (iii) Khai thác và sản lượng; (iv) Quản lý nguồn thu; (v) Phân bổ nguồn thu; (vi) Chi tiêu kinh tế và xã hội và (vii) Kết quả và tác động. Trong mỗi nội dung trên, EITI 2019 đưa ra yêu cầu về các thông tin cụ thể cần được công khai.Đối với các nước thành viên, EITI hứa hẹn cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư và các tập đoàn tài chính. EITI cũng hỗ trợ trong việc tăng cường trách nhiệm giải trình và quản lý tài chính trong khai thác khoáng sản, đồng thời giúp quốc gia đó củng cố sự ổn định về kinh tế và chính trị, góp phần ngăn chặn các cuộc xung đột trong ngành dầu khí và khai khoáng.Đối với các công ty và nhà đầu tư, EITI góp phần giảm nhẹ những rủi ro do yếu tố chính trị. Sự bất ổn về chính trị do sự quản lý yếu kém là một mối đe dọa đối với các nhà đầu tư trong khi ngành công nghiệp khai khoáng có đặc điểm đòi hỏi vốn đầu tư lớn và sự ổn định lâu dài. Khi có EITI, các công ty và nhà đầu tư sẽ được đảm bảo hoạt động trong một môi trường kinh doanh ổn định hơn.Ngoài ra, EITI cũng đóng vai trò cung cấp thông tin cho cộng đồng về tình trạng thu chi và sự quản lý của chính phủ trong sử dụng tài nguyên quốc gia, giúp người dân đánh giá tính hợp lý của những hoạt động này.Đến nay, Việt Nam chưa tham gia thành viên EITI nhưng về lâu dài, chúng ta cần tham khảo và cân nhắc việc tham gia sáng kiến này. Đây là một cơ chế mang ý nghĩa lớn đối với các quốc gia nghèo nhưng giàu tài nguyên như nước ta.Kết luận chương 3Từ việc nghiên cứu phương hướng hoàn thiện pháp luật thuế môi trường nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam, có thể rút ra một số kết luận sau:1.  Bên cạnh việc đáp ứng những yêu cầu về mặt lý luận đã được phân tích ở Chương 1, việc hoàn thiện pháp luật thuế môi trường còn phải đảm bảo thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020, Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.Quy định về đối tượng chịu thuế và người nộp thuế môi trường cần được sửa đổi, bổ sung.Đối với thuế BVMT: cần nghiên cứu mở rộng phạm vi các hàng hóa thuộc diện chịu thuế; quy định cụ thể hơn về dung dịch HCFC; bỏ quy định về thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được bổ sung đối tượng chịu thuế. Đối với thuế tài nguyên: thống nhất tên gọi các loại nước thiên nhiên trong Luật Thuế tài nguyên; bổ sung một số loại tài nguyênTheo: Đặng Kim PhươngLink luận án: https://docs.google.com/document/d/1q-aent9cpfrvKBz4a6TD8qMIp5g6srw2/edit
avatar
Đặng Quỳnh
311 ngày trước
Bài viết
YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
 3.1.  Các yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật thuế môi trường ở Việt Nam3.1.1.   Thể chế hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển bền vữngCác quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, như đã phân tích ở mục 1.2.3.1, là yếu tố quan trọng chi phối việc xây dựng và thực hiện pháp luật thuế môi trường ở nước ta. Vì vậy, hoàn thiện pháp luật thuế môi trường phải đảm bảo yêu cầu thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, BVMT, cơ cấu lại NSNN, xây dựng nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững.Đối với lĩnh vực tài chính công, Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững đã xác định mục tiêu tổng quát như sau:Cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công theo hướng bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô; tăng cường huy động, quản lý, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển văn hoá, con người, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội, BVMT, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trong khu vực và trên thế giới.Nghị quyết số 07-NQ/TW cũng nêu các chủ trương, giải pháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu trên, trong đó có nội dung:Tập trung cơ cấu lại thu, chi NSNN, tăng cường quản lý nợ công, bảo đảm an toàn và bền vững nền tài chính quốc gia. Thực hiện nghiêm nguyên tắc vay bù đắp bội chi NSNN chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên; cải thiện cân đối NSNN, từng bước tăng tích lũy cho đầu tư phát triển và trả nợ vay. Xây dựng và triển khai kế hoạch tài chính trung hạn gắn với chiến lược quản lý nợ công, kiểm soát bội chi ngân sách và kế hoạch đầu tư công trong cùng thời kỳ.Hoàn thiện chính sách thu gắn với cơ cấu lại thu NSNN theo hướng bao quát toàn bộ các nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, nhất là các nguồn thu mới, phù hợp với thông lệ quốc tế; tăng tỉ trọng thu nội địa, bảo đảm tỉ trọng hợp lý giữa thuế gián thu và thuế trực thu, khai thác tốt thuế thu từ tài sản, tài nguyên, BVMT; hạn chế tối đa việc lồng ghép chính sách xã hội trong các sắc thuế và chính sách miễn, giảm, giãn thuế, bảo đảm tính trung lập của thuế, góp phần tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, công bằng, khuyến khích đầu tư, điều tiết thu nhập hợp lý. Tăng cường quản lý, khai thác, huy động nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công.Từng bước cơ cấu lại chi NSNN theo hướng tăng hợp lý tỉ trọng chi đầu tư, giảm dần tỉ trọng chi thường xuyên gắn với đổi mới mạnh mẽ khu vực sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ và tinh giản bộ máy, biên chế, thực hiện cải cách tiền lương. Đổi mới quản lý chi NSNN phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phân định rõ vai trò, chức năng của Nhà nước và thị trường; rà soát các chính sách xã hội, an sinh xã hội để bảo đảm sử dụng ngân sách tập trung và có hiệu quả cao; đẩy mạnh thực hiện khoán chi và tiền tệ hóa, đưa vào thu nhập một số chính sách, chế độ theo tiêu chuẩn, định mức chi. Nâng cao hiệu quả chi ngân sách, từng bước triển khai quản lý chi ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ gắn với thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.Đối với lĩnh vực quản lý tài nguyên, BVMT, quan điểm của Đảng được thể hiện tại Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Bộ Chính trị về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT bao gồm:-  Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước; là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị; là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia, giám sát của toàn xã hội.-  Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và BVMT phải trên cơ sở phương thức quản lý tổng hợp và thống nhất, liên ngành, liên vùng. Vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa bảo đảm lợi ích lâu dài, trong đó lợi ích lâu dài là cơ bản. Vừa bảo đảm toàn diện, vừa phải có trọng tâm, trọng điểm; có bước đi phù hợp trong từng giai đoạn; dựa vào nội lực là chính, đồng thời phát huy hiệu quả nguồn lực hỗ trợ và kinh nghiệm quốc tế.-  Biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, là thách thức nghiêm trọng đối với toàn nhân loại trong thế kỷ 21. Ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong mối quan hệ toàn cầu; không chỉ là thách thức mà còn tạo cơ hội thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững. Phải tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, tránh thiên tai là trọng tâm.-  Tài nguyên là tài sản quốc gia, là nguồn lực, nguồn vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng để phát triển đất nước. Tài nguyên phải được đánh giá đầy đủ các giá trị, định giá, hạch toán trong nền kinh tế, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ; khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh tài nguyên. Chú trọng phát triển, sử dụng năng lượng tái tạo, vật liệu mới, tái chế.-  Môi trường là vấn đề toàn cầu. BVMT vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Tăng cường BVMT phải theo phương châm ứng xử hài hoà với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo vệ sức khoẻ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng. Đầu tư cho BVMT là đầu tư cho phát triển bền vững.Để thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều chiến lược, văn bản quy phạm pháp luật như: Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 – 2020 được phê duyệt theo Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 17/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ, Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020 (ban hành theo Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ), Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 (ban hành theo Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ), Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (ban hành theo Quyết định số 2427/QĐ-TTg ngày 22/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ). Các chiến lược này xác định những định hướng cơ bản để hoàn thiện các thể chế kinh tế - xã hội và pháp luật, tạo nên sự đồng bộ, thống nhất trong tổng thể, hướng đến phát triển bền vững.Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh xác định tăng tưởng xanh ở Việt Nam là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu. Tăng trưởng xanh là phương thức thúc đẩy quá trình thay đổi các mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nhằm khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh, tăng hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh thông qua nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên tiến, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.Chiến lược tăng trưởng xanh của Việt Nam đã xác định 3 mục tiêu: Khuyến khích các ngành kinh tế sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên với giá trị gia tăng cao, hạn chế tiến tới xóa bỏ những ngành sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường; Ứng dụng và phát triển công nghệ hiện đại nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, góp phần ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu; Nâng cao đời sống nhân dân thông qua việc tạo thêm việc làm từ các ngành công nghiệp xanh và cải thiện chất lượng cuộc sống thông qua việc xây dựng lối sống thân thiện với môi trường.Để thực hiện các mục tiêu trên, Chiến lược đã đề ra ba nhóm nhiệm vụ quan trọng: Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; Xanh hóa sản xuất; Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững.Quan điểm chỉ đạo của Chiến lược khoáng sản là:-  Khoáng sản là tài nguyên không tái tạo, thuộc tài sản quan trọng của quốc gia phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế - xã hội trước mắt, lâu dài và bảo đảm quốc phòng, an ninh, BVMT;-  Điều tra, đánh giá khoáng sản phải đi trước một bước, làm rõ tiềm năng tài nguyên khoáng sản để lập quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng khoáng sản và dự trữ quốc gia;-  Thăm dò, khai thác khoáng sản phải gắn với chế biến, sử dụng phù hợp với tiềm năng của từng loại khoáng sản và nhu cầu của các ngành kinh tế;-  Chế biến khoáng sản phải sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao; chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sử dụng trong nước, chỉ xuất khẩu sản phẩm sau chế biến có giá trị kinh tế cao đối với khoáng sản quy mô lớn;-  Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để tiếp thu khoa học hiện đại, áp dụng công nghệ tiên tiến trong điều tra, thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản.Chiến lược cụ thể đối với khoáng sản:Ưu tiên đầu tư cho điều tra cơ bản về địa chất về khoáng sản cả phần đất liền và biển, hải đảo để làm rõ tiềm năng tài nguyên khoáng sản. Thăm dò, khai khác khoáng sản gắn với chế biến và sử dụng hiệu quả. Cân đối giữa khai thác với dự trữ khoáng sản; phát triển bền vững công nghiệp khai khoáng gắn với BVMT và đảm bảo quốc phòng - an ninh.3.1.2. Đảm bảo tính hiệu quả, tính thống nhất của pháp luật thuế môi trường trong hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaNhư đã phân tích tại mục 1.3 và 1.4 Chương I của Luận án, hoàn thiện pháp luật thuế môi trường của nước ta phải đảm bảo tính hiệu quả, tính thống nhất của lĩnh vực pháp luật này trong hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định một trong ba đột phá chiến lược đó là: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa... Tập trung ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo...".Quán triệt, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Kết luận số 19- KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị và Đề án định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV xác định mục tiêu của công tác xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khoá XV là: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tạo lập khung khổ pháp lý để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025 và 12 định hướng phát triển đất nước, 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược đã được Đại hội XIII của Đảng đề ra”.Kết luận 19 của Bộ Chính trị và Đề án định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV đã nêu rõ mục tiêu, quan điểm, yêu cầu và nội dung thực hiện. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu quan điểm chỉ đạo: “Chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - một nhà nước thực sự kiến tạo khung khổ thể chế, pháp luật cho sự phát triển của đất nước, của dân tộc. Do đó, hệ thống pháp luật phải đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, bảo đảm cho bộ máy Nhà nước vận hành trôi chảy, vừa tiếp nhận, phát triển những giá trị đã được khẳng định của văn minh nhân loại, vừa phù hợp với những giá trị tốt đẹp của văn hóa Việt Nam, phù hợp với yêu cầu của chế độ ta, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội, phát triển đất nước nhanh và bền vững. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, một trong những đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.Tại phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khóa XV, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng đã nhấn mạnh: “Đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng ban hành các văn bản pháp luật; sớm xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Ưu tiên xây dựng mới, bổ sung các đạo luật ở các lĩnh vực trọng điểm có ý nghĩa then chốt, có tính khả thi cao, tạo sự bứt phá về phát triển kinh tế - xã hội”.Trong quá trình xây dựng, ban hành luật phải thận trọng, chắc chắn, chuẩn bị sớm, làm tốt từng khâu, đặt yêu cầu cao về chất lượng, không chạy theo số lượng; lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp và lợi ích quốc gia - dân tộc làm trọng tâm; tăng cường giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực Nhà nước. Phải siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, nhất là người đứng đầu trong xây dựng pháp luật, trong giám sát, phản biện quá trình lập pháp và thực thi pháp luật; chống tiêu cực ngày trong công tác xây dựng pháp luật, không bị chi phối, tác động bởi các hành vi không lành mạnh của bất cứ tổ chức, cá nhân nào; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng “tham nhũng chính sách”; không được lồng ghép "lợi ích nhóm", lợi ích cục bộ của cơ quan quản lý nhà nước trong văn bản pháp luật hoặc chỉ thiên về tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý nhà nước mà thiếu đồng hành với người dân, doanh nghiệp.Tập trung xử lý, khắc phục ngay tình trạng văn bản luật tính dự báo yếu, thiếu ổn định, "luật khung, luật ống", chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Không được để xảy ra tình trạng luật mới được ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung, xa rời thực tiễn, luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư..., gây nên sự thiếu niềm tin của nhân dân vào luật pháp, lo ngại của các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài về tính ổn định, minh bạch trong các quy định của pháp luật Việt Nam, ảnh hưởng tới môi trường đầu tư, kinh doanh.Trong quá trình vận hành của xã hội cho thấy, nhiều vấn đề luật pháp chưa thể theo kịp thực tiễn, quy định pháp luật xa rời cuộc sống, chưa đủ chế tài để xử lý hoặc xử lý không triệt để những vấn đề mới nảy sinh, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 đến mọi mặt đời sống xã hội... bởi vậy, trong quá trình xây dựng pháp luật phải bám sát và đáp ứng kịp thời yêu cầu của thực tiễn, giải quyết những vấn đề mới nảy sinh; tuy nhiên, phải bình tĩnh, nghiên cứu, dự báo thấu đáo, khoa học những vấn đề của thực tiễn đặt ra, không nóng vội, chủ quan, chạy theo dư luận xã hội. “Chỉ những vấn đề cấp bách, đã chín, đã rõ, được thực tiễn chứng minh, có sự thống nhất cao thì mới xây dựng, ban hành luật; những vấn đề tuy cấp bách, cần thiết, nhưng là vấn đề mới, chưa đạt đồng thuận cao thì có thể quy định thực hiện thí điểm. Trước mắt, chưa triển khai xây dựng những dự án luật có nội dung phức tạp, còn nhiều ý kiến khác nhau, cần có thêm thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng, thận trọng”.Theo: Đặng Kim PhươngLink luận án: https://docs.google.com/document/d/1q-aent9cpfrvKBz4a6TD8qMIp5g6srw2/edit
avatar
Đặng Quỳnh
311 ngày trước
Bài viết
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT THUẾ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
Trên cơ sở các tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện pháp luật thuế môi trường đã được xác định tại tiểu mục 1.3.2, trong Chương này người viết phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật thuế môi trường ở Việt Nam. Để phù hợp với đặc điểm nội dung của quy định pháp luật, mỗi nhóm quy định pháp luật được đánh giá dựa trên những tiêu chí không hoàn toàn đồng nhất. Ví dụ: quy định về đối tượng chịu thuế và người nộp thuế theo Luật thuế BVMT 2010 được đánh giá theo các tiêu chí về BVMT, tiêu chí đơn giản và ổn định tương đối, tiêu chí công bằng. Quy định về đối tượng chịu thuế và người nộp thuế theo Luật thuế tiêu thụ đặc biệt được xem xét dựa trên các tiêu chí về BVMT, tiêu chí về hiệu quả kinh tế.2.1.  Đánh giá các quy định pháp luật về nội dung thuế môi trường với yêu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện2.1.1.   Đánh giá các quy định pháp luật về đối tượng chịu thuế, người nộp thuế môi trườngNhư đã phân tích ở tiểu mục 1.1.2, Việt Nam hiện có ba sắc thuế được xếp vào thuế môi trường là: thuế BVMT ban hành theo Luật Thuế BVMT năm 2010, thuế tài nguyên ban hành theo Luật Thuế tài nguyên năm 2009 và thuế tiêu thụ đặc biệt ban hành theo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008. Phần viết này sẽ đánh giá, phân tích đối tượng chịu thuế và người nộp thuế theo ba đạo luật trên.2.1.1.1. Đối tượng chịu thuế và người nộp thuế theo Luật Thuế bảo vệ môi trườngĐối tượng chịu thuế BVMT theo quy định của Luật Thuế BVMT năm 2010 bao gồm: xăng, dầu, mỡ nhờn, than đá, dung dịch hydro-chloro-fluoro-carbon (HCFC), túi nilông, thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng, thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng, thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng, thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng (sau đây gọi tắt là thuốc bảo vệ thực vật thuộc loại hạn chế sử dụng). Người nộp thuế BVMT là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế BVMT.Xét về tiêu chí BVMT, phạm vi đối tượng chịu thuế BVMT của Việt Nam còn tương đối hẹp. Nhiều loại hàng hóa khi sử dụng cũng gây ô nhiễm môi trường nhưng pháp luật hiện hành chưa đưa vào diện chịu thuế BVMT như: phân bón hóa học, hóa chất tẩy rửa, pin, ắc quy, sơn, chất kích thích tăng trưởng, năng lượng điện...Trong quá trình xây dựng, soạn thảo Luật Thuế BVMT, cũng có rất nhiều ý kiến đề nghị mở rộng phạm vi đối tượng chịu thuế BVMT. Tuy nhiên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã giải thích lý do quy định diện đối tượng chịu thuế BVMT hẹp như sau:Thứ nhất, việc quy định đối tượng chịu thuế BVMT phải bảo đảm phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam, với khả năng tài chính của người nộp thuế, bảo đảm thu hút đầu tư và sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi bước đầu áp dụng luật. Do vậy, cần có lộ trình từng bước mở rộng diện chịu thuế.Thứ hai, việc ban hành quy định về đối tượng chịu thuế nên tham khảo kinh nghiệm quốc tế. Trên thực tế, pháp luật về thuế BVMT của nhiều quốc gia trên thế giới, kể cả những nước kinh tế phát triển, có trình độ khoa học công nghệ tiên tiến cũng chỉ quy định một số sản phẩm, hàng hóa khi sử dụng hoặc nhập khẩu có mức độ gây ô nhiễm lớn.144Vào thời điểm xây dựng Dự án Luật Thuế BVMT, những lập luận trên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội không phải là không hợp lý. Tuy nhiên, tính từ thời điểm đó đến nay, Luật Thuế BVMT năm 2010 đã ban hành được hơn 8 năm, việc nghiên cứu rà soát, bổ sung phạm vi đối tượng chịu thuế BVMT là cần thiết, xuất phát từ những lý do sau:Một là, sau một khoảng thời gian tương đối dài được ban hành và triển khai áp dụng trên thực tế, công tác tổng kết, đánh giá thực tiễn thi hành Luật Thuế BVMT năm 2010 đã và đang được thực hiện. Qua đó, những kinh nghiệm về quản lý thuế BVMT được đúc kết, nhận thức của người dân đối với sắc thuế này cũng được nâng cao hơn. Đây chính là tiền đề quan trọng để nhà làm luật hướng đến phương án mở rộng diện chịu thuế BVMT trong thời gian tới.Hai là, phạm vi đối tượng chịu thuế BVMT theo pháp luật thực định còn hẹp, không đảm bảo công bằng giữa các hàng hóa gây ô nhiễm môi trường. Có thể nêu ra một số sản phẩm, hàng hóa có tác động xấu đến môi trường mà chưa thuộc diện điều chỉnh của Luật Thuế BVMT năm 2010 hiện hành như:-  Phân bón hoá học là những hoá chất có chứa nguyên tố dinh dưỡng, dùng để bón cho cây trồng nhằm nâng cao năng suất. Có ba loại phân bón hóa học cơ bản là phân đạm, phân lân và phân kali.Phân đạm cung cấp nitơ hoá hợp cho cây dưới dạng ion nitrat NO3- và ion amoni NH+4; phân lân cung cấp photpho hoá hợp cho cây dưới dạng ion phophat PO43-; phân kali cung cấp cho cây trồng nguyên tố kali dưới dạng ion K. Các chất này có thể gây hại cho sức khỏe con người và gây ô nhiễm môi trường.Lạm dụng phân hóa học đặc biệt là phân đạm, khiến tồn dư Nitrate trong rau xanh, có thể dẫn đến 2 bệnh hiểm nghèo là kìm hãm sự phát triển của trẻ dưới 1 tuổi, làm trẻ xanh xao, gầy yếu và gây ung thư dạ dày, vòm họng ở người lớn; phân bón hóa học tồn dư trong đất cũng là nguyên nhân làm suy thoái đất.-  Khí than có nguồn gốc từ than đá. Thành phần chủ yếu trong khí than là khí metan (CH4), thường chiếm khoảng 94-95%, phần còn lại gồm etan, propan, butan, pentan, nitơ, cacbonđioxit, một ít lưu huỳnh (hoặc có thể không chứa lưu huỳnh). Các chất này cũng gây tác hại môi trường và sức khỏe con người.-  Khí tự nhiên (khí thiên nhiên) là hỗn hợp chất khí cháy được, bao gồm phần lớn là các hydrocarbon (hợp chất hóa học chứa cacbon và hyđrô). Khí tự nhiên là nhiên liệu hóa thạch. Các chất có trong khí tự nhiên đều gây tác hại đến môi trường và sức khỏe con người.-  Chất kích thích tăng trưởng bao gồm chất kích thích tăng trưởng cho thực vật và động vật:Chất kích thích tăng trưởng dùng cho thực vật bao gồm các hoạt chất như NAA, Gibberellin, Xytokinin dưới nhiều tên gọi thương mại khác nhau được sử dụng trong nông nghiệp làm biến đổi gen giúp cây tăng tỉ lệ nẩy mầm, đổi màu hoa, tạo trái không hạt, kích thích cây mọc khỏe và nhanh. Chất kích thích tăng trưởng gây ra những biến đổi không bình thường cho cơ thể con người. Hiện nay, ở châu Âu đã tẩy chay các loại trái cây có sử dụng hóa chất tăng trưởng.Trong ngành chăn nuôi, hiện có khoảng 10 loại chất kích thích tăng trưởng khác nhau được sử dụng, phổ biến nhất là Clenbuterol và Salbutamol. Các chất này có khả năng làm tăng nhanh trọng lượng của gia súc, gia cầm. Các chất này còn là nguyên nhân gây rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp, liệt cơ, run cơ, phù nề, thậm chí dẫn đến ung thư cho người sử dụng thực phẩm có chứa chất kích thích tăng trưởng.-  Năng lượng điện bao gồm: nhiệt điện, thủy điện và điện hạt nhânNhiệt điện: Ðốt than tạo ra khí SO2, CO2. Theo tính toán, một nhà máy nhiệt điện chạy than công suất 1.000 MW hàng năm thải ra môi trường 5 triệu tấn CO2,18.00  tấn NOx, 11.000 tấn - 680.000 tấn phế thải rắn. Trong thành phần chất thải rắn, bụi, nước thải của nhà máy nhiệt điện thường chứa kim loại nặng và chất phóng xạ độc hại.Thủy điện được gọi là năng lượng sạch. Ở Việt Nam tổng trữ lượng thủy điện là 30.970 MW, chiếm 1,4% tổng trữ lượng thế giới. Tuy nhiên, việc xây dựng các hồ chứa nước lớn tạo ra các tác động môi trường như động đất kích thích, thay đổi khí hậu thời tiết khu vực, mất đất canh tác, tạo ra lượng CH4 do phân huỷ chất hữu cơ lòng hồ, tạo ra các biến đổi thuỷ văn hạ lưu, tăng độ mặn nước sông, ảnh hưởng đến sự phát triển của các quần thể cá trên sông, tiềm ẩn tai biến môi trường.Điện hạt nhân: Năng lượng hạt nhân là nguồn năng lượng giải phóng trong quá trình phân huỷ hạt nhân các nguyên tố U, Th hoặc tổng hợp nhiệt hạch. Theo tính toán, năng lượng giải phóng ra từ 1g U235 tương đương với năng lượng do đốt 1 tấn than đá. Nguồn năng lượng hạt nhân có ưu điểm không tạo nên các loại khí nhà kính như CO2, bụi. Tuy nhiên, các nhà máy điện hạt nhân hiện nay là nguồn gây nguy hiểm lớn về môi trường do chất thải phóng xạ, khí, rắn, lỏng và các sự cố nhà máy. Sự cố tại nhà máy điện hạt nhân Checnobưn Liên Xô là một ví dụ điển hình.-  Pin, ắc quy các loại: Pin có chứa chất Dioxide Mangan (MnO2), giấy tẩm hồ (có chứa thuỷ ngân), vỏ pin làm bằng kim loại và nhựa. Nếu công tác thu gom, xử lý pin thải không tốt cũng gây ô nhiễm đến môi trường.Ắc quy chì gồm có các bản cực bằng chì và ô xít chì ngâm trong dung dịch A- xít Sun-phua-ríc; Ắc quy sắt kền gồm có bản cực làm bằng O-xy-hy-drat-kền, và các bản cực âm bằng sắt thuần ngâm trong dung dịch Hydrô-xít-kali, vỏ ắc quy làm bằng nhựa. Các chất có trong ắc quy phát tán ra môi trường trong quá trình sản xuất, thu gom, xử lý đã gây ô nhiễm không khí (bụi), nguồn nước, gây thoái hoá đất và tác động không tốt tới sức khoẻ con người.-  Chất tẩy rửa như chất rửa chén, chất dùng để lau bàn, lau bếp; hay các chất dùng vệ sinh nhà tắm … thường có chứa hoá chất benzyl, polyetylen, sodium hypochlorite hoặc những chất chlorine, đó là những chất có hại cho sức khỏe. Mức độ độc hại nhiều hay ít tuỳ theo hàm lượng, nồng độ của hoá chất trong dung dịch chúng ta sử dụng. Hàm lượng, nồng độ càng cao thì tác hại càng nguy hiểm cho sức khỏe vả môi trường-  Sơn có chứa nhiều chất độc hại, phổ biến là các chất VOC (các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi); chì, asen, TBT (tributyltin)… Các chất VOC góp phần tạo ozone mặt đất, khói quang hóa, tăng hiệu ứng nhà kính; đối với con người, các chất VOC có thể gây dị ứng và các bệnh về hô hấp như hen xuyễn. Một số chất VOC còn được xếp vào nhóm chất gây ung thư. Theo thống kê của WHO, nguy cơ mắc một số bệnh ung thư ở thợ sơn cao hơn người thường 20%, đặc biệt ung thư phổi cao hơn 40%. Các kim loại độc hại trong sơn có thể gây ô nhiễm nguồn nước, cũng như gây các tác động có hại tới sức khỏe con người.Những hàng hóa trên đều là các mặt hàng thông dụng, phổ biến, khả năng gây ảnh hưởng xấu đến môi trường là rất lớn. Vì vậy, việc nghiên cứu bổ sung các hàng hóa này vào diện chịu thuế BVMT là cần thiết nhằm hạn chế tiêu dùng các sản phẩm này. Trên thế giới, nhiều quốc gia đã đánh thuế môi trường với phân bón hóa học (Bỉ), điện (các nước trong khối EU), thuốc lá (Estonia), khí than, khí thiên nhiên (Đức, Nhật Bản, Thụy Điển và một số nước Châu Âu khác) hoặc áp dụng phí môi trường đối với các sản phẩm gây ô nhiễm như Hàn Quốc. (Xem thêm Phụ lục 3 kinh nghiệm quốc tế về thuế, phí môi trường).Xét về tiêu chí đơn giản và tiêu chí ổn định tương đối, pháp luật thuế BVMT vẫn còn có những bất cập cần khắc phục145, cụ thể là:Khoản 9 Điều 3 Luật Thuế BVMT năm 2010 nêu: “Trường hợp xét thấy cần thiết phải bổ sung đối tượng chịu thuế khác cho phù hợp với từng thời kỳ thì Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quy định”. Điều 8 Luật Thuế BVMT năm 2010 quy định Biểu khung thuế, theo đó, loại thuế suất được áp dụng là mức thuế tuyệt đối. Đối với mỗi loại hàng hóa chịu thuế, biên độ dao động giữa mức thuế cao nhất và mức thuế thấp nhất là rất lớn, ví dụ: dầu hỏa, dầu mazut, dầu nhờn có mức thuế từ 300 đồng đến 2.000 đồng/lít, thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng có mức thuế từ 500 đồng đến 2.000 đồng/kg. Điều luật này cũng trao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội thẩm quyền quy định mức thuế cụ thể đối với từng loại hàng hóa chịu thuế trên cơ sở bảo đảm các nguyên tắc: i) Mức thuế đối với hàng hóa chịu thuế phù hợp với chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ; ii) Mức thuế đối với hàng hóa chịu thuế được xác định theo mức độ gây tác động xấu đến môi trường của hàng hóa.Những quy định trên chưa thực sự phù hợp với thẩm quyền của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội được nêu trong Hiến pháp năm 2013. Khoản 4 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội liên quan đến thuế như sau: “quy định, sửa đổi, bãi bỏ các thứ thuế”. Trong số các nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban thường vụ Quốc hội được nêu tại Điều 74 Hiến pháp năm 2013 thì không có nội dung nào quy định về thẩm quyền của cơ quan này liên quan đến thuế. Để giải thích cho những quy định mở rộng thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội, trong Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Thuế BVMT, cơ quan soạn thảo đưa ra lý do: căn cứ vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ kịp thời bổ sung các đối tượng gây ô nhiễm khác vào diện chịu thuế để bảo đảm tính công bằng, phù hợp thực tiễn trong thực thi  chính sách; thuế BVMT là sắc thuế mới, việc quy định khung và giao Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thuế sẽ tạo sự linh hoạt khi cần thiết điều chỉnh mức thuế, bảo đảm không phải sửa luật khi thay đổi mức thuế cụ thể.146Những lý do trên chưa thật sự thuyết phục bởi:Là một vấn đề rất nhạy cảm về chính trị - xã hội, liên quan đến lợi ích của nhiều chủ thể, có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của người dân nên việc ấn định loại thuế, biểu thuế phải do cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, đại diện cho ý chí của nhân dân quyết định. Đặc biệt, phạm vi đối tượng chịu thuế và mức thuế là những nội dung cốt lõi của một sắc thuế. Việc trao thẩm quyền bổ sung đối tượng chịu thuế và quy định mức thuế cụ thể đối với hàng hóa thuộc diện chịu thuế BVMT cho Ủy ban thường vụ Quốc hội đã khiến cho những quy định về quyền hạn của Quốc hội trong lĩnh vực thuế trở thành hình thức, không có tính thực tiễn. Nguy cơ lạm quyền có thể xuất phát từ đây. Là một cơ quan thường trực của Quốc hội, thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn luật định trong thời gian Quốc hội chưa họp, Ủy ban thường vụ Quốc hội không thể đại diện cho Quốc hội để quyết định những vấn đề có tầm ảnh hưởng rất sâu rộng như thuế.Xét về tiêu chí công bằng, quy định về đối tượng chịu thuế BVMT chưa đầy đủ, chưa bao quát hết các trường hợp phát sinh trong thực tế.Khoản 4 Điều 2 Luật Thuế BVMT quy định: “Dung dịch hydro-chloro-flouro- carbon (HCFC) là nhóm chất gây suy giảm tầng ô dôn dùng làm môi chất lạnh”. Theo Thông tư liên tịch số 47/2011/TTLT-BCT-BTNMT ngày 30/12/2011 của Bộ Công Thương và Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc quản lý nhập khẩu, xuất khẩu và tạm nhập - tái xuất các chất làm suy giảm tầng ô dôn theo quy định của Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô dôn:“3. Các chất làm suy giảm tầng ô-dôn được quản lý theo Thông tư này là:a)   Các chất hydrochlorofluorocarbon (trong Thông tư gọi tắt là các chất HCFC) thuộc Phụ lục I của Thông tư này.b)  Polyol trộn sẵn HCFC-141b (HCFC-141b Pre-blended polyol)”Căn cứ các quy định nêu trên: Các chất hydro-chloro-fluoro-carbon (HCFC) và Polyol trộn sẵn HCFC-141b được xác định là chất làm suy giảm tầng ô dôn.Theo Luật thuế BVMT hiện hành thì dung dịch HCFC thuộc đối tượng chịu thuế BVMT. Trên thực tế, dung dịch HCFC còn tồn tại dưới dạng chất hỗn hợp có chứa HCFC (như chất Polyol có trộn sẵn HCFC-141b được sử dụng để sản xuất tấm cách âm, cách nhiệt; tỷ lệ HCFC có trong Polyol trộn sẵn HCFC-141b chiếm khoảng từ 13% đến 30%) nhưng đối chiếu quy định tại Luật thuế BVMT thì chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể về chất hỗn hợp chứa dung dịch HCFC có thuộc đối tượng chịu thuế hay không. Như vậy, quy định về đối tượng chịu thuế tại Luật thuế BVMT là chưa bao quát hết các trường hợp phát sinh trên thực tế.2.1.1.2.   Đối tượng chịu thuế và người nộp thuế theo Luật Thuế tài nguyênBên cạnh tư bản (tiền), lao động (con người), đất đai và công nghệ, tài nguyên thiên nhiên cũng được coi là một nguồn vốn quan trọng trong quá trình sản xuất (còn được gọi là nguồn vốn tự nhiên). Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và gia tăng dân số, vai trò của nguồn vốn tự nhiên lại càng trở nên thiết yếu hơn bao giờ hết. Ngân hàng thế giới (2012) đã phân loại tài nguyên thiên nhiên thành bốn nhóm như sau:i)  Tài nguyên có thể khai thác và tái tạo như: ngư trường, rừng tự nhiên, đất, không khí và nước.ii)  Tài nguyên có thể tái tạo nhờ nuôi trồng như: cây trồng, súc vật nuôi, thủy sản nuôi trồng và các lâm trường.iii)  Tài nguyên không thể tái tạo như: khoáng sản kim loại và phi kim loại.iv)   Các hệ sinh thái cung cấp chức năng điều tiết khí hậu như: các lưu vực nước, hệ sinh thái ven biển, vùng đất ngập nước ngọt và đồng bằng ngập lũ, đại dương, đất và hệ sinh vật.147Cách phân loại như trên có ý nghĩa trong việc xây dựng các chính sách, giải pháp quản lý, bảo tồn và sử dụng hợp lý nguồn vốn tự nhiên để vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế, vừa BVMT.Luật Thuế tài nguyên năm 2009 (được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế năm 2014), Nghị định số 50/2010/NĐ-CP, Nghị định số 12/2015/NĐ-CP, Thông tư số 152/2015/TT-BTC và Thông tư số 174/2016/TT-BTC quy định đối tượng chịu thuế là các tài nguyên thiên nhiên trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam nhưng không bao quát tất cả các loại tài nguyên như theo cách phân loại của Ngân hàng thế giới. Theo đó, đối tượng chịu thuế tài nguyên gồm 9 nhóm: Khoáng sản kim loại; khoáng sản không kim loại; dầu thô; khí thiên nhiên, khí than; sản phẩm của rừng tự nhiên, trừ động vật; hải sản tự nhiên, bao gồm động vật và thực vật biển; nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất, trừ nước thiên nhiên dùng cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp; yến sào thiên nhiên; tài nguyên khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định148. Nhiều loại tài nguyên thiên nhiên không thể đánh thuế được (như các hệ sinh thái, không khí, súc vật nuôi ...) vì không thể kiểm soát được sản lượng tiêu thụ hoặc không thể xác định được giá cả của loại tài nguyên đó. Đối với các tài nguyên này cần phải thiết kế cơ chế đặc thù như: chi trả dịch vụ hệ sinh thái, thâm canh bền vững, thu phí môi trường ...Người nộp thuế tài nguyên là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên thuộc đối tượng chịu thuế tài nguyên149. Thuế tài nguyên của Việt Nam được thiết kế với tính chất là thuế gián thu nên những quy định trên về người nộp thuế là phù hợp, tạo thuận lợi cho người nộp thuế cũng như công tác quản lý thuế.Các quy định pháp luật Việt Nam về đối tượng chịu thuế và người nộp thuế, về cơ bản, đã tương thích với pháp luật các quốc gia khác trên thế giới. Tùy thuộc vào đặc điểm nguồn tài nguyên của từng nước mà mỗi quốc gia quy định phạm vi đối tượng chịu thuế khác nhau. Luật Thuế tài nguyên năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) của Trung Quốc quy định các loại khoáng sản kim loại (quặng sắt, quặng thiếc, quặng nikel, vàng, chì, kẽm ...), khoáng sản phi kim loại (than, dầu thô, khí thiên nhiên, đất hiếm, ...) thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật150. Vương quốc Anh đánh thuế vật liệu trộn (Aggregates levy) đối với cát, đá, sỏi được khai thác hoặc nhập khẩu vào quốc gia này, người nộp thuế là các tổ chức, cá nhân khai thác hoặc nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế151.Bên cạnh những ưu điểm trên, pháp luật thuế tài nguyên của Việt Nam vẫn tồn tại một số hạn chế sau đây:Xét về tiêu chí đơn giản, cách xây dựng Luật Thuế tài nguyên cũng có hạn chế tương tự như khi xây dựng Luật Thuế BVMT, đó là: Điều 2 Luật Thuế tài nguyên năm 2009 đã liệt kê các tài nguyên thiên nhiên thuộc đối tượng chịu thuế và người soạn luật vẫn nêu “tài nguyên khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định”. Những hạn chế của cách xây dựng luật này đã được phân tích ở trên, khi đánh giá về đối tượng chịu thuế BVMT.Tại Điểm c Khoản 2 Điều 3 Luật Thuế tài nguyên quy định: “Tổ chức, cá nhân khai thác nhỏ, lẻ bán cho tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua và tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua cam kết chấp thuận bằng văn bản về việc kê khai, nộp thuế tài nguyên cho tổ chức, cá nhân khai thác thì tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua là người nộp thuế”. Trên thực tế, việc quản lý đối với các tổ chức, cá nhân khai thác nhỏ, lẻ rất khó khăn, nhất là các trường hợp cá nhân khai thác thủ công, khai thác ở vùng sâu, vùng xa...Trong khi đó, các tổ chức, cá nhân làm đầu mối thu mua chỉ lập bảng kê thu mua chứ không cam kết nộp thuế thay hoặc không có hóa đơn chứng minh tài nguyên thu mua đã được nộp thuế tài nguyên. Vì không quy định điều kiện ràng buộc nộp thuế cũng không quy định chế tài xử lý nên không có cơ sở để thu thuế tài nguyên đối với các trường hợp này.Điều 51 Luật Khoáng sản năm 2010 quy định các chủ thể khai thác khoáng sản gồm:  Doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được thành lập theo Luật hợp tác xã; Hộ kinh doanh đăng ký kinh doanh ngành nghề khai thác khoáng sản được khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, khai thác tận thu khoáng sản. Các chủ thể này đều phải có đăng ký kinh doanh ngành nghề khai thác khoáng sản, đều phải có Giấy phép hoạt động khai thác khoáng sản (hoặc Giấy phép khai thác tận thu khoáng sản)  trước khi tiến hành hoạt động này152. Rất ít hoạt động khai thác khoáng sản không cần giấy phép.Ngoài ra, theo quy định của Luật Khoáng sản năm 2010, để được phép khai thác khoáng sản, tổ chức, cá nhân phải đáp ứng các điều kiện nhất định (có dự án đầu tư khai thác khoáng sản; có báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết BVMT; có vốn chủ sở hữu ít nhất bằng 30% tổng số vốn đầu tư của dự án đầu tư khai thác khoáng sản...)153. Theo đó, về cơ bản, chỉ có tổ chức mới đủ khả năng để được cấp Giấy phép khai thác khoáng sản. Thực tế cũng cho thấy, các hoạt động khai thác khoáng sản nhỏ, lẻ hầu hết là khai thác trái phép, không được cơ quan nhà nước cấp phép khai thác. Do đó, quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 3 Luật Thuế tài nguyên nêu trên sẽ tạo điều kiện hợp thức hóa hoạt động khai thác trái phép nguồn tài nguyên.Về tên gọi của các loại nước thiên nhiên chưa được quy định thống nhất trong Luật Thuế tài nguyên. Khoản 5 Điều 5 Luật Thuế tài nguyên quy định về sản lượng tài nguyên tính thuế: “Đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên dùng cho mục đích công nghiệp thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định bằng mét khối (m3) hoặc lít (l) theo hệ thống đo đếm đạt tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam.”Tại Điều 2 và Điều 8 Luật Thuế tài nguyên về đối tượng chịu thuế và biểu khung thuế suất thuế tài nguyên chỉ quy định nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp, nước thiên nhiên dùng cho sản xuất, kinh doanh, chứ không quy định nước thiên nhiên dùng cho mục đích công nghiệp. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung quy định tại Khoản 5 Điều 5 Luật Thuế tài nguyên về sản lượng tài nguyên tính thuế các loại nước thiên nhiên để thống nhất tên gọi đối với loại tài nguyên này Xét về tiêu chí BVMT và tiêu chí hiệu quả kinh tế, quy định về đối tượng chịu thuế theo phương pháp liệt kê như trên dẫn đến hệ quả vừa thừa, vừa thiếu, làm giảm tính minh bạch của đạo luật. Có thể nêu ra một số loại tài nguyên có giá trị kinh tế cao nhưng lại chưa phải chịu thuế như: san hô đỏ, đá bazan dạng cột có giá trị sử dụng làm đá xây dựng cao cấp, ... Điều này dẫn đến sự thiếu công bằng giữa các loại tài nguyên thiên nhiên, tạo ra nguy cơ khai thác cạn kiệt tài nguyên.2.1.1.3. Đối tượng chịu thuế và người nộp thuế theo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và năm 2016) và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt gồm các loại hàng hóa (thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm; rượu; bia; xe ô tô dưới 24 chỗ; xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm3; tàu bay, du thuyền; xăng các loại; điều hòa nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống; bài lá; vàng mã, hàng mã) và dịch vụ (kinh doanh vũ trường; kinh doanh massage, karaoke; kinh doanh casino; trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò chơi bằng máy jackpot, máy slot và các loại máy tương tự; kinh doanh đặt cược; kinh doanh golf; kinh doanh xổ số). Người nộp thuế tiêu thụ đặc biệt là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa và kinh doanh dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt.Xét về tiêu chí BVMT, thuế tiêu thụ đặc biệt của Việt Nam cũng tương tự như các quốc gia khác, đều đánh vào các hàng hóa, dịch vụ không được khuyến khích tiêu dùng vì những sản phẩm này gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, sức khỏe con người hoặc là những sản phẩm xa xỉ. Ví dụ: Canada đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với một số loại xăng dầu, điều hòa nhiệt độ dùng trong xe ôtô, các loại xe ôtô tiêu thụ nhiều năng lượng hóa thạch154. Các nước thuộc EU quy định đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là đồ uống có cồn, năng lượng hóa thạch và điện, thuốc lá155. Thuế tiêu thụ đặc biệt của Trung Quốc đánh vào 14 nhóm hàng hóa như thuốc lá, đồ uống có cồn, mỹ phẩm cao cấp, xăng dầu.Việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với những hàng hóa, dịch vụ không có lợi cho môi trường và sức khỏe con người đã góp phần hướng dẫn tiêu dùng xã hội. Chính sách điều tiết này phù hợp với thực tế và thông lệ quốc tế, góp phần hình thành một xu hướng tiêu dùng xã hội lành mạnh và công bằng hơn, khuyến khích sản xuất và tiêu dùng các mặt hàng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của đất nước trong giai đoạn qua.157Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, pháp luật điều chỉnh đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt có một số hạn chế sau:Pháp luật thực định chỉ đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe ô tô dưới 24 chỗ ngồi dựa trên quan điểm cho rằng: việc đánh thuế này sẽ góp phần hạn chế sự gia tăng phương tiện cá nhân, từ đó giảm sử dụng năng lượng và giảm ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, ở Việt Nam, trong bối cảnh cơ sở hạ tầng giao thông còn yếu, quy định trên sẽ khuyến khích gia tăng số lượng xe ô tô trên 24 chỗ ngồi, điều này là không phù hợp với điều kiện giao thông của nước ta và do đó lại càng tiêu thụ nhiều năng lượng hóa thạch hơn.Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đối với xe ô tô, các quốc gia khác thường quy định đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo dung tích xi lanh của xe, tức là theo mức độ tiêu thụ nhiên liệu của xe, chứ không căn cứ vào số chỗ ngồi của xe ô tô. Theo đó, xe tiêu thụ càng nhiều nhiên liệu, dung tích xi lanh càng lớn thì mức thuế càng cao. Chẳng hạn, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt của Canada quy định ô tô tiêu thụ từ 13 đến dưới 14 lít xăng/ 100km chịu mức thuế 1000 đô la Canada (viết tắt là CAD), từ 14 đến dưới 15 lít xăng/ 100km chịu mức thuế 2000 CAD, từ 15 đến dưới 16 lít xăng/ 100km chịu mức thuế 3000 CAD, tiêu thụ từ trên 16 lít xăng/ 100km chịu mức thuế 4000 CAD.158Đối với mặt hàng xăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 và các Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ quy định 3 loại: xăng, xăng E5 và xăng E10 thuộc diện chịu thuế. Trong khi đó, dầu diesel, dầu khí hóa lỏng, nhiên liệu bay không phải chịu thuế. Hơn nữa, mặt hàng xăng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo cùng một mức thuế suất mà không có sự phân biệt theo chỉ số octan hoặc theo hàm lượng lưu huỳnh có trong xăng. Quy định như trên là không phù hợp với thông lệ quốc tế và chưa tương thích với mức độ gây ô nhiễm của từng sản phẩm. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với dầu diesel, dầu khí hóa lỏng và nhiên liệu bay. Ở Austria, mức thuế tiêu thụ đặc biệt 0,397 EUR/ lít dầu diesel được áp dụng với loại dầu diesel chứa tối thiểu 6,6% nhiên liệu sinh học và có hàm lượng lưu huỳnh đến dưới 10mg/ kg, còn các loại dầu diesel khác chịu mức thuế là 0,425EUR/ lít.159Xét về tiêu chí hiệu quả kinh tế, so với Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2014 và năm 2016 đã có những thay đổi đem lại những kết quả tích cực nhất định về mặt kinh tế như: pháp luật hiện hành không quy định đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là nap-ta, con- đen-sát, chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác để pha chế xăng nhằm đơn giản thủ tục hành chính, tiết giảm chi phí hành chính cho cả doanh nghiệp và cơ quan thuế.Trước đây, theo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008, xăng các loại, nap-ta (naptha), chế phẩm tái hợp (reformade component) và các chế phẩm khác để pha chế xăng thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Tuy nhiên, quy định này gây ra bất cập: trường hợp doanh nghiệp mua con-đen-sát thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt để sản xuất ra xăng hoặc thuê doanh nghiệp khác gia công từ con-đen- sát thành nap-ta sau đó mới sản xuất ra xăng, mà xăng thuộc mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt nên khi tính số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp đối với xăng thì được trừ số thuế tiêu thụ đặc biệt đã nộp đối với nap-ta, con-đen-sát và chế phẩm tái hợp (nguyên liệu đầu vào sản xuất xăng). Như vậy, việc thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nap-ta, con-đen-sát và chế phẩm tái hợp không làm tăng số thu về thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng doanh nghiệp vừa phải ứng vốn để nộp thuế và làm thủ tục để được kê khai, khấu trừ thuế tiêu thụ đặc biệt, trong khi đó cơ quan thuế phải quản lý khấu trừ đối với nguyên liệu chịu thuế tiêu thụ đặc biệt dùng để sản xuất ra xăng, làm tăng khối lượng công việc và chi phí quản lý.Vì vậy, quy định không thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nap-ta, con-đen-sát, chế phẩm tái hợp và các chế phẩm khác để pha chế xăng vừa giúp tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp, vừa giảm các thủ tục hành chính trong việc kê khai, khấu trừ thuế.Đối với bài lá, vàng mã, hàng mã, theo ý kiến của nhiều luật gia, việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt lên các mặt hàng này gây tốn kém chi phí quản lý thu thuế mà số thu lại không đáng kể, không đủ bù đắp những chi phí bỏ ra.161 Nhận định này có lẽ cần được cân nhắc thêm. Hiện nay, có không ít các doanh nghiệp, hộ gia đình kinh doanh trong lĩnh vực “phục vụ cõi âm” có lợi nhuận hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng mỗi năm. Ví dụ, Công ty vàng mã Yên Bái năm 2018 ghi nhận doanh thu bán hàng và dịch vụ gần 78 tỷ đồng, tăng 13 tỷ so với cùng kỳ. Luỹ kế cả năm thu hơn 388,6 tỷ đồng, trong đó 23% đến từ xuất khẩu. Như vậy, bình quân mỗi tháng doanh nghiệp này thu hơn 32,4 tỷ đồng và mỗi ngày hơn 1,08 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế tăng mạnh, ban lãnh đạo công ty cho rằng, là nhờ doanh thu bán hàng tăng và không phát sinh chi phí đột biến. Ba sản phẩm chủ lực vàng mã, giấy đế, tinh bột sắn đều tăng mạnh doanh thu, như vàng mã tăng 9 tỷ so với năm trước đó. Năm 2018, đại gia sản xuất vàng mã Yên Bái lãi trước thuế hơn 40,2 tỷ đồng, tăng 65% so với 2017. Sau khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, khoản lãi công ty này nhận về hơn 34,3 tỷ đồng, gấp ba lần năm trước.Đốt vàng mã gây ra rất nhiều ảnh hưởng đối với môi trường như khói bụi, thậm chí có thể dẫn đến hỏa hoạn, cháy nổ nếu bất cẩn, và cũng làm tiêu tốn nhiều tiền bạc của người dân. Nhiều loại vàng mã được làm từ các chất liệu giấy đặc biệt đốt cháy không hoàn toàn sẽ phát sinh ra khí dioxin (chất độc màu da cam). Bên cạnh đó, để sản xuất ra vàng mã, nhiều cánh rừng bị chặt hạ để phục vụ cho ngành sản xuất giấy.163 Theo con số thống kê chưa đầy đủ, mỗi năm người dân Việt Nam đốt gần 50.000 tấn vàng mã. Chỉ tính riêng ở Hà Nội, số tiền thật dùng mua vàng mã để đốt lên tới trên 400 tỷ đồng/năm. Trung bình vào mỗi dịp lễ, Tết, mỗi đình phải bỏ ra từ 30.000-50.000 đồng mua tiền giấy, thậm chí có gia đình tiêu tốn vài triệu đồng mua vàng mã.Những mặt trái của việc sử dụng hàng mã, vàng mã đều đã được nhìn nhận ra, nhưng đây là tập tục lâu đời thuộc về văn hóa tâm linh của người Việt nên việc cấm hoặc loại bỏ hoàn toàn tập tục này là điều không thể. Vì vậy, bên cạnh biện pháp truyền thông, việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với vàng mã, hàng mã cũng là một giải pháp tích cực góp phần hạn chế sức mua mặt hàng này.2.1.2.   Đánh giá các quy định pháp luật điều chỉnh căn cứ tính thuế môi trường2.1.2.1.   Căn cứ tính thuế theo Luật Thuế bảo vệ môi trườngCăn cứ tính thuế BVMT đang được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau mà đáng lưu ý nhất là Luật Thuế BVMT năm 2010, Nghị quyết số 579/2018/NQ-UBTVQH14 ngày 26/9/2018 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Biểu thuế BVMT. Trên cơ sở các văn bản này, Chính phủ và các Bộ liên quan đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn khác nhau. Theo các qui định trong những văn bản này, căn cứ tính thuế BVMT bao gồm số lượng hàng hóa tính thuế và mức thuế tuyệt đối. Số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa sản xuất bán ra, trao đổi, tiêu dùng nội bộ, tặng cho đối với hàng hóa sản xuất trong nước, hoặc số lượng hàng hóa tính thuế là số lượng hàng hóa nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu. Mức thuế tuyệt đối được quy định khác nhau theo từng loại hàng hóa.Xét về tiêu chí BVMT, việc áp dụng mức thuế tuyệt đối đảm bảo thực hiện mục tiêu chủ yếu của thuế BVMT là nhằm thay đổi hành vi sản xuất, tiêu dùng, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường nên mức thuế BVMT được xác định không phụ thuộc vào giá của sản phẩm chịu thuế mà cân nhắc dựa trên mức độ gây ô nhiễm môi trường của sản phẩm chịu thuế. Mức thuế tuyệt đối cũng giúp đơn giản, minh bạch trong thực hiện, số thu NSNN không phụ thuộc vào sự biến động của giá hàng hoá. Khi giá hàng hóa tăng cao (xăng dầu phụ thuộc nhiều vào giá thế giới) thì số thu thuế BVMT không tăng. Quy định mức thuế BVMT của Việt Nam là thuế suất tuyệt đối cũng tương đồng với pháp luật thuế môi trường của các nước khác và thông lệ quốc tế (xem Phụ lục 3 kinh nghiệm quốc tế về thuế, phí môi trường).Bên cạnh ưu điểm nêu trên, quy định về căn cứ tính thuế theo pháp luật thuế BVMT hiện hành vẫn tồn tại một số bất cập: Khung thuế suất thuế BVMT chưa hợp lý, chưa thể hiện sự phân hóa rõ về mức độ gây ô nhiễm môi trường của các hàng hóa chịu thuế.Biểu khung thuế suất thuế BVMT được quy định tại Điều 8 Luật Thuế BVMT. Theo đó, các loại xăng (trừ etanol) có cùng một mức thuế (1.000 – 4.000 đồng/ lít) mà không phụ thuộc vào hàm lượng lưu huỳnh có trong xăng. Quy định này không phù hợp với mục tiêu đánh thuế và thông lệ quốc tế.Than là một trong những sản phẩm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Quá trình đốt cháy than tạo ra các loại bụi, khí CO2, SOx, NOx, thủy ngân… , hiện nay, châu Á chiếm tới 75% lượng tiêu thụ than toàn cầu. Trong khi các khu vực khác đang đẩy mạnh việc chuyển sang dùng các nguồn năng lượng "xanh" thì các nước châu Á vẫn tiếp tục phụ thuộc vào than đá để đáp ứng nhu cầu năng lượng.Theo Sở Tài nguyên và môi trường thành phố Hà Nội, mỗi ngày người dân Hà Nội đốt 528 tấn than làm phát thải 1.870 tấn CO2 vào môi trường Tuy nhiên, mức thuế tuyệt đối cho than đá là rất thấp (15.000 đồng/tấn), thậm chí thấp hơn nhiều so với một số nước ở Châu Á khác (như Philippines thu ở mức 10 peso/tấn). Vì vậy, mức thuế tuyệt đối tối thiểu của than đá cần được điều chỉnh tăng nhằm hạn chế việc sử dụng nguyên liệu hóa thạch, góp phần BVMT.Luật Thuế BVMT quy định Biểu khung thuế suất tuyệt đối đối với thuốc bảo vệ thực vật thuộc loại hạn chế sử dụng (thuốc trừ mối, thuốc bảo quản lâm sản và thuốc khử trùng kho) từ 1.000 đồng/kg đến 3.000 đồng/kg, mức thuế suất áp dụng là 1.000 đồng/kg.Theo Thông tư số 03/2018/TT-BNNPTNT ngày 09/02/2018 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam (sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 13/2018/TT-BNNPTNT), hiện nay không có danh mục thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng mà chỉ có Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam. Cũng theo Thông tư số 03/2018/TT-BNNPTNT, trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng thì thuốc trừ mối có 14 hoạt chất với 23 tên thương phẩm, thuốc khử trùng kho có 4 hoạt chất với 10 tên thương phẩm, thuốc bảo quản lâm sản có 8 hoạt chất với 9 tên thương phẩm. Tuy nhiên, chỉ có một số hoạt chất và một số thương phẩm thuộc đối tượng chịu thuế BVMT theo quy định của Nghị quyết số 579/2018/NQ-UBTVQH14. Mặc dù mức độ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, sức khỏe con người của mỗi loại thuốc bảo vệ thực vật này là khác nhau nhưng Biểu khung thuế suất tuyệt đối và mức thuế suất thuế BVMT đối với mỗi hàng hóa trên là như nhau. Quy định như vậy sẽ không đảm bảo được công bằng trong thu thuế giữa các hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế, đồng thời chưa thực sự phù hợp với nguyên tắc quy định mức thuế suất cụ thể đối với từng loại hàng hóa chịu thuế tại Luật Thuế BVMT: “Mức thuế đối với hàng hóa chịu thuế được xác định theo mức độ gây tác động xấu đến môi trường của hàng hóa”.Luật Thuế BVMT quy định Biểu khung thuế đối với túi ni lông từ 30.000- 50.000 đồng/kg. Mức thuế cụ thể hiện hành đối với túi ni lông là 50.000 đồng/kg (1kg túi ni lông có thể có từ 100 - 200 túi), nghĩa là thuế BVMT chỉ thu khoảng 250-500 đồng/túi. Mức thuế này là rất thấp so với các quốc gia khác. Theo kinh nghiệm quốc tế, nhiều nước trên thế giới đang áp dụng mức thuế BVMT cao hoặc cấm sản xuất, bán, sử dụng túi ni lông. Cụ thể như: Vương quốc Anh đánh thuế 15cent/túi, tương đương 4.500đ/túi; Ireland: 15cent/túi, tương đương 4.500đ/túi; Hồng Kông: 0,05USD/túi, tương đương 1.050đ/túi; Estonia đang dự kiến thu thuế đối với túi ni lông ở mức 2 kroons/túi, tương đương 3.000 đồng/túi. Một số nước khác còn cấm sản xuất, bán, sử dụng túi ni lông mỏng, ví dụ như Trung Quốc cấm sản xuất, bán, sử dụng túi ni lông có độ dày nhỏ hơn 0,025mm.Trên thực tế, số lượng túi nilông (hay còn gọi là túi nhựa) được tiêu thụ tăng theo từng năm. Tại hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, lượng túi nhựa và nhựa thải ra môi trường mỗi ngày khoảng 80 tấn, ước tính mỗi người Việt Nam sử dụng khoảng 30 kg các sản phẩm có nguồn gốc từ nhựa mỗi năm. Để sản xuất túi nilông phải sử dụng nguyên liệu đầu vào là dầu mỏ, khí đốt và các chất phụ gia chủ yếu là chất hóa dẻo, kim loại nặng, phẩm màu - những chất cực kỳ nguy hiểm tới sức khỏe và môi trường sống của con người. Để một chiếc túi nilông phân hủy tự nhiên phải mất hàng trăm năm thậm chí hàng nghìn năm. Túi nilông lẫn vào đất sẽ ngăn cản oxy đi qua đất, gây xói mòn đất, làm cho đất không giữ được nước, dinh dưỡng, từ đó làm cho cây trồng chậm phát triển.Như vậy, khung thuế và mức thuế BVMT đối với túi ni lông của Việt Nam rất thấp so với các nước trên thế giới nên chưa có tác động nhiều tới việc hạn chế sản xuất, sử dụng túi ni lông. Do đó, cần nghiên cứu điều chỉnh khung thuế BVMT đối với túi ni lông để góp phần đảm bảo mục tiêu giảm dần việc sử dụng túi ni lông khó phân hủy trong tiêu dùng và phù hợp với thông lệ quốc tế.Xét về tiêu chí hiệu quả kinh tế, pháp luật thuế BVMT điều chỉnh căn cứ tính thuế chưa đạt hiệu quả cao về mặt kinh tế. Tài chính Nhóm hàng hóa có số thu thuế BVMT tăng liên tục là: xăng, dầu (trừ dầu hỏa), nhiên liệu bay, than đá. Nhóm hàng hóa có số thu thuế BVMT giảm dần là: túi nilông, dung dịch HCFC (thậm chí năm 2015 và 2016 không thu được thuế BVMT đối với dung dịch HCFC). Nhóm hàng hóa có số thu thuế BVMT bằng không là: thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng, thuốc trừ mối thuộc loại hạn chế sử dụng, thuốc bảo quản lâm sản thuộc loại hạn chế sử dụng, thuốc khử trùng kho thuộc loại hạn chế sử dụng (sau đây gọi chung là thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng). Những con số trên đây liệu có phản ánh thực tế rằng: các hàng hóa không thu được thuế BVMT hoặc có số thu thuế BVMT giảm dần đồng nghĩa với việc nhu cầu tiêu thụ giảm hoặc không có nhu cầu tiêu thụ? Câu trả lời được phân tích qua dữ liệu sử dụng các hàng hóa này.Việt Nam được xếp vào nhóm các quốc gia sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều và khó kiểm soát. Theo Tổng cục Hải quan, trong 5 năm gần đây (từ năm 2014 đến năm 2018), mỗi năm Việt Nam chi từ 500 - 700 triệu USD để nhập thuốc bảo vệ thực vật (chủ yếu nhập từ Trung Quốc, chiếm 52,6% tổng giá trị mặt hàng này), trong đó, 48% là thuốc trừ cỏ, tương đương 19.000 tấn, còn lại là thuốc trừ sâu, trừ bệnh, khoảng trên 16.000 tấn. Nếu như trước năm 1985 khối lượng hóa chất bảo vệ thực vật dùng hàng năm khoảng 6.500 - 9.000 tấn thì trong 3 năm gần đây, Việt Nam nhập và sử dụng từ 70.000 - 100.000 tấn/năm, tăng gấp hơn 10 lần. Hiện có tới 80% lượng thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam đang được sử dụng không đúng cách, không cần thiết và rất lãng phí. Lượng thuốc dư thừa này thẩm thấu xuống đất và nguồn nước, gây ô nhiễm nghiêm trọng.Theo quy định của Nghị định thư Montreal (1987) về các chất làm suy giảm tầng ozon, đến năm 2030 các nước đang phát triển phải loại trừ hoàn toàn chất HCFC, một trong các chất gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính. Phê chuẩn Nghị định thư Montreal từ năm 1994, thời gian để Việt Nam thực hiện cam kết trên không còn nhiều. HCFC là hóa chất được sử dụng chủ yếu trong làm lạnh và điều hòa không khí, nhiều nhất là trong ngành chế biến xuất khẩu thủy sản, sản xuất xốp panel cách nhiệt và tấm lợp cách nhiệt. Theo thống kê của Cục Chế biến Nông lâm thủy sản và nghề muối, năm 2012 cả nước có hơn 400 cơ sở chế biến thủy sản đông lạnh, phần lớn các doanh nghiệp này đang sử dụng môi chất lạnh HCFC-22 trong các thiết bị lạnh do có những ưu điểm như: không độc, không cháy, giá tiền thiết bị thấp, hiệu suất phát lạnh cao, chi phí ban đầu thấp, nhất là khi mua thiết bị đơn lẻ hoặc khi đầu tư ở quy mô nhỏ…Hạn ngạch nhập khẩu HCFC-22 giảm dần theo lộ trình, từ năm 2015 – 2019 Việt Nam được phép nhập 3.600 tấn, từ năm 2020 – 2024 được phép nhập khẩu 2.700 tấn, từ năm 2025 – 2029 sẽ có trên dưới 1.000 tấn HCFC-22 được phép nhập về nước.Việt Nam nằm trong số 5 quốc gia xả rác ra biển nhiều nhất, chiếm tới 60% lượng rác thải nhựa trong các vùng biển trên thế giới. Theo Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), mỗi năm ngành nhựa Việt Nam nhập trên 4 triệu tấn nguyên liệu nhựa, trong đó có trên 1,3 triệu tấn nguyên liệu nhựa PE. Các chuyên gia phân tích rằng nếu chỉ cần 1/3 lượng PE nhập về để sản xuất túi ni lông thì sẽ có khoảng 500.000 tấn bao bì, túi ni lông tung ra thị trường. Nếu đánh thuế đầy đủ lượng bao bì/túi ni lông sản xuất theo quy định (50.000 đồng/kg) thì NSNN sẽ tăng thêm khoảng 20.000 tỉ đồng/năm, tương đương 900 triệu USD/năm. Thế nhưng nghịch lý là việc thu thuế BVMT đối với túi ni lông lại rất nhỏ giọt. Năm 2017 số tiền thu thuế từ túi ni lông chỉ khoảng 54 tỉ đồng. Khi áp mức trần mới là 50.000 đồng/kg thì ngân sách dự kiến sẽ thu 67,5 tỉ đồng, tăng 13,5 tỉ đồng. Đây là con số quá nhỏ, chưa đến 0,3% số thuế BVMT tiềm năng. Như vậy thất thu thuế BVMT đối với túi ni lông có thể lên đến 99%.Qua những phân tích trên đây, có thể thấy rằng, túi nilông, thuốc bảo vệ thực vật thuộc nhóm hạn chế sử dụng và dung dịch HCFC đều tăng về lượng tiêu thụ nhưng số thu thuế BVMT đối với các hàng hóa này lại giảm hoặc không thu được thuế. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ những hạn chế của quy định pháp luật:Pháp luật thuế BVMT hiện hành quy định thuốc diệt cỏ thuộc loại hạn chế sử dụng là đối tượng chịu thuế BVMT nhưng trong Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng, cấm sử dụng tại Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành không có thuốc diệt cỏ mà chỉ có “thuốc trừ cỏ”. Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng cũng liệt kê thuốc trừ cỏ với 248 hoạt chất và 732 tên thương phẩm nhưng Nghị quyết số 579/2018/NQ-UBTVQH14 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thuế BVMT đều không quy định rõ loại thuốc trừ cỏ nào phải chịu thuế BVMT hay tất cả các loại thuốc trừ cỏ đều chịu thuế BVMT. Sự thiếu chặt chẽ, thiếu đồng bộ trong các quy định pháp lý khiến cho quy định về đối tượng chịu thuế là thuốc diệt cỏ không có tính khả thi.(Những bất cập của pháp luật thuế BVMT đối với túi ni lông và dung dịch HCFC đã được phân tích ở trên).2.1.2.2.   Căn cứ tính thuế theo Luật Thuế tài nguyênPháp luật thuế tài nguyên hiện hành quy định căn cứ tính thuế gồm: sản lượng tài nguyên tính thuế, giá tính thuế và thuế suất. Cách tính sản lượng tài nguyên phụ thuộc vào việc tài nguyên có xác định được khối lượng, trọng lượng, số lượng hay không? Tài nguyên khai thác có được bán ra ngay dưới dạng tài nguyên thô hay được chế biến thành sản phẩm khác rồi mới bán? Tài nguyên khai thác có chứa nhiều chất khác nhau, phải qua sàng tuyển, phân loại để xác định từng chất?  Giá  tính thuế tài nguyên cũng được pháp luật quy định cho từng trường hợp cụ thể: trường hợp xác định được giá bán tài nguyên, trường hợp không xác định được giá bán tài nguyên do tài nguyên chứa nhiều chất khác nhau, trường hợp tài nguyên khai thác được xuất khẩu, ... Thuế suất thuế tài nguyên được quy định theo từng loại tài nguyên, có sự phân biệt giữa tài nguyên quý hiếm và tài nguyên thông thường, tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo.Theo kinh nghiệm quốc tế, có ba phương thức đánh thuế tài nguyên chủ yếu là:(i)   Phương thức đánh thuế dựa vào sản lượng tài nguyên khai thác. Đây là phương pháp thu thuế theo mức thu tuyệt đối tính trên mỗi đơn vị tài nguyên khai thác. Đơn vị tài nguyên khai thác có thể tính theo trọng lượng hoặc thể tích tuỳ từng loại tài nguyên. Mức thu có thể là thống nhất hoặc phụ thuộc vào quy mô của việc khai thác, như khai thác càng nhiều mức thuế cho mỗi đơn vị tài nguyên càng lớn. Thuế tuyệt đối thường được áp dụng đối với các loại tài nguyên có đặc tính là có khối lượng khai thác lớn nhưng giá trị thương mại cho mỗi đơn vị tài nguyên không cao như than đá và đá xây dựng. Ví dụ: Trung Quốc áp dụng thuế suất tuyệt đối với đất sét và đá sa thạch.(ii)   Phương pháp đánh thuế dựa vào giá trị tài nguyên. Đây là phương pháp được nhiều quốc gia áp dụng, nhất là các nước đang phát triển như: Philippines, Myanmar, Venezuela, Việt Nam, ... Theo phương pháp này thì cơ sở tính thuế là giá trị của tài nguyên khai thác và thuế suất theo tỷ lệ phần trăm. Tuy nhiên, cách thức xác định giá trị tài nguyên làm cơ sở tính thuế và việc quy định thuế suất giữa các quốc gia cũng rất khác nhau.(iii)   Phương thức đánh thuế dựa vào lợi nhuận từ việc khai thác tài nguyên. Theo phương pháp này thì số thuế tài nguyên được xác định dựa trên mức lợi nhuận hoặc thu nhập ròng của các dự án khai thác tài nguyên. Các quốc gia áp dụng phương pháp này chủ yếu là các nước phát triển như: Nam Phi và một số bang của Australia.176Qua những phân tích trên đây, có thể nêu ra một số nhận xét về pháp luật Việt Nam điều chỉnh căn cứ tính thuế tài nguyên như sau:Xét về tiêu chí đơn giản và tiêu chí ổn định tương đối, mặc dù nhà làm luật có nhiều nỗ lực song tình trạng luật thường xuyên thay đổi và khó tiên liệu vẫn còn tồn tại. Minh chứng cho nhận định này là việc các văn bản luật liên tục được thay thế hoặc sửa đổi, bổ sung: Năm 2009 Luật Thuế tài nguyên được ban hành thay thế cho Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1990 (sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2008). Năm 2014 Luật Thuế tài nguyên tiếp tục được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế. Thuế suất thuế tài nguyên cũng thường xuyên thay đổi theo các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Nghị quyết số 928/2010/UBTVQH12 ngày 19/4/2010, Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 ngày 16/12/2013, Nghị quyết hiện đang có hiệu lực là Nghị quyết số 1084/2015/UBTVQH13. Tương tự như vậy, các văn bản hướng dẫn luật cũng liên tục được ban hành: Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế tài nguyên, được sửa đổi, bổ sung bởi: Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế; Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23/7/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế tài nguyên được thay thế bởi: Thông tư số 152/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 02/10/2015 hướng dẫn về thuế tài nguyên; Thông tư số 12/2016/TT- BTC ngày 20/01/2016 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 152/2015/TT-BTC hướng dẫn về thuế tài nguyên; Thông tư số 174/2016/TT- BTC của Bộ Tài chính ngày 28/10/2016 sửa đổi, bổ sung Điểm a Khoản 4 Điều 6 Thông tư số 152/2015/TT-BTC hướng dẫn về thuế tài nguyên. Giá tính thuế tài nguyên được quy định tại Thông tư số 44/2017/TT-BTC ngày 12/5/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định khung giá tính thuế tài nguyên đối với nhóm, loại tài nguyên có tính chất lý, hóa giống nhau. Ngày 20/01/2020 Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 05/2020/TT-BTC sửa đổi Thông tư số 44/2017/TT-BTC.Khai thác tài nguyên, đặc biệt là khai thác khoáng sản là ngành kinh doanh có đặc thù: thời gian thu hồi vốn dài, đầu tư vốn khá lớn, vì vậy, tình trạng không ổn định của hệ thống pháp luật thuế tài nguyên sẽ gây trở ngại cho hoạt động của doanh nghiệp, tác động tiêu cực đến quyết định đầu tư vào ngành khoáng sản của nhà đầu tư.Theo : Đặng Kim PhươngLink tài liệu: https://docs.google.com/document/d/1q-aent9cpfrvKBz4a6TD8qMIp5g6srw2/edit 
avatar
Đặng Quỳnh
311 ngày trước
Bài viết
HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CỦA PHÁP LUẬT THUẾ MÔI TRƯỜNG
1.3. Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật thuế môi trường1.3.1.  Tổng quan về hiệu quả thực hiện của pháp luật thuế môi trườngHiệu quả của pháp luật là chủ đề được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Các học giả cổ vũ cho học thuyết kinh tế luật đề cập nhiều đến hiệu quả Pareto, đó là vị trí cân bằng lợi ích giữa các chủ thể mà nếu lệch ra khỏi vị trí đó thì việc tăng lợi ích của chủ thể này không thể không làm giảm lợi ích của chủ thể khác.106 Hiệu quả chính là mục tiêu của kinh tế luật. Trong một thế giới khan hiếm nguồn lực, làm sao để tối đa hóa lợi ích mà nguồn lực mang lại, hay nói cách khác, làm thế nào để nguồn lực khan hiếm được sử dụng một cách hiệu quả nhất, đó chính là mối quan tâm của các nhà kinh tế luật.Nhìn nhận từ góc độ Lý luận nhà nước và pháp luật, PGS.TS Nguyễn Minh Đoan (2001) cho rằng, hiệu quả của pháp luật là kết quả thực tế đạt được do sự điều chỉnh, tác động của pháp luật mang lại trong những phạm vi và điều kiện nhất định, biểu hiện ở sự biến đổi trạng thái của các quan hệ xã hội, phù hợp với những mục đích, yêu cầu và định hướng của pháp luật, với mức chi phí thấp. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của pháp luật bao gồm: i) Trạng thái ban đầu của các quan hệ xã hội khi pháp luật chưa điều chỉnh; ii) Những mục đích, yêu cầu và định hướng của pháp luật; iii) Chất lượng của pháp luật; iv) Những biến đổi thực tế do sự tác động của pháp luật mang lại; v) Mức chi phí để đạt được các kết quả thực tế.107 Cùng quan điểm với PGS.TS Nguyễn Minh Đoan, theo TS. Trần Thị Thu Phương (2012), hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật là kết quả của sự tác động của văn bản quy phạm pháp luật đến các quan hệ xã hội so với các yêu cầu, mục tiêu khi ban hành văn bản đó... Hiệu quả của một văn bản quy phạm pháp luật là những gì mà văn bản đó có thể đem lại trong cuộc sống, là kết quả của sự tương tác giữa pháp luật và xã hội.Qua những nghiên cứu trên, có thể thấy hiệu quả của pháp luật và hiệu quả thực hiện pháp luật là hai cách nói khác nhau về cùng một vấn đề. Với tư duy gắn pháp luật và việc thực hiện pháp luật trong một chỉnh thể, không cắt khúc thì (quy định) pháp luật là tiền đề để thực hiện pháp luật. Tính hiệu quả của pháp luật được đánh giá không chỉ ở góc độ xây dựng luật, chất lượng của luật mà còn ở khâu thực hiện luật.Như vậy, có thể định nghĩa hiệu quả thực hiện của pháp luật thuế môi trường là kết quả tác động của lĩnh vực pháp luật này trong mối tương quan với các chi phí bỏ ra. Kết quả tác động của pháp luật thuế môi trường có thể là tích cực hoặc tiêu cực, hoặc có thể là không có tác động đáng kể nào.Thực tiễn lập pháp và thực hiện pháp luật cho thấy, có hai hoạt động đánh giá văn bản pháp luật: i) Đánh giá (dự báo) khả năng tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, và ii) Đánh giá hiệu quả (thực hiện) của văn bản pháp luật. Theo PGS.TS Nguyễn Minh Đoan (2009), mục đích của đánh giá khả năng tác động của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật là nhằm dự báo những tác động tích cực, tiêu cực của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đó để có biện pháp khắc phục chúng trước hoặc sau khi ban hành. Đồng thời, đánh giá khả năng tác động của dự thảo văn bản còn là cơ sở để so sánh, đánh giá hiệu quả của văn bản quy phạm pháp luật sau khoảng thời gian thi hành nhất định. Trong khi đó, mục tiêu và cách thức tiến hành đánh giá hiệu quả của văn bản pháp luật chính là công đoạn tổng kết những tác động thực tế của văn bản pháp luật đó đối với đời sống xã hội.Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy rằng, đánh giá hiệu quả của pháp luật nói chung và đánh giá hiệu quả của pháp luật thuế môi trường nói riêng bao hàm cả nội dung đánh giá hiệu quả công tác thực hiện pháp luật. Hoạt động thực hiện pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo hiệu quả của pháp luật.Hiệu quả thực hiện của pháp luật thuế môi trường có thể được xem xét, đánh giá từ nhiều khía cạnh khác nhau: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, ...Như nhiều học giả đã thống nhất, thuế là một phạm trù mang tính chính trị, kinh tế, xã hội nên tính hiệu quả của một đạo luật thuế cũng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mà không dễ để đánh giá một cách chính xác. Vì vậy, để đánh giá và kết luận về tính hiệu quả của văn bản pháp luật thuế môi trường phải căn cứ vào hệ thống các định mức, tiêu chí rõ ràng. Nếu xem xét hiệu quả kinh tế của các quy định pháp lý về thuế môi trường thì các lợi ích kinh tế này phải có thực, lượng hóa thành các con số cụ thể, được tính toán bằng những công thức chính xác mà không sử dụng những tính từ không xác địnhHiệp hội kế toán công chứng Vương quốc Anh (ACCA) (2009) đã công bố một nghiên cứu mang tên “Các nguyên tắc thuế: Từ Adam Smith đến Barack Obama”. Nghiên cứu này đưa ra 12 tiêu chí cơ bản của một hệ thống thuế tốt, bao gồm: i) Tránh thuế, lậu thuế; ii) Tỷ lệ thuế trên GDP; iii) Đơn giản và ổn định; iv) Công khai, minh bạch và có trách nhiệm; v) Chắc chắn; vi) Tính cạnh tranh; vii) Tính hiệu quả; viii) Các quy định phải cụ thể trong từng thời kỳ; ix) Liên hệ rõ ràng giữa thuế thu được và chi tiêu tiền thuế; x) Tránh đánh thuế hai lần; xi) Quyền của người nộp thuế; xii) Thuế xanh.111 (Nội dung cụ thể của 12 tiêu chí này được trình bày trong Phụ lục 2). Mặc dù 12 tiêu chí trên thể hiện dưới định dạng là nguyên tắc thuế, nhưng đó cũng chính là tiêu chí cần tuân thủ khi đánh giá tính hiệu quả của hệ thống thuế nói chung và luật thuế môi trường nói riêng.PGS.TS Nguyễn Văn Vân (2015) chia các tiêu chí đánh giá hiệu quả pháp luật thuế thành 4 nhóm: i) Nhóm tiêu chí hiệu quả kinh tế (bao gồm tiêu chí cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế, tiêu chí trung lập và cân bằng lợi ích kinh tế cho các nhóm chủ thể, tỷ trọng giữa chi phí hành thu trên số thuế thu được, chi phí tuân thủ pháp luật thuế, mức độ tuân thủ thuế); ii) Tiêu chí đơn giản của pháp luật thuế; iii) Tiêu chí ổn định (tương đối) và có thể dự báo của pháp luật thuế; iv) Tiêu chí công bằng xã hội.Qua những phân tích trên đây, có thể thấy rằng các học giả đã xây dựng những tiêu chí đo lường tính hiệu quả của pháp luật nói chung và luật thuế nói riêng theo những cách tiếp cận phù hợp với đặc điểm đối tượng nghiên cứu cũng như mục đích nghiên cứu của từng học giả. Đối với luật thuế môi trường, các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả bao gồm: tiêu chí BVMT; tiêu chí hiệu quả kinh tế; tiêu chí đơn giản; tiêu chí ổn định tương đối và có thể dự báo được; tiêu chí công bằng xã hội. Các tiêu chí này được đưa ra trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đã công bố, đồng thời dựa trên những đặc điểm của thuế môi trường đã được trình bày ở tiểu mục 1.1.3, trong đó đặc điểm quan trọng nhất là mục tiêu BVMT của thuế xanh.Trên cơ sở lý thuyết về phát triển bền vững, lý thuyết tăng trưởng xanh và kinh tế học pháp luật, phần viết tiếp theo sẽ phân tích cụ thể các tiêu chí đánh giá hiệu quả pháp luật thuế môi trường.1.3.2. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện của pháp luật thuế môi trường1.3.2.1.   Tiêu chí bảo vệ môi trườngNhư đã phân tích ở tiểu mục 1.1.3, mục tiêu quan trọng nhất của thuế xanh là BVMT thông qua việc tác động đến lợi ích kinh tế của người dân, vì vậy, để đánh giá tính hiệu quả của pháp luật thuế môi trường, tiêu chí về BVMT là không thể thiếu.Tiêu chí này có thể được đo lường qua các thông số: tỷ lệ giữa số lượng hàng hóa chịu thuế môi trường được sản xuất/bán ra so với thời điểm trước khi thuế môi trường được ban hành; tỷ lệ khí thải, chất thải (như khí thải gây hiệu ứng nhà kính GHG, chất thải nguy hại...) so với thời điểm trước khi thuế môi trường được ban hành; sự thay đổi trong cơ cấu nền kinh tế (tỷ trọng các ngành sử dụng nhiều năng lượng hóa thạch so với các ngành sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo). Có thể minh họa tác động đối với môi trường của cải cách thuế môi trường (ETR).Với thuế suất thuế môi trường cao, các nước Phần Lan, Thụy Điển, Đức, Hà Lan, Đan Mạch và Vương quốc Anh đã giảm đáng kể lượng phát thải GHG, nhu cầu sử dụng năng lượng hóa thạch cũng giảm từ 2% đến 6%. Mặc dù có những tín hiệu tích cực như trên, các nhà khoa học vẫn đánh giá rằng lượng giảm phát thải GHG ở các nước này vẫn còn tương đối nhỏ so với mục tiêu nền kinh tế carbon thấp. Hiệu quả chưa cao về mặt môi trường của thuế xanh bắt nguồn một phần từ số lượng lớn các quy định về miễn, giảm thuế của các quốc gia.1.3.2.2.   Nhóm tiêu chí hiệu quả kinh tếĐánh giá tính hiệu quả của một đạo luật thuế về mặt kinh tế là điều rất quan trọng bởi thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, nếu tỉ lệ giữa chi phí hành thu và số thu từ thuế quá lớn thì cả Nhà nước và người dân đều không được lợi. Nhóm tiêu chí này được cụ thể hóa như sau:-  Tiêu chí cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuếĐối với tiêu chí này, quan hệ giữa Nhà nước và người nộp thuế cần được hiểu rộng ra là quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong lĩnh vực thuế môi trường. Xét dưới góc độ lợi ích kinh tế, quan hệ thu nộp thuế môi trường giữa hai chủ thể này là quan hệ ngược chiều. Khi Nhà nước thu thuế càng nhiều thì “túi tiền” của người nộp thuế càng giảm và ngược lại.Không ai phủ nhận vai trò của thuế, như một thẩm phán Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã nói: “thuế là cái giá mà chúng ta phải trả cho một xã hội văn minh”117. Tuy nhiên, một quốc gia có tỷ lệ động viên từ thuế vào ngân sách nhà nước quá cao trong khi hệ số đầu tư công và chỉ số minh bạch trong tài chính công thấp, kết cục tất yếu là triệt tiêu ý chí làm giàu của dân chúng Các nhà kinh tế học và các luật gia đều khẳng định: “thuế suất cao sẽ triệt tiêu hiệu quả kinh tế”. Các cuộc phản kháng thuế trước đây cũng như ngày nay chưa bao giờ đi đến cự tuyệt bản thân quyền lực thuế, chính mức độ thuế phải nộp mới là đối tượng bị chỉ trích chứ không phải bản thân nguyên tắc thuế.Ở chiều ngược lại, cũng phải thấy rằng, sự phát triển kinh tế xã hội phụ thuộc vào khả năng đáp ứng nhu cầu chi tiêu của chính quyền. Những dự án phục vụ cộng đồng (như trồng rừng, hệ thống trường học, bệnh viện công lập, ...) không thể thiếu “bàn tay” của Nhà nước. Bởi vậy, tính hiệu quả kinh tế của thuế môi trường cần phải được xem xét toàn cục và đa chiều, không giới hạn dưới góc độ lợi ích của một chủ thể trong quan hệ pháp luật thuế. PGS.TS Nguyễn Văn Vân (2015) nêu ra các chỉ số để xác định trạng thái cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế, bao gồm: Tỷ trọng thuế thu vào ngân sách nhà nước hàng năm so với GDP; Tỷ trọng về hiệu suất đầu tư công so với hiệu suất đầu tư của các thành phần kinh tế phi nhà nước khác; Tính hiệu quả trong hoạt động chi tiêu ngân sách nhà nước, trong đó có chỉ số hiệu suất đầu tư công; Tính hiệu quả trong hoạt động đầu tư của người nộp thuế; Các chỉ số minh bạch, tham nhũng trong nền kinh tế. Đây là các chỉ số đo lường sự cân bằng lợi ích của Nhà nước và người nộp thuế nói chung, còn đối với thuế môi trường, theo kinh nghiệm quốc tế, các chỉ số này thường là:i)  Tỷ trọng số thu thuế môi trường so với GDP;ii)  Tác động của thuế môi trường đối với sức cạnh tranh của các ngành;iii)  Tác động của thuế môi trường lên tỷ lệ người lao động có việc làm;iv)   Tác động của thuế môi trường lên cơ cấu nền kinh tế (chỉ số đầu tư vào công nghệ xanh, ...).-  Tiêu chí trung lập và cân bằng lợi ích kinh tế cho các nhóm chủ thểTính trung lập của thuế không được hiểu như trong thời kỳ tự do cổ điển (thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX). Vào thời điểm đó, người ta gán cho thuế một mục tiêu duy nhất là mục tiêu ngân sách, thuế chỉ có chức năng duy nhất là trang trải các khoản chi công cộng mang tính truyền thống của Nhà nước. Ở đây, tính trung lập của thuế được hiểu là không lồng ghép các chính sách xã hội vào thuế. Đảm bảo tính trung lập của thuế sẽ làm cho luật thuế trở nên đơn giản hơn, giảm chi phí hành thu thuế, góp phần tạo nguồn thu ổn định cho NSNN. Việc đưa quá nhiều các quy định về ưu đãi, miễn, giảm thuế vào trong các chính sách thuế nhiều khi lại có tác dụng ngược. Ví dụ, quy định miễn, giảm thuế tài nguyên cho người nộp thuế tài nguyên gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ gây tổn thất đến số tài nguyên đã kê khai, nộp thuế chưa hẳn đã hợp lý. Thuế tài nguyên là thuế gián thu, vì vậy, người chịu thuế là người tiêu dùng chứ không phải là chủ thể khai thác tài nguyên.Do đó, cả người tiêu dùng và Nhà nước đều không được hưởng lợi từ việc miễn, giảm thuế tài nguyên. Vai trò ưu đãi, khuyến khích này có lẽ nên thuộc về thuế thu nhập.Ngoài việc cân bằng lợi ích giữa Nhà nước và người nộp thuế, khi ban hành hay sửa đổi, bổ sung một đạo luật thuế môi trường còn phải tính đến lợi ích của các nhóm chủ thể khác cũng chịu sự điều tiết của đạo luật đó. Lợi ích kinh tế không tự thân sinh ra mà chúng được điều chuyển bằng bàn tay Nhà nước từ nhóm chủ thể này sang nhóm chủ thể khác thông qua công cụ thuế. Không có đạo luật thuế nào có thể mang lại lợi ích cho mọi nhóm chủ thể trong quan hệ thuế. Để hạn chế hiện tượng “vận động hành lang” bởi một nhóm lợi ích trong hoạt động ban hành chính sách pháp luật thuế, nhà làm luật cần tính toán và cân bằng chính xác lợi ích kinh tế mà đạo luật thuế đó mang lại (hoặc bị mất) cho từng nhóm chủ thể để có giải pháp dung hòa-  Tỷ trọng giữa chi phí hành thu trên số thuế thu đượcTỷ trọng giữa chi phí thu thuế môi trường trên tổng số thuế môi trường thu được là tiêu chí có vai trò mang tính quyết định đến hiệu quả kinh tế của pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này. Theo PGS.TS Nguyễn Văn Vân (2015), chi phí hành thu thuế là khoản chi từ NSNN cho các cơ quan thu để tiến hành thu thuế, bao gồm các chi phí trực tiếp, gián tiếp liên quan đến tổ chức và vận hành toàn bộ bộ máy cơ quan thuế, cơ quan hải quan và các cơ quan thu khác. Với cách tiếp cận này, chi phí hành thu được hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ bao gồm các chi phí của Nhà nước, còn chi phí từ phía người nộp thuế chưa được tính đến (chi phí tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế sẽ được phân tích ở phần sau).Chi phí hành thu và tổng số thu thuế môi trường phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tổ chức bộ máy cơ quan quản lý thuế, tính phức tạp của hệ thống pháp luật thuế, mức độ áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế, khả năng chấp hành pháp luật thuế của các chủ thể liên quan, tính liêm khiết trong quá trình thu thuế, ... Trong số các yếu tố trên, Ngân hàng thế giới (2011) đánh giá, tham nhũng và quy mô của nền kinh tế phi chính thức có ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến số thu thuế.Tổ chức Minh bạch toàn cầu (2006) xếp cơ quan thuế là cơ quan đứng thứ ba trong số các cơ quan tham nhũng nhất. Qua hình trên, có thể thấy rằng tham nhũng và thất thoát nguồn thu thuế có mối quan hệ tỷ lệ thuận: mức độ tham nhũng càng cao thì tỷ lệ thất thu thuế càng lớn (có thể lên đến 2,3%GDP). Tương tự như vậy, một quốc gia có quy mô nền kinh tế phi chính thức càng lớn thì tỷ lệ thất thu thuế càng cao. Theo tính toán của các chuyên gia, nếu kinh tế phi chính thức chiếm 35,5%GDP sẽ mất đi khoản thuế tương ứng 6,1%GDP.-  Chi phí tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuếĐể có được sự đánh giá toàn diện, tính hiệu quả kinh tế của pháp luật thuế môi trường cần phải được xem xét dưới góc độ những chi phí phát sinh đối với người nộp thuế khi thực hiện các quy định pháp lý về thuế môi trường. Chi phí này có thể được lượng hóa qua các chỉ số về thời gian, tiền bạc mà người nộp thuế phải bỏ ra để tìm hiểu pháp luật và thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật thuế môi trường.Hàng năm, Báo cáo môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới đều thống kê về thời gian nộp thuế của các quốc gia, tuy nhiên Báo cáo này chưa có thống kê chi tiết về thời gian nộp thuế theo từng sắc thuế cụ thể và Báo cáo này cũng mới chỉ đưa ra được một phần trong số các yếu tố cấu thành chi phí tuân thủ pháp luật thuế. Thông thường, chi phí tuân thủ pháp luật thuế rất khác nhau theo từng phân đoạn người nộp thuế: các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ kinh doanh có chi phí tuân thủ thuế cao hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn. Điều này có thể được lý giải như sau: các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiểu biết về nghĩa vụ thuế còn hạn chế, quá trình lưu giữ sổ sách kế toán gặp nhiều khó khăn, văn hóa tuân thủ yếu, trong khi đó, nhờ nguồn tài chính dồi dào, các doanh nghiệp lớn có sự hỗ trợ đắc lực của đội ngũ tư vấn thuế, kế toán viên nên đã giảm đáng kể chi phí tuân thủ thuế . Nhìn chung, cùng với sự phát triển kinh tế, số lượng đối tượng nộp thuế là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh sẽ không ngừng tăng lên. Vì vậy, giải pháp nhằm giảm chi phí tuân thủ thuế cho nhóm người nộp thuế này, giảm thất thoát nguồn thu là đơn giản hóa các thủ tục hành chính thuế, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ thuế của cơ quan quản lý thuế và tăng cường các biện pháp truyền thông, phổ biến pháp luật thuế.-  Mức độ tuân thủ thuế (tỷ trọng thực thu so với tiềm năng)Mức độ tuân thủ thuế môi trường phản ánh hiệu quả kinh tế của pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này. Các nước có mức độ tuân thủ thuế thấp thường xuyên phải đối mặt với tình trạng thay đổi chính sách thuế để duy trì một tỷ lệ thu thuế nhất định so với GDP. Đến lượt mình, các thay đổi thường xuyên và không có tính hệ thống của chính sách thuế lại có nguy cơ dẫn đến hệ thống thuế kém ổn định và kém bình đẳng hơn. Vì vậy, việc nâng cao mức độ tuân thủ tự nguyện đã trở thành một mục tiêu của các cuộc cải cách thuế trên toàn thế giới. PGS.TS Nguyễn Văn Vân (2015) công thức hóa tiêu chí này như sau: Mức độ tuân thủ thuế = (số thuế thực thu: số thuế tiềm năng) x 100%Số thuế tiềm năng của một quốc gia thể hiện khả năng động viên của cải xã hội vào NSNN của quốc gia đó. Về lý thuyết, số thuế tiềm năng có thể được đo lường theo ba cách sau: i) số thuế tiềm năng được ước tính là kết quả của việc dự báo số thu thuế sử dụng số liệu vi mô; hoặc ii) số thuế tiềm năng được ước tính dựa trên cơ sở dữ liệu về quản lý thuế; hoặc iii) số thuế tiềm năng được ước tính theo tính toán của người nộp thuế (số liệu được tính theo cách này có thể không xác thực vì người nộp thuế luôn có xu hướng không muốn tiết lộ hết các hoạt động chịu thuế của họ)131. Nhìn chung, số thuế tiềm năng phải được tính toán trên cơ sở các dữ liệu về quản lý thuế và các dữ liệu phi thuế (số liệu điều tra thương mại, công nghiệp, dân số, các tài khoản quốc gia) nên số thuế tiềm năng có thể không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm dự toán thu NSNN hàng năm.Mức độ tuân thủ thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trách nhiệm giải trình của công quyền, mức độ tham nhũng, quy mô của kinh tế phi chính thức, chất lượng quản lý thuế, chi phí tuân thủ pháp luật thuế, tính phức tạp của chính sách thuế, ... Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (2011), các doanh nghiệp vừa và nhỏ có mức độ tuân thủ thuế thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp lớn, điều đó thể hiện như là một hệ quả phát sinh do chi phí tuân thủ pháp luật thuế cao đối với nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ.1.3.2.3.   Tiêu chí đơn giảnTiêu chí đơn giản luôn được xem là một thước đo không thể thiếu khi đánh giá hiệu quả của bất kỳ lĩnh vực pháp luật nào, như PGS.TS Phạm Duy Nghĩa (2004) đã viết, “trong một Nhà nước của dân thì khoa học cũng là của dân; luật và luật học phải gần với tiếng nói, thói quen và những lo toan của người dân”134. Đối với lĩnh vực thuế nói chung và thuế môi trường nói riêng, những thuật ngữ chuyên ngành đôi khi còn “làm khó” cả các chuyên gia, vì vậy việc chuyển tải nội dung pháp luật thuế bằng ngôn từ dung dị, dễ hiểu không phải là dễ dàng. Hiện nay, để tránh việc hiểu một thuật ngữ theo nhiều nghĩa khác nhau, nhà làm luật thường dành một điều luật riêng để giải thích thuật ngữ được sử dụng trong đạo luật thuế (ví dụ: Điều 2 Luật Thuế BVMT năm 2010).Việc đánh giá tính đơn giản của pháp luật thuế môi trường không phải chỉ dừng lại ở việc xem xét câu từ trong các quy định luật mà còn phải đánh giá cả hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này. Khi một luật thuế được ban hành, nó sẽ không được áp dụng trực tiếp mà phải đợi một loạt các nghị định, quyết định, thông tư hướng dẫn thi hành. Sự tồn tại một số lượng lớn các văn bản pháp luật thuế, đặc biệt là các văn bản pháp quy do cơ quan hành pháp ban hành, khiến cho việc hiểu và vận dụng thêm phức tạp với người dân. Cách làm luật này phần nào làm giảm tính minh bạch, độ tin cậy và dự đoán trước của pháp luật thuế môi trường. Đây là thực tiễn không phải chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác đòi hỏi phải có những biện pháp khắc phục nhằm làm giảm chi phí cho người dân.1.3.2.4.   Tiêu chí ổn định (tương đối) và có thể dự báo đượcTính ổn định (tương đối) và có thể dự báo được là một tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả của pháp luật thuế môi trường bởi luật thuế (nói chung) luôn được các doanh nghiệp coi như một loại luật kinh doanh thực sự cần phải tính đến khi xác định chiến lược phát triển của mình .Hơn thế nữa, đây còn là sự đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người nộp thuế và là một yếu tố đo lường mức độ hấp dẫn của môi trường đầu tư ở một quốc gia.Theo Michel Bouvier (2005), để đảm bảo chính sách thuế ổn định, trước hết phải có một luật thuế tương đối độc lập được cấu thành bởi tập hợp các nguyên tắc và các quy định tương đối rõ ràng. Ngoài ra, người đóng thuế phải có được một số bảo đảm nhất định, đặc biệt là trong việc giải thích các quy định về thuế của cơ quan thuế. Luật thuế cần phải trở thành một ngành luật có phạm trù và logic riêng, phù hợp với các nguyên tắc chủ yếu của hệ thống pháp luật nhằm nâng cao giá trị pháp lý của các quy định về thuế, từ đó cải thiện chất lượng mối quan hệ giữa người nộp thuế và cơ quan thuế. Bên cạnh đó, người nộp thuế cũng cần phải được đảm bảo rằng “những thay đổi trong lĩnh vực thuế chỉ có hiệu lực trong tương lai”. Cơ quan thuế phải tuân thủ các văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm người đóng thuế đã thực hiện xong hoạt động chịu thuế hoặc đã xảy ra các sự kiện phát sinh nghĩa vụ thuế.1371.3.2.5.   Tiêu chí công bằng xã hộiGS. Michel Bouvier (2005) cho rằng, công bằng thuế khóa là một khái niệm khó, không thể biến nó thành một mục tiêu. Để thể hiện tính công bằng trong chính sách thuế, về cơ bản có ba cách thức sau:Công bằng giao hoán (hay công bằng theo chiều ngang, công bằng toán học) là cách thức đơn giản nhất, theo đó mỗi cá nhân phải nộp những khoản tiền đóng góp như nhau mà không quan tâm đến hoàn cảnh kinh tế xã hội của từng người.Hình thức thứ hai là công bằng phân phối, tức là công dân phải nhận được từ xã hội một khoản tỷ lệ với những gì mà họ đóng góp, của cải phải được phân phối theo công lao của mỗi cá nhân. Hệ thống thuế khóa phù hợp nhất với quan niệm này là hệ thống thuế chỉ có một sắc thuế đơn nhất đánh lên chi tiêu theo tỷ lệ, ví dụ: thuế đơn nhất đánh trên tiêu dùng theo đề xuất của các học giả thuộc trường phái không tưởng về thuế.Hình thức thứ ba là công bằng tái phân phối về thuế (hay công bằng theo chiều dọc), phương pháp này là sự kết hợp chặt chẽ giữa công bằng về thuế và công bằng xã hội thông qua hình thức phân phối lại của cải bằng thuế nhằm xóa đi sự bất bình đẳng về thu nhập. Theo quan điểm này, thuế nhất thiết phải được lũy tiến dần, mang tính cá thể hóa và tính đến khả năng đóng góp của người nộp thuế.Theo kinh nghiệm quốc tế, các thông số để đo lường tác động đối với xã hội của thuế môi trường bao gồm: tác động của thuế môi trường lên chỉ số giá tiêu dùng, phân phối thu nhập và mức thu nhập của hộ gia đình. Nhìn chung, về khía cạnh công bằng xã hội, tác động của thuế môi trường phụ thuộc rất lớn vào việc sử dụng nguồn thu từ thuế thông qua cơ chế hoán đổi nguồn thu (ví dụ: tăng thuế môi trường song song với giảm thuế thu nhập) hoặc tài trợ cho người chịu thuế (ví dụ: những người về hưu và các hộ gia đình thu nhập thấp nhận được khoản hỗ trợ 10.10 đôla Úc mỗi tuần từ nguồn thu thuế carbon).1.4.  Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật thuế môi trườngCuộc sống không ngừng biến đổi, vì vậy, pháp luật với tư cách là kiến trúc thượng tầng cũng luôn luôn trong quá trình hoàn thiện để phù hợp với những đặc điểm mới của cơ sở hạ tầng. Không có hệ thống pháp luật nào là hoàn hảo nhưng việc khỏa lấp những lỗ hổng, những “khuyết tật” của các quy định pháp lý từ đó hướng đến hoàn thiện pháp luật thì vẫn luôn là yêu cầu tất yếu đối với bất kỳ thể chế nhà nước nào. Để có căn cứ khoa học cho hoàn thiện pháp luật thuế môi trường, việc định hình các tiêu chí là nhiệm vụ cần thiết, bởi đây là những chuẩn mực, thước đo hay là những tính chất, những dấu hiệu làm căn cứ để dựa vào đó nhận biết, đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật thuế môi trường. Dưới góc độ lý luận, các tiêu chí để đo lường mức độ hoàn thiện của pháp luật thuế môi trường bao gồm: tính toàn diện, tính thống nhất và tính đồng bộ, tính phù hợp và tính khả thi, cuối cùng là kỹ thuật lập pháp.1.4.1.  Tiêu chí về tính toàn diệnTính toàn diện là tiêu chuẩn đầu tiên để đo lường mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật, là tiêu chuẩn để định lượng một hệ thống pháp luật.141 Tính toàn diện của pháp luật thuế môi trường thể hiện ở việc: tất cả các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hành thu thuế môi trường phải được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật tương ứng. Nói cách khác, xem xét tính toàn diện của pháp luật thuế môi trường để trả lời câu hỏi: lĩnh vực pháp luật này đã có đủ các chế định và các quy phạm pháp luật cần thiết phục vụ cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thuế môi trường hay chưa?Đảm bảo tính toàn diện của pháp luật thuế môi trường không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc nhà nước pháp quyền mà còn là cơ sở đảm bảo công bằng giữa các chủ thể chịu sự điều chỉnh của pháp luật.1.4.2.  Tiêu chí về tính đồng bộ và tính thống nhấtNhư đã phân tích ở mục 1.2.3.4, sự tương tác giữa các bộ phận pháp luật trong cùng một hệ thống pháp luật có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu lực điều chỉnh của pháp luật thuế môi trường. Vì vậy, tính đồng bộ và tính thống nhất của pháp luật thuế môi trường luôn được xem là tiêu chí không thể thiếu khi đánh giá mức độ hoàn thiện của lĩnh vực pháp luật này.Xét trong phạm vi hẹp, tiêu chí này đặt ra yêu cầu: các quy phạm và chế định pháp luật thuế môi trường không được mâu thuẫn, chồng chéo nhau. Xét trong tổng thể hệ thống pháp luật, pháp luật thuế môi trường cần đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ với các lĩnh vực pháp luật khác. Điều này đòi hỏi các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành không chỉ bảo đảm sự thống nhất, hài hoà về nội dung, mà còn phải bảo đảm tính thứ bậc của mỗi văn bản về giá trị pháp lý của chúng.1.4.3.  Tiêu chí về tính phù hợp và tính khả thiSự phù hợp của pháp luật thuế môi trường với chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng cầm quyền, điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, bối cảnh hội nhập quốc tế, đặc điểm bộ máy quản lý thuế, người nộp thuế, khả năng chấp hành pháp luật thuế của các chủ thể chính là “điều kiện cần” để đảm bảo cho tính khả thi của lĩnh vực pháp luật này (xem phần nội dung đã trình bày ở tiểu mục 1.2.3.1, 1.2.3.2, 1.2.3.3 và 1.2.3.4). Pháp luật thuế môi trường không thể được xem là hoàn thiện nếu chưa đáp ứng yêu cầu về tính phù hợp và tính khả thi. Pháp luật chỉ được coi là tồn tại “trên giấy” nếu không được xây dựng trên nền tảng kinh tế, chính trị, tập quán, truyền thống và các quy phạm xã hội khác của quốc gia.Việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế về xây dựng pháp luật thuế môi trường là cần thiết nhưng phải đảm bảo điều kiện hiện thực hóa các quy định đó.1.4.4.  Tiêu chí về kỹ thuật xây dựng pháp luậtKỹ thuật xây dựng pháp luật thuế môi trường là tổng thể những phương pháp, phương tiện được sử dụng trong quá trình soạn thảo và hệ thống hoá pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật thuế môi trường có khả năng điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội phát sinh. Nội dung các quy phạm pháp luật được xây dựng với trình độ kỹ thuật pháp lý cao, có kết cấu chặt chẽ, lôgíc, các thuật ngữ pháp lý được sử dụng chính xác, một nghĩa, lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của quảng đại quần chúng nhân dân. Sự chặt chẽ, rõ ràng, chính xác của các quy phạm pháp luật cũng tránh được những thiếu sót, sơ hở có thể bị lợi dụng trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật. Các văn bản pháp luật phải được xây dựng đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định, có tên gọi phù hợp với nội dung thể hiện, hình thức rõ ràng.Theo: Đặng Kim PhươngLink tài liệu: https://docs.google.com/document/d/1q-aent9cpfrvKBz4a6TD8qMIp5g6srw2/edit
avatar
Đặng Quỳnh
311 ngày trước
Bài viết
THỰC TIỄN VỀ NGUYÊN TẮC THUẾ MÔI TRƯỜNG
1.1.  Nguyên tắc, cấu trúc và các yếu tố chi phối pháp luật thuế môi trường1.1.1.  Các nguyên tắc của pháp luật thuế môi trườngKinh nghiệm xây dựng chính sách thuế ở nhiều nước cho thấy, việc thiết kế hệ thống pháp luật thuế như thế nào để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả, bao giờ cũng  gắn liền với các nguyên tắc đánh thuế. Nói cách khác, các nguyên tắc đánh thuế luôn được xem là một phần không thể thiếu trong cấu trúc hoàn chỉnh của một hệ thống pháp luật thuế. Các nguyên tắc này vừa là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và thực hiện chính sách thuế, vừa là nền tảng cho việc thể chế hóa bằng pháp luật đối với hệ thống thuế quốc gia.75 Theo Michel Bouvier (2005), nguyên tắc đánh thuế bao gồm các nguyên tắc hiến định và các nguyên tắc không có tính hiến định. Các nguyên tắc hiến định bao gồm: nguyên tắc luật định của thuế, nguyên tắc bình đẳng trước thuế, nguyên tắc tự do, nguyên tắc về sự cần thiết của thuế, nguyên tắc niên độ của thuế, nguyên tắc đánh thuế theo khả năng của người nộp thuế, nguyên tắc lũy tiến của thuế, nguyên tắc tôn trọng quyền được tự vệ của người nộp thuế. Các nguyên tắc không có tính hiến định như: nguyên tắc lãnh thổ, nguyên tắc không có hiệu lực hồi tố của Luật thuế, nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc thẩm quyền liên đới của cơ quan thuế.Pháp luật thuế môi trường là một bộ phận của hệ thống pháp luật thuế, vì vậy, pháp luật thuế môi trường cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật thuế. Bên cạnh đó, pháp luật thuế môi trường cần đảm bảo các nguyên tắc đặc thù sau: nguyên tắc phát triển bền vững và nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền. Do mục tiêu và dung lượng có giới hạn của luận án, người viết xin chỉ tập trung phân tích các nguyên tắc pháp lý đặc thù của thuế môi trường.1.1.1.1.   Nguyên tắc phát triển bền vữngPhát triển thường được hiểu là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp. Khái niệm phát triển bao gồm một số nội dung:i)   Phát triển có thể là một quá trình tự thân, không có sự tác động của con người, đó là những biến đổi, phát triển của tự nhiên. Phát triển cũng có thể là một quá trình nhân tạo, do con người tác động vào các yếu tố tự nhiên để làm cho biến đổi. Trong đời sống xã hội, phát triển với ý nghĩa là sự biến đổi do tác động của con người là phổ biến, bởi con người luôn luôn tìm cách tạo ra sự phát triển để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của mình.ii)   Mọi sự vật, hiện tượng đều có thể ở trong sự biến đổi hay được làm cho biến đổi. Do đó, quá trình phát triển được diễn ra ở mọi mặt: phát triển tự nhiên, phát triển kinh tế, phát triển văn hóa xã hội, phát triển an ninh quốc phòng, …Những tai họa thiên nhiên (mưa axit, lỗ thủng tầng ozon, hiệu ứng nhà kính,…) mà con người phải gánh chịu đã làm trỗi dậy ý thức về BVMT, điều này được đánh dấu bởi Hội nghị thế giới đầu tiên về môi trường ở Stockholm năm 1972. Khái niệm phát triển bền vững cũng ra đời từ khi con người nhận thức được mâu thuẫn giữa phát triển và môi trường. Hoạt động phát triển có tác động mạnh mẽ đến môi trường với biểu hiện: môi trường tự nhiên được cải tạo tích cực, phục vụ cho nhu cầu của con người, đồng thời cũng mang lại nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường. Ngược lại, suy thoái, ô nhiễm môi trường cũng tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Chính những mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển đã dẫn đến sự xuất hiện các quan niệm và các lý thuyết khác nhau về phát triển.Một là, lý thuyết đình chỉ tăng trưởng có nội dung làm cho tăng trưởng kinh tế bằng không (0) hoặc mang giá trị âm (-) để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của trái đất.Hai là, lý thuyết về phát triển bền vững có nội dung khuyến khích phát triển kết hợp hài hòa với vấn đề bảo vệ, tái tạo môi trường để ngăn chặn sự suy thoái, thảm họa môi trường.Được đề xuất trong Báo cáo Bruntland năm 198778 của Ủy ban thế giới về môi trường và phát triển, khái niệm phát triển bền vững (sustainable development) được định nghĩa như một sự phát triển cho phép thỏa mãn những nhu cầu hiện nay mà không làm phương hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của những thế hệ mai sau. Luật BVMT năm 2014 tại Khoản 4 Điều 3 cũng đưa ra khái niệm phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và BVMT. Qua các định nghĩa trên, có thể thấy được yếu tố cơ bản của phát triển bền vững là quyền phát triển và sự cần thiết phải chăm sóc môi trường. Nói cách khác, kinh tế - xã hội - môi trường là ba mặt của sự phát triển, có tác động lẫn nhau và nếu duy trì được sự cân đối giữa chúng thì tạo ra được sự phát triển bền vững. Phát triển kinh tế, phát triển xã hội là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của các thể nhân, pháp nhân, của mỗi quốc gia cũng như của toàn nhân loại nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại, còn BVMT là yếu tố quyết định mức độ ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Phát triển kinh tế không được hủy hoại văn hóa, tạo ra bất công xã hội, gia tăng cách biệt giàu nghèo và tàn phá môi trường. Các chính sách phát triển kinh tế, quy hoạch vùng và đô thị, khai thác tài nguyên, … vì thế phải được thiết kế trong một tầm nhìn tổng thể, dài hạn, có xét đầy đủ đến các khía cạnh kinh tế - văn hóa, xã hội-   môi trường, sao cho sự phát triển của ngày hôm nay phải là tiền đề cho sự phát triển của ngày mai, chứ không phải là sự tàn phá, hủy hoại và tai ương mà thế hệ sau phải gánh chịu. Phát triển bền vững phải là sự đồng tiến hóa của tự nhiên và xã hội dưới hình thức chính thể tự nhiên – xã hội, trong đó những tiến bộ xã hội trong mỗi bước đi không gây tác hại cho môi trường và là cơ sở bảo tồn cho cả sinh thái và nhân loại.Việt Nam đang trong quá trình tăng tốc để phát triển theo kịp các quốc gia trong khu vực và thế giới nên nhu cầu sử dụng khối lượng lớn tài nguyên thiên nhiên là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, chúng ta không thể tăng trưởng bằng mọi giá, không thể để lại cho con cháu một đất nước với môi trường bị hủy hoại, của cải nghèo nàn. Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ xác định các quan điểm chỉ đạo về phát triển bền vững như sau:i)   Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia. Việc xây dựng, thực hiện các chiến lược, chính sách, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội phải đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững.ii)   Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể, xã hội, các cộng đồng dân cư và mỗi người dân. Huy động mọi nguồn lực hội, tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp và các bên liên quan nhằm đảm bảo thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.iii)  Con người là trung tâm của phát triển bền vững. Phát hay tối đa nhân tố con người với vai trò là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của phát triển bền vững. Đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập quốc tế để phát triển bền vững đất nước.iv)  Tạo điều kiện để mọi người và mọi cộng đồng trong xã hội có cơ hội bình đẳng để phát triển, được tiếp cận những nguồn lực chung và được tham gia, đóng góp và hưởng lợi, tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hóa tốt đẹp cho những thế hệ mai sau. Không để ai bị bỏ lại phía sau, tiếp cận những đối tượng khó tiếp cận nhất trước, bao gồm trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, người nghèo, người khuyết tật, đồng bào vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng biên giới, hải đảo và những đối tượng dễ bị tổn thương khác.v)   Khoa học và công nghệ, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số quốc gia sẽ là nền tảng và động lực cho phát triển bền vững đất nước. Công nghệ hiện đại, mạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất.Để thực hiện nguyên tắc phát triển bền vững, pháp luật thuế môi trường cần đáp ứng các yêu cầu sau: -  Thiết kế thuế môi trường cần hợp lý để thuế môi trường thực sự trở thành công cụ điều chỉnh hành vi của người gây ô nhiễm theo hướng giảm dần hoặc hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường.-  Tác động phân phối và tái phân phối của thuế môi trường là vấn đề cần được đặc biệt chú trọng. Nghiên cứu của OECD (2007) chỉ ra rằng một số loại thuế xanh có đối tượng chịu thuế là các hàng hóa thiết yếu như: điện, xăng, dầu, phương tiện giao thông cá nhân, ... có tác động lũy thoái lên thu nhập của các hộ gia đình. Hộ gia đình thu nhập thấp có xu hướng chịu ảnh hưởng tiêu cực nhiều hơn hộ gia đình khá giả vì họ phải dành phần lớn thu nhập của mình để chi trả cho các hàng hóa thiết yếu này. Như vậy, tỉ lệ nộp thuế môi trường so với thu nhập của các gia đình nghèo sẽ cao hơn các gia đình khá giả, trong khi các gia đình khá giả lại thường sử dụng nhiều hàng hóa thiết yếu hơn các gia đình nghèo. Rõ ràng là những gia đình giàu có tiêu thụ điện, sử dụng ô tô riêng nhiều hơn những gia đình nghèo nhưng số thuế môi trường họ phải nộp chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng thu nhập của họ.Để giảm bớt những hạn chế do tác động tái phân phối thu nhập của thuế môi trường, song song với việc ban hành luật thuế môi trường cần xây dựng các chính sách an sinh xã hội đảm bảo công bằng cho người nghèo.-  Hài hòa giữa nhu cầu phát triển kinh tế và BVMT là một yêu cầu quan trọng đối với chính sách thuế môi trường. Có thể thấy là khả năng cạnh tranh của các ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực khi thuế môi trường được áp dụng. Đặc biệt là khi các nước khác không áp dụng sắc thuế này thì hàng hóa nhập khẩu từ các nước đó sẽ có lợi thế hơn so với hàng hóa cùng loại ở trong nước phải chịu thuế môi trường.1.1.1.2.   Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiềnNguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (tiếng Anh là the Polluter pays principle, viết tắt là PPP) xuất hiện lần đầu tiên trong khuyến nghị của OECD năm 1972: “Nguyên tắc được sử dụng để phân bổ chi phí của công tác phòng chống ô nhiễm và chi phí cho các biện pháp kiểm soát ô nhiễm, để khuyến khích sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên khan hiếm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, và để tránh biến dạng trong thương mại và đầu tư quốc tế, là nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền”.82 Theo nguyên tắc này, người gây ô nhiễm phải chịu chi phí cho các biện pháp phòng chống, kiểm soát ô nhiễm do công quyền quyết định nhằm đảm bảo môi trường ở trong tình trạng có thể chấp nhận được. Nói cách khác, chi phí thực hiện các biện pháp nêu trên phải được phản ánh trong giá cả hàng hóa, dịch vụ gây ra ô nhiễm. Các biện pháp này cũng không thể được Chính phủ hay cộng đồng xã hội trợ cấp bởi trợ cấp cho hành vi gây ô nhiễm sẽ gây nên biến dạng trong thương mại và đầu tư quốc tế.PPP ra đời xuất phát từ quan điểm cho rằng môi trường là một loại hàng hóa đặc biệt, thường được gọi là hàng hóa công, nghĩa là nhiều người có thể sử dụng chúng cùng một lúc. Có thể lấy một ví dụ đơn giản: Một trái táo là một hàng hóa tư, vì nếu tôi mua và ăn trái táo này thì bạn không thể ăn nó nữa, nhưng nếu tôi đi dạo trong công viên thì việc đó không hề cản trở bạn "sử dụng" công viên. Thị trường tư nhân thường không cung cấp loại hàng hóa mang tính chất công cộng vì khó có thể bắt mọi người trả tiền khi sử dụng hàng hóa này. Vì vậy, Nhà nước cần phải vào cuộc để buộc các chủ thể phải trả tiền khi khai thác, sử dụng môi trường, sau đó Nhà nước sẽ dùng số tiền này để tài trợ cho các dự án BVMT.Ngoài ra, PPP còn được xây dựng dựa trên một luận điểm quan trọng của kinh tế học pháp luật, đó là “con người duy lợi”: con người luôn có xu hướng lựa chọn cách hành xử có lợi nhất cho mình. Khi phải trả tiền cho việc gây ô nhiễm, con người sẽ cân nhắc lựa chọn gây ô nhiễm ít đi để số tiền phải trả sẽ ít đi tương ứng hoặc lựa chọn cách làm khác không gây ô nhiễm để không phải trả tiền. Đánh vào lợi ích kinh tế của con người là trực tiếp tác động đến cách hành xử của con người đối với môi trường, đó là ý nghĩa thiết thực của PPP.Kể từ khi xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1972 cho đến nay nội dung của PPP đã được hiểu theo nghĩa rộng hơn: người gây ô nhiễm không chỉ phải chịu các chi phí phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm mà còn phải có trách nhiệm chi trả cho việc khắc phục các thiệt hại môi trường. Kiểm soát ô nhiễm cũng được mở rộng hơn, không chỉ là kiểm soát ô nhiễm tại nguồn mà còn là kiểm soát ô nhiễm toàn bộ vòng đời sản phẩm. Ô nhiễm không phải chỉ là các thiệt hại thực tế xảy ra mà còn bao gồm cả những nguy cơ, rủi ro tiềm ẩn trong các hành vi có khả năng gây tổn hại cho môi trường. Vì vậy, PPP có thể được hiểu là nguyên tắc bao quát toàn bộ trách nhiệm môi trường của người gây ô nhiễm.Hiện nay, PPP đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế về môi trường, PPP cũng giữ vai trò quan trọng trong chính sách và pháp luật môi trường của Cộng đồng chung Châu Âu (EC). Năm 1992 Hội nghị Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro đã đưa ra Tuyên bố chung về môi trường và phát triển, trong đó PPP được xác định là công cụ của hệ thống pháp lý quốc tế nhằm mục tiêu phát triển bền vững.87 Nhiều quốc gia đã nội hóa PPP trong pháp luật nước mình, như Luật không khí sạch (the Clean Air Act 1970), Luật nước sạch (the Clean Water Act 1977), Đạo luật về Trách nhiệm pháp lý, Bồi Thường và Phản ứng toàn diện về môi trường (Comprehensive Environmental Response, Compensation, and Liability Act 1980 – CERCLA) của Hoa Kỳ, Luật Quản lý môi trường quốc gia của Nam Phi, Luật Bảo vệ môi trường năm 1995 của Bangladesh, Luật Môi trường năm 1992 của Thái Lan...88PPP là một nguyên tắc kinh tế trong lĩnh vực môi trường, vì vậy, các công cụ thực hiện PPP chủ yếu là các công cụ kinh tế như: thuế, phí môi trường, ký quỹ, đặt cọc – hoàn trả, hệ thống quyền phát thải có thể chuyển nhượng,... Như vậy, thuế môi trường là một trong những công cụ thực hiện PPP. Để đảm bảo PPP, pháp luật thuế môi trường cần thể hiện những nội dung sau:-   Mức thuế môi trường đối với từng sản phẩm gây ô nhiễm phải phản ánh được mức độ tác động đến môi trường của sản phẩm đó, nghĩa là mức thuế phải đủ để bù đắp các chi phí xã hội bỏ ra để khắc phục những tổn hại môi trường mà sản phẩm gây ra.-  Phạm vi đối tượng chịu thuế môi trường cần mở rộng nhiều nhất đến mức có thể được để bao quát các đối tượng gây ô nhiễm.-  Chủ thể (thực sự) chịu thuế môi trường phải là chủ thể có hành vi gây tác động xấu cho môi trường. Điều này liên quan đến vấn đề “chuyển thuế”, một chủ đề đã được nhiều học giả bàn luận. Chuyển thuế là “hiện tượng mà một người phải nộp thuế cho Nhà nước, nhưng lại chuyển thuế đó cho người thứ ba, và đối tượng này, đến lượt mình, cũng có thể lại chuyển thuế sang cho người khác nữa; theo cách này, người nộp thuế được Luật chỉ định chỉ phải ứng trước tiền thuế và sau đó được hoàn lại từ những người không có mối liên hệ gì với cơ quan thuế, nhưng lại thực sự chịu thuế”.89 Do đó, nhà làm luật cần thiết kế thuế môi trường sao cho chủ thể chịu thuế phải là chủ thể thực hiện hành vi gây ô nhiễm môi trường thì mới đảm bảo mục tiêu điều tiết của sắc thuế này.1.1.2.  Cấu trúc pháp luật thuế môi trườngPháp luật thuế môi trường có thể được hiểu là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa người nộp thuế với cơ quan quản lý thuế và các chủ thể khác có liên quan trong quá trình hành thu thuế môi trường. Xuất phát từ nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hành thu thuế môi trường, nhà làm luật sẽ dự liệu các quy phạm pháp luật điều chỉnh tương ứng. Vì vậy, có thể phân tích cấu trúc pháp luật thuế môi trường dựa trên các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực này. Hoặc một cách tiếp cận khác, thông dụng hơn, theo cấu trúc tổng quát, hệ thống pháp luật thuế nói chung của các nước đều được cấu thành bởi hai bộ phận chính, bao gồm các quy định về nội dung của các sắc thuế trong hệ thống thuế; các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện (quy trình hành thu) hệ thống thuế. Cấu trúc pháp luật thuế môi trường cũng tuân theo mô típ trên của hệ thống pháp luật thuế.1.1.2.1.   Các quy định về nội dung pháp luật thuế môi trườngCác quy định về nội dung pháp luật thuế môi trường thực chất là những quy định nhằm xác định ai là người nộp thuế, họ phải nộp thuế cho những sự kiện nào, hành vi nào và mức thuế phải nộp là bao nhiêu. Đó là những quy định về đối tượng chịu thuế, người nộp thuế và căn cứ tính thuế.-  Quy định về đối tượng chịu thuế môi trườngĐối tượng chịu thuế môi trường là các hàng hóa, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường hoặc là hành vi gây tác động xấu đến môi trường (như xả thải ra môi trường, khai thác tài nguyên thiên nhiên, ...). Tùy thuộc vào khả năng quản lý thuế của từng quốc gia mà phạm vi đối tượng chịu thuế sẽ được pháp luật quy định rộng hay hẹp. Thông thường, ở các nước phát triển, luật thuế môi trường bao quát được hầu hết các đối tượng gây ô nhiễm bởi cơ quan quản lý thuế của các nước này nhận được sự hỗ trợ hữu hiệu từ các phương tiện khoa học công nghệ tiên tiến, người dân có nhận thức cao về BVMT và thuế môi trường cũng đã được áp dụng trong một thời gian tương đối dài so với các nước đang phát triển. Ngược lại, thuế môi trường chỉ mới xuất hiện ở các nước đang phát triển trong những năm gần đây nên hầu như chỉ được áp dụng mang tính “thử nghiệm” trên một số đối tượng nhất định (phổ biến là áp dụng với xăng, dầu, than đá, thuốc lá).-  Quy định về người nộp thuế môi trườngPháp luật các quốc gia thường quy định người nộp thuế là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh các hàng hóa, dịch vụ chịu thuế hoặc các chủ thể thực hiện hành vi gây tác động xấu đến môi trường. Nhìn chung, quy định về người nộp thuế thường hướng đến việc đảm bảo thuận lợi cho công tác quản lý thu thuế.-  Quy định về căn cứ tính thuế môi trườngTheo Herrara Molina (2012), căn cứ tính thuế môi trường chỉ ra những nguyên nhân gây tác động xấu đến môi trường màu sắc thuế này hướng đến việc hạn chế những nguyên nhân đó xảy ra. Căn cứ tính thuế được đo lường bằng đơn vị tiền tệ (ví dụ: giá của phương tiện giao thông) hoặc bằng đơn vị hàng hóa bị đánh thuế (ví dụ: thể tích năng lượng hóa thạch được sản xuất ra) và có thể được phân biệt với sự kiện pháp lý phát sinh nghĩa vụ thuế.91 Theo TS. Nguyễn Văn Tuyến (2007), quy định về căn cứ tính thuế chỉ rõ các yếu tố cần và đủ để xác định mức thuế cụ thể cho một chủ thể nộp thuế, khi xảy ra sự kiện làm phát sinh nghĩa vụ thuế.Pháp luật thuế môi trường các quốc gia thường quy định căn cứ tính thuế bao gồm số lượng hàng hóa, dịch vụ hoặc hàm lượng chất gây ô nhiễm và thuế suất (hầu hết đều quy định thuế suất tuyệt đối). Đây là lựa chọn của nhiều quốc gia khi xây dựng cơ sở tính thuế môi trường vì cách quy định này giúp tiết giảm chi phí quản lý và thể hiện được “thái độ” của Nhà nước đối với từng đối tượng gây ô nhiễm.1.1.2.2.   Các quy định pháp luật về quản lý thuế môi trườngTheo TS. Nguyễn Văn Tuyến (2007), các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện luật thuế thường được quan niệm như là những quy định về hình thức của pháp luật thuế, bởi nó có nhiệm vụ xác định trình tự, thủ tục hành thu thuế và quản lý thuế cũng như xử lý vi phạm và giải quyết các tranh chấp về thuế. Hiểu theo nghĩa rộng nhất, tất cả các quy định liên quan đến hoạt động này đều có thể được gói gọn trong một thuật ngữ là “pháp luật quản lý thuế” và tùy thuộc vào quan điểm của từng nước mà chúng có thể được quy định chung trong Bộ luật thuế hay các đạo luật thuế, hoặc được tách bạch riêng rẽ thành một đạo luật về quản lý thuế.93 TS. Nguyễn Thị Thương Huyền (2008) cho rằng: pháp luật thuế bao gồm pháp luật vật chất hay còn gọi pháp luật nội dung và pháp luật thủ tục hay còn gọi pháp luật hình thức, trong đó pháp luật nội dung ghi nhận, phản ánh chính sách thuế, còn pháp luật thủ tục quy định các vấn đề về quản lý thuế. Các quy định về hình thức tổ chức và đảm bảo thực hiện luật thuế môi trường cũng tương tự như pháp luật quản lý thuế nói chung, bao gồm các nhóm quy định cơ bản sau đây:–  Các quy định về thủ tục hành chính thuế môi trường bao gồm: đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, ấn định thuế, quyết toán thuế, miễn, giảm thuế, truy thu và hoàn thuế, xóa nợ tiền thuế, ...Đăng ký, kê khai, tính thuế, nộp thuế, quyết toán thuế, truy thu và hoàn thuế,... là những hoạt động quan trọng trong quá trình thực hiện chức năng quản lý thuế của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trước đây, theo cơ chế cơ quan thuế tính thuế, các hoạt động này thường được thực hiện bằng các quyết định hoặc hành vi hành chính đơn phương của Nhà nước và bất chấp thái độ của người nộp thuế.95 Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX nhiều nước đã chuyển sang áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp thuế. Cơ chế tự khai, tự nộp thuế được xây dựng trên nền tảng sự tuân thủ của người nộp thuế, được cụ thể bằng việc người nộp thuế tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ thuế mà pháp luật quy định, cơ quan thuế và các thiết chế liên quan được tổ chức và thực hiện các biện pháp quản lý thuế phù hợp với nguyên tắc đó. Việc chuyển sang mô hình hành thu thuế theo cơ chế tự đăng ký, tự khai, tự tính và tự nộp là bước đột phá quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính thuế ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Xét từ phương diện pháp luật, các quy định về cơ chế tự đăng ký, tự kê khai, tự tính và tự nộp thuế nhằm hướng tới mục tiêu mở rộng quyền năng cho người nộp thuế, đồng thời thông qua đó cũng đề cao ý thức trách nhiệm của họ trong quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.–  Các quy định về giám sát và bảo đảm sự tuân thủ pháp luật thuế môi trường bao gồm: quản lý thông tin người nộp thuế, thanh tra, kiểm tra thuế và xử lý vi phạm pháp luật thuế, khiếu nại, tố cáo, giải quyết tranh chấp phát sinh trong quản lý thuế. Thông tin về người nộp thuế là cơ sở để thực hiện quản lý thuế, đánh giá mức độ chấp hành pháp luật của người nộp thuế, ngăn ngừa, phát hiện vi phạm pháp luật về thuế.  Vì vậy, quản lý thông tin về người nộp thuế là vấn đề đặc biệt quan trọng khi thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế. Nền tảng của quản lý thuế hiện đại là hướng đến khuyến khích tính tự giác tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, vì vậy phương pháp quản lý thuế được ưu tiên áp dụng là quản lý thuế trên cơ sở dữ liệu thông tin tổng hợp về người nộp thuế và kỹ thuật quản lý rủi ro. Thông tin về người nộp thuế có thể chia thành ba nhóm: thông tin ban đầu về người nộp thuế, thông tin trong quá trình sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, thông tin sử dụng để đối chiếu, phân tích liên quan đến người nộp thuế.Thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế là những quy định thể hiện rõ nhất vai trò, chức năng quản lý hành chính của Nhà nước đối với xã hội nói chung và đối với người nộp thuế nói riêng. Trước đây, hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế thường được tiến hành trước khi người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, gọi là cơ chế “tiền kiểm”. Tuy nhiên, gần đây, những nỗ lực trong quá trình cải cách hành chính thuế đã dẫn đến việc chuyển đổi từ cơ chế “tiền kiểm” sang cơ chế “hậu kiểm”, theo đó cơ quan quản lý thuế chỉ tiến hành thanh tra, kiểm tra sau khi người nộp thuế đã tự thực hiện các thủ tục chính yếu của quá trình quản lý thuế như đăng ký thuế, kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế hay xin miễn, giảm thuế. Dựa trên cơ sở kết quả thanh tra và kiểm tra, cơ quan thuế có quyền áp dụng các chế tài xử lý đối với những hành vi vi phạm pháp luật thuế. Việc quy định theo hướng này không những làm giảm gánh nặng công việc cho cơ quan quản lý thuế, đảm bảo tính hợp lý của quá trình quản lý thuế mà còn tạo điều kiện để cơ quan thuế nâng cao tính chuyên nghiệp trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế – với tư cách là những công cụ quản lý thuế hiệu quả nhất.Tranh chấp nói chung và tranh chấp về thuế nói riêng là hậu quả khó tránh của quá trình thực hiện chức năng quản lý hành chính, đặc biệt là quản lý hành chính trong lĩnh vực thuế. Sở dĩ như vậy là bởi vì, các quy định gần đây của Luật thuế có chiều hướng gia tăng và ngày càng trở nên phức tạp hơn, cùng với nó là quá trình chuyển đổi sang mô hình Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Điều này dẫn tới hệ quả là Nhà nước phải tìm cách thiết lập những cơ chế giải quyết thích hợp đối với các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thuế, thông qua đó nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia quan hệ pháp luật thuế.Theo thông lệ, các quy định về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thuế thường có mục tiêu làm rõ những vấn đề cơ bản sau đây:Thứ nhất, nhận diện đầy đủ và chính xác các loại tranh chấp giữa cơ quan thuế với người nộp thuế thường phát sinh trong lĩnh vực thuế. Có rất nhiều loại tranh chấp khác nhau liên quan đến lĩnh vực thuế nhưng phổ biến nhất vẫn là những tranh chấp về cơ sở tính thuế và số tiền thuế phải nộp. Về bản chất, các tranh chấp này đều thuộc loại tranh chấp hành chính và có thể phát sinh trong giai đoạn thu thuế, giai đoạn hoàn thuế hoặc giai đoạn xin miễn giảm thuế.Thứ hai, xác định các phương thức giải quyết tranh chấp về thuế giữa cơ quan thuế với người nộp thuế. Theo kinh nghiệm của Cộng hòa Pháp, các tranh chấp về thuế có thể được giải quyết ở giai đoạn tiền tố tụng (giải quyết bằng thủ tục hành chính) hoặc ở giai đoạn tố tụng tại Tòa án.Giải quyết tranh chấp về thuế bằng thủ tục hành chính trước hết và chủ yếu bao gồm việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính về thuế. Ngoài ra, các tranh chấp về thuế cũng có thể được giải quyết bằng một số thủ tục hành chính đặc biệt như xin ân giảm thuế và giải quyết tranh chấp thông qua tư vấn trọng tài. Theo quy định của nhiều nước trên thế giới, việc giải quyết tranh chấp về thuế bằng con đường hành chính được xem là thủ tục tiên quyết, nghĩa là chỉ khi nào người nộp thuế đã tiến hành khiếu nại hành chính về thuế mà không được giải quyết hoặc được giải quyết nhưng không thỏa đáng thì họ mới có thể đứng đơn khởi kiện vụ tranh chấp ra tòa hành chính để yêu cầu giải quyết.Giải quyết tranh chấp về thuế bằng thủ tục tố tụng tại tòa án được tiến hành sau khi người nộp thuế đã thực hiện khiếu nại hành chính tại cơ quan hành chính có thẩm quyền. Ở Pháp, trong những năm gần đây đã từng diễn ra cuộc tranh luận về việc phân chia thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thuế giữa tòa hành chính và tòa tư pháp. Thậm chí, còn có ý tưởng cho rằng cần phải thành lập riêng một tòa án thuế để chuyên giải quyết những tranh chấp về thuế.Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc lựa chọn tòa án nào để giải quyết các tranh chấp về thuế vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới.1.1.3.  Các yếu tố chi phối pháp luật thuế môi trườngTác giả Trần Vũ Hải (2014) cho rằng, pháp luật trong quá trình phát triển chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật trong những hoàn cảnh cụ thể. Rất khó để có thể xem xét hết được tất cả những yếu tố chi phối đến pháp luật thuế môi trường do sự đa dạng và tác động đan xen lẫn nhau của những yếu tố này.101 Nhưng, ở góc độ chung nhất, có thể khái quát được một số yếu tố chính, ảnh hưởng đến pháp luật thuế môi trường, đó là: chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng cầm quyền; điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và bối cảnh hội nhập quốc tế; bộ máy quản lý thuế và mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước với người nộp thuế; sự tương tác giữa các bộ phận pháp luật; và khả năng chấp hành pháp luật của người nộp thuế.1.1.3.1.   Chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng cầm quyềnPháp luật thuế môi trường chịu chi phối từ chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng cầm quyền bởi pháp luật của Nhà nước là sự thể chế hóa cương lĩnh chính trị của Đảng cầm quyền. Điều này càng trở nên quan trọng và cần thiết đối với một quốc gia có một đảng chính trị duy nhất như ở Việt Nam, cùng với Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 – 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 (2020) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định các nhiệm vụ cụ thể trong giai đoạn 2021 - 2025:“Thực hiện hạch toán giá trị của tài nguyên đất, nước, khoáng sản, đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên, ô nhiễm và suy thoái môi trường vào hệ thống tài khoản quốc gia. Thể chế hoá đầy đủ các nguyên tắc thị trường trong chi phí để xử lý, khắc phục hậu quả, cải tạo và phục hồi môi trường, nghĩa vụ đóng góp để đầu tư trở lại cho BVMT. Xây dựng lộ trình, cơ chế, chính sách, pháp luật để hình thành, vận hành mô hình kinh tế tuần hoàn. Thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững theo Chương trình nghị sự phát triển bền vững 2030 của Liên hợp quốc.Sửa đổi, bổ sung các luật về thuế, phí theo nguyên tắc thị trường, gắn với cơ cấu lại nguồn thu, mở rộng cơ sở thuế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý thuế và áp dụng mức thuế suất hợp lý, hướng tới một hệ thống thuế đồng bộ, có cơ cấu bền vững, bảo đảm huy động hợp lý các nguồn lực cho ngân sách nhà nước, đồng thời góp phần thiết lập môi trường kinh tế cạnh tranh phù hợp với quá trình hội nhập, phát triển của nền kinh tế.”Quan điểm trên của Đảng đã chỉ ra những định hướng lớn đối với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật thuế môi trường như: nguyên tắc đối xử công bằng giữa các chủ thể nộp thuế, giữa cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế; nguyên tắc điều tiết hợp lý thu nhập và không lồng ghép chính sách xã hội vào chính sách thuế; nguyên tắc hạch toán đầy đủ giá trị tài nguyên và các chi phí xã hội đối với môi trường vào giá hàng hóa, dịch vụ.1.1.3.2.   Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và bối cảnh hội nhập quốc tếĐể đảm bảo tính khả thi của pháp luật thuế môi trường, tuân theo quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này không thể tách rời điều kiện thực tại của đất nước về kinh tế - xã hội và bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế. Việt Nam đang trong quá trình tăng tốc để phát triển theo kịp các nước tiên tiến trên thế giới nên việc sử dụng khối lượng lớn tài nguyên là không thể tránh khỏi. Pháp luật và các công cụ chính sách nói chung, luật thuế môi trường nói riêng cần có sự điều chỉnh hợp lý để nguồn lực của đất nước được sử dụng một cách hiệu quả nhất, góp phần mang lại thịnh vượng cho Tổ quốc.Pháp luật thuế môi trường chịu sự tác động mạnh mẽ của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việc tham gia vào các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường và tự do hóa thương mại đòi hỏi Việt Nam phải có những cải cách toàn diện về chính sách thuế, đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa hàng hóa trong nước và hàng hóa nhập khẩu, giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, để thực hiện các cam kết quốc tế về BVMT, cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính, Việt Nam cũng cần có những động thái mạnh mẽ, trước hết là xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật môi trường, để tạo ra những thay đổi tích cực của xã hội đối với vấn đề môi trường.1.1.3.3. Bộ máy quản lý thuế, mối quan hệ lợi ích giữa Nhà nước với người nộp thuếTính hiệu quả của pháp luật thuế môi trường phụ thuộc rất lớn vào sự chuyên nghiệp của bộ máy quản lý thuế và sự mẫn cán của công chức hành thu thuế. Bởi suy cho cùng, pháp luật được triển khai áp dụng thông qua các thiết chế của Nhà nước, những quy định pháp luật dù hợp lý đến mức nào cũng không thể được phát huy trong thực tiễn nếu bộ máy công quyền áp dụng những quy định đó một cách “méo mó” hoặc “thiên lệch” đi. Xét về mặt hình thức, thuế là tiền, là tài sản mà người dân đóng góp cho công quyền, nhờ đó nền công lực mới có nguồn tài chính để nuôi dưỡng bộ máy của mình và sử dụng bộ máy đó để thực hiện các dịch vụ công phục vụ người dân. Vì vậy, mối quan hệ giữa Nhà nước và người nộp thuế là mối quan hệ lợi ích vừa nhạy cảm, vừa gắn bó, đôi khi lại có phần mâu thuẫn nhau. Pháp luật thuế môi trường cần phải xử lý mối quan hệ đó thật hài hòa để đảm bảo lợi ích chính đáng của cả hai bên. Để bộ máy quản lý thuế trở thành thiết chế đắc lực thực hiện pháp luật thuế môi trường, theo người viết, cần đảm bảo ít nhất hai yêu cầu: (i) pháp luật thuế môi trường cần đảm bảo tính công khai, minh bạch, đặc biệt là những quy định giới hạn quyền lực của công chức thuế; (ii) các chính sách đối với công chức thuế cần có những đặc thù so với công chức các ngành khác nói chung.1.1.3.4.   Sự tương tác giữa các bộ phận pháp luậtSự tương tác giữa các bộ phận pháp luật trong cùng một hệ thống pháp luật của quốc gia có ảnh hưởng lớn đến hiệu lực điều chỉnh pháp luật về thuế môi trường. Về lý thuyết, hiếm khi chỉ có một văn bản pháp luật duy nhất quy định về một vấn đề mà thường có sự điều chỉnh của nhiều văn bản khác nhau. Những văn bản này, khi cùng điều chỉnh về một nội dung, thì sự tương thích hay xung đột sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả pháp luật. Nếu các quy định giữa các văn bản mâu thuẫn nhau, việc áp dụng cũng như giải quyết tranh chấp sẽ gặp khó khăn. Tình trạng trùng lặp trong quy định (tức là những quy định như nhau trong các văn bản khác nhau) cũng làm ảnh hưởng đến việc áp dụng vì nó không đảm bảo tính nhất quán về căn cứ pháp lý. Ngược lại, nếu các văn bản pháp luật hỗ trợ được cho nhau, không mâu thuẫn hoặc trùng lặp thì hệ thống các quy định sẽ minh bạch, thống nhất, do đó việc áp dụng cũng sẽ dễ dàng hơn cho các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thuế môi trường.Hiện nay, ở Việt Nam cũng như ở nhiều quốc gia khác, nội dung thuế môi trường (căn cứ tính thuế, người nộp thuế, ...) được quy định trong luật thuế, các vấn đề về hình thức tổ chức hành thu thuế và đảm bảo thực hiện luật thuế được quy định trong luật quản lý thuế (tuy nhiên, ở những quốc gia lựa chọn mô hình quy định nội dung sắc thuế và hình thức tổ chức thu thuế trong cùng một Bộ luật thuế vụ thì những nội dung này không được tách ra thành những đạo luật riêng biệt). Ngoài ra, khi xây dựng và thực hiện pháp luật thuế môi trường, cần thiết phải xem xét các lĩnh vực pháp luật có liên quan khác như: pháp luật dân sự, pháp luật hành chính, pháp luật tài chính, ... nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.1.1.3.5.   Khả năng chấp hành pháp luậtKhả năng chấp hành pháp luật của các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả pháp luật trên thực tế. Ngược lại, từ việc xem xét khả năng chấp hành pháp luật của các đối tượng chịu sự điều chỉnh, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ có căn cứ để ban hành, sửa đổi các quy định cho phù hợp với thực tiễn.Khả năng chấp hành pháp luật phụ thuộc vào hai nguyên nhân cơ bản là nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể. Nếu các chủ thể có nhận thức đúng, mà cụ thể là hiểu biết và vận dụng các quy định pháp luật đúng với vai trò và ý nghĩa của chúng thì sẽ góp phần phát huy hiệu quả pháp luật và ngược lại. Đối với ý thức chấp hành pháp luật, nếu các chủ thể cố ý áp dụng sai hoặc không thực hiện các quy định pháp luật sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả pháp luật trên thực tế.Khả năng chấp hành pháp luật thuế môi trường được đánh giá trên hai khía cạnh chủ yếu sau:Thứ nhất, nhận thức và ý thức về pháp luật thuế môi trường của người nộp thuế. Nếu người nộp thuế có hiểu biết đầy đủ và tuân thủ luật thuế môi trường thì pháp luật sẽ được thực hiện nghiêm minh. Ngược lại, hiệu lực của pháp luật chưa cao nếu người nộp thuế chưa có nhận thức đúng hoặc cố ý không tuân thủ luật thuế môi trường.Thứ hai, khả năng áp dụng pháp luật thuế môi trường của cơ quan quản lý thuế. Hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật thuế của cơ quan thuế có tác động rất lớn đến ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả của pháp luật trên thực tế. Chẳng có biện pháp “giáo dục” nào tốt hơn việc “làm gương” thực hiện pháp luật nghiêm minh của công quyền.Theo: Đặng Kim PhươngLink tài liệu: https://docs.google.com/document/d/1q-aent9cpfrvKBz4a6TD8qMIp5g6srw2/edit
avatar
Đặng Quỳnh
311 ngày trước
Bài viết
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT THUẾ MÔI TRƯỜNG
 1.1.  Một số vấn đề lý luận về thuế môi trường1.1.1.  Sự phát triển của thuế môi trườngSự ra đời của thuế môi trường có thể xuất phát từ chủ nghĩa môi trường ở thế kỷ XVIII, XIX và hoạt động BVMT với tư cách là công cụ ngăn ngừa và cải thiện những thảm họa xã hội. Arthur C. Pigou (1877 – 1959) đã có ảnh hưởng đến sự phát triển ý tưởng về thuế môi trường gắn với kinh tế học phúc lợi, vì vậy sắc thuế này còn được gọi là thuế Pigou (tiếng Anh là Pigouvian tax).27 Nguyên tắc đánh thuế Pigou là: “Mức thuế ô nhiễm tính cho mỗi đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm có giá trị bằng chi phí ngoại tác do đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm gây ra tại mức sản lượng tối ưu xã hội”28.Ngoại tác là sự tác động ra bên ngoài của đối tượng này lên chi phí hoặc lợi ích của đối tượng thứ ba mà không qua giao dịch và không được phản ánh qua giá cả. Ngoại tác bao gồm ngoại tác tích cực và ngoại tác tiêu cực. Ô nhiễm môi trường là một dạng của ngoại tác tiêu cực. Chi phí phát sinh do ô nhiễm môi trường (ví dụ: chi phí y tế vì các bệnh mà ô nhiễm gây ra) không được chủ thể gây ô nhiễm tính vào giá thành sản phẩm mà buộc xã hội (đối tượng thứ ba) phải gánh chịu. Ô nhiễm tối ưu là tối ưu về mặt kinh tế và phải chấp nhận rằng ô nhiễm tối ưu không có nghĩa là ô nhiễm bằng không. Ô nhiễm tối ưu tại mức sản lượng tối ưu tức là tại mức sản lượng đó, sản xuất tạo ra mức ô nhiễm tối ưu đối với xã hội. Thuế môi trường là công cụ nội hóa chi phí ngoại tác do ô nhiễm môi trường gây ra, mức thuế phải đủ để bù đắp những tổn thất của ô nhiễm, từ đó tác động đến chủ thể gây ô nhiễm: buộc chủ thể gây ô nhiễm phải điều chỉnh hoạt động của mình về mức sản lượng tối ưu xã hội.Pháp là quốc gia đầu tiên áp dụng thuế môi trường trong lĩnh vực quản lý nước vào năm 1959 nhằm nỗ lực giải quyết vấn đề ô nhiễm. Vào năm 1971, thuế môi trường được sử dụng để đối phó với nạn ô nhiễm nước thải ở Hà Lan và Đức. Các nhà kinh tế học đã đi tiên phong trong việc phát triển thuế môi trường ở Hoa Kỳ vào những năm 1960. Thuế môi trường được chấp nhận ở Nhật vào năm 1974 để bồi thường cho những nạn nhân của ô nhiễm.Trong những năm gần đây, để giải quyết vấn đề môi trường, công cụ định giá carbon thu hút được sự quan tâm của nhiều chuyên gia quốc tế và thuế môi trường được coi là trung tâm của cuộc cải cách hệ thống thuế đang diễn ra ở nhiều quốc gia. Cải cách thuế môi trường đề cập đến sự thay đổi trong hệ thống thuế quốc gia, chuyển gánh nặng thuế đánh vào các chức năng kinh tế, thường được gọi là “cái tốt” như lao động (thuế thu nhập cá nhân), vốn (thuế thu nhập doanh nghiệp), tiêu dùng (thuế giá trị gia tăng và các loại thuế gián thu khác), sang đánh thuế vào những hành vi gây áp lực lên môi trường và việc sử dụng tài nguyên, thường được gọi là “cái xấu”33. Trong những năm 1990, các nước Tây Bắc châu Âu đã thực hiện những bước đầu tiên về cải cách thuế môi trường, nói khái quát là, thực hiện tái cấu trúc hệ thống thuế để thúc đẩy các mục tiêu môi trường một cách hiệu quả hơn. Phong trào cải cách thuế môi trường đã lan rộng rất nhanh tới các nước khác như Hà Lan, Anh, Đức, và hiện nay được cân nhắc một cách nghiêm túc ở các nước đang phát triển như Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Nam Phi, Thái Lan và Tunisia.Việt Nam đang trong quá trình tăng trưởng, phát triển nhanh để theo kịp các quốc gia tiên tiến nên việc sử dụng khối lượng lớn tài nguyên thiên nhiên là không thể tránh khỏi. Việt Nam cũng là thành viên của nhiều điều ước quốc tế về môi trường. Chính vì vậy, BVMT luôn được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Tuy nhiên, Đảng ta cũng chỉ rõ những hạn chế trong việc chưa nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của công tác BVMT, chưa biến nhận thức, trách nhiệm thành hành động cụ thể của từng cấp, từng ngành và từng người cho việc BVMT; chưa bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với BVMT, thường chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế mà ít quan tâm việc BVMT; nguồn lực đầu tư cho BVMT của Nhà nước, của các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư rất hạn chế; công tác quản lý nhà nước về môi trường còn nhiều yếu kém, phân công, phân cấp trách nhiệm chưa rõ ràng; việc thi hành pháp luật chưa nghiêm. Vì vậy, Đảng đã xác định các nhiệm vụ cụ thể, đẩy mạnh các giải pháp BVMT, trong đó tăng cường nguồn lực tài chính cho công tác BVMT là một nhiệm vụ quan trọng.Trước khi Luật Thuế BVMT năm 2010 được ban hành, chính sách tài chính trong lĩnh vực môi trường chủ yếu tập trung vào Quỹ BVMT, các loại phí BVMT. Tuy nhiên, hiệu quả và độ bao phủ của các công cụ này chưa cao. Việc thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, số phí thu được còn thấp. Một số thành phố lớn chưa thực hiện triệt để công tác thu phí. Một số địa phương chậm cấp phép sử dụng nguồn nước dẫn đến các Sở Tài nguyên và môi trường không có căn cứ để tính và thu phí BVMT đối với nước thải. Việc xác định các đối tượng gây ô nhiễm chưa đầy đủ, chưa bao quát hết các thành phần gây ô nhiễm. Phí BVMT đối với chất thải rắn hầu như chưa triển khai. Quota ô nhiễm chưa được áp dụng phổ biến do chưa có các hướng dẫn, quy định cụ thể. Chi trả dịch vụ hệ sinh thái chưa được triển khai rộng rãi. Ngoài ra, trước thời điểm ban hành Luật Thuế BVMT năm 2010, các sắc thuế có liên quan đến môi trường được quy định rải rác trong nhiều văn bản luật như: Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Nhìn chung, các sắc thuế trên không có mục tiêu chính là BVMT mà chỉ quy định những chính sách ưu đãi (hoặc chính sách không khuyến khích) nhất định đối với đối tượng chịu thuế thuộc diện thân thiện (hoặc không thân thiện) với môi trường. Sự manh mún của các quy định pháp luật về thuế liên quan đến môi trường (trước năm 2010) dẫn đến sự thiếu tầm bao quát của pháp luật thuế trong lĩnh vực này, số thu rất thấp nên nguồn tài chính đầu tư cho công tác BVMT còn hạn chế.Vì vậy, song song với việc ban hành Luật Thuế BVMT năm 2010, việc hoàn thiện Luật Thuế tài nguyên, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt theo hướng tăng cường chức năng BVMT, đang là hướng tiếp cận phù hợp xu hướng chung của thế giới, nâng cao vai trò của công cụ kinh tế trong lĩnh vực BVMT.1.1.2.  Định nghĩa thuế môi trườngMôi trường được hiểu là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Môi trường bao gồm hai hệ thống cơ bản:-  Hệ thống môi trường tự nhiên gồm các yếu tố được hình thành, tồn tại và phát triển theo các quy luật tự nhiên như: đất, nước, không khí, động thực vật, khí hậu, ánh sáng, địa hình, ...-  Hệ thống môi trường vật chất nhân tạo bao gồm các yếu tố do con người tạo ra như nhà cửa, đường xá, cầu cống, các cảnh quan kiến trúc, di tích lịch sử văn hóa, ... Tỉ lệ chi ngân sách cho môi trường năm 2010 chỉ đạt xấp xỉ 0,4% GDP. Trong khi đó, ở Trung Quốc và các nước ASEAN, đầu tư cho môi trường trung bình hàng năm là 1% GDP, ở các nước phát triển thường chiếm 2-3% GDP. So bình quân đầu người tỉ lệ chi môi trường từ nguồn ngân sách chỉ đạt 4,5 USD/người năm 2010. Tỉ lệ này thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các nước trên thế giới (chỉ bằng khoảng 5% so với mức trung bình). Xem: Bộ Tài nguyên và môi trường (2011), Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010: Tổng quan môi trường Việt Nam (Chương 9, tiểu mục 9.3.1)Thuế được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau. Cách tiếp cận cổ điển nhất về thuế, đó là “thuế là một khoản trích nộp bằng tiền do các cá nhân công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực, có tính chất bắt buộc và không có đối khoản để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng”. Mặc dù chưa thực sự hoàn hảo (do những biến đổi của xã hội), định nghĩa này vẫn được sử dụng rộng rãi vì đã nêu được những yếu tố cơ bản ngay từ thuở ban đầu tạo nên bản chất của thuế, nhất là tính chất bắt buộc.Thuật ngữ thuế môi trường được nhiều tài liệu gọi là thuế sinh thái (ecological tax) hay thuế xanh (green tax). Thuật ngữ này được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau và không có một định nghĩa chính xác duy nhất về thuế môi trường. Trên thế giới, có hai cách tiếp cận thông dụng về thuế môi trường.Thứ nhất, Cơ quan thống kê châu Âu (Eurostat) đã đưa ra một định nghĩa về thuế môi trường theo cách tiếp cận thống kê như sau: “Một loại thuế được xếp vào loại thuế môi trường nếu căn cứ tính thuế là một đơn vị vật chất (hoặc đại diện cho nó) của một vật gì đó đã được chứng minh sẽ gây ra một tác động có hại đặc biệt đến môi trường”. Theo định nghĩa này, có thể gộp tất cả các loại thuế năng lượng và giao thông vào thuế môi trường (nhưng không có thuế giá trị gia tăng)44. Cùng với Eurostat, OECD sử dụng thuật ngữ thuế liên quan đến môi trường (environmentally related taxes, viết tắt là ERT) và định nghĩa thuế liên quan đến môi trường là những khoản thanh toán bắt buộc, một chiều cho chính phủ, áp dụng trên cơ sở được cho là có liên quan cụ thể đến môi trường.Cùng quan điểm với OECD và Eurostat, Văn phòng thống kê Vương quốc Anh (the UK’s Office for National Statistics, viết tắt là ONS) cho rằng: thuế môi trường là loại thuế có căn cứ tính thuế dựa trên một đơn vị vật chất, hoặc đại diện cho nó, đã được chứng minh có tác động tiêu cực đến môi trường. Như vậy, định nghĩa thuế môi trường của ONS cũng tương tự như của Eurostat và OECD, đều dựa trên tác động của thuế đối với việc BVMT.Các nước OECD (và đa số các quốc gia khác) không ban hành một đạo luật riêng về thuế môi trường mà có những sắc thuế độc lập đối với từng loại chất gây ô nhiễm như: thuế carbon, thuế ôtô, thuế nhiên liệu, thuế điện, ... Trong pháp luật môi trường của OECD cũng không có sự phân biệt giữa thuế và phí, tất cả các khoản thu có tính chất bắt buộc áp dụng cho các chủ thể có khả năng tác động tiêu cực đến môi trường đều được gọi là environmental taxes.Còn theo cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam hiện nay, thuế và phí có sự khác biệt nhất định. Phí là khoản thu để bù đắp một phần hoặc toàn bộ các chi phí mà Nhà nước đã bỏ ra khi cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cho các chủ thể trong xã hội, trong khi đó, thuế không có tính đối giá và không đối khoản, tức là khoản thuế phải nộp không nhất thiết phải tương xứng với những lợi ích mà chủ thể nộp thuế được hưởng, và nguồn thu từ thuế cũng không cần dành cho một mục tiêu nhất định như đối với phí. Trong nhiều trường hợp, khoản thu phí môi trường đôi khi tỏ ra kém hiệu quả, do những chi phí xã hội bỏ ra để bù đắp những tổn hại môi trường (bao gồm những thiệt hại trực tiếp và gián tiếp) thường lớn hơn khoản phí mà các chủ thể tác động tiêu cực đến môi trường đã nộp. Không những thế, việc trả phí để tác động tiêu cực đến môi trường không khuyến khích các chủ thể này có cách xử sự tích cực hơn, mà ngược lại, họ cảm thấy có quyền tác động nhiều hơn sau khi chấp nhận đóng phí nhiều hơn.47 (Xem thêm Phụ lục 1 phân biệt thuế môi trường và phí môi trường).Bộ Tài chính Vương quốc Anh (HM Treasury) đưa ra cách tiếp cận thứ hai về thuế môi trường. Theo đó, các tiêu chí để xác định một sắc thuế có phải là thuế môi trường hay không, bao gồm: (i) Sắc thuế đó phải liên kết với những mục tiêu về môi trường của Chính phủ; (ii) Mục tiêu chủ yếu của sắc thuế đó là khuyến khích hành vi tích cực đối với môi trường; (iii) Sắc thuế phải được thiết kế liên quan đến các mục tiêu môi trường, ví dụ như hành vi gây ô nhiễm càng nhiều thì mức thuế càng cao. Năm loại thuế môi trường theo HM Treasury là thuế biến đổi khí hậu, thuế vật liệu trộn (Aggregate levy), thuế chôn rác, hệ thống chuyển nhượng quyền phát thải (the EUETS) và cam kết giảm phát thải carbon. Điều cần lưu ý là HM Treasury không xếp thuế nhiên liệu và thuế đối với hành khách các hãng hàng không vào thuế môi trường, trong khi ONS và các tổ chức quốc tế lại coi đó là các sắc thuế môi trường. Định nghĩa thuế xanh của HM Treasury cũng phụ thuộc nhiều vào cách thiết kế chính sách môi trường của Chính phủ, chưa dựa trên bản chất của sắc thuế.Ở Việt Nam, các nhà khoa học cũng có những quan điểm khác nhau về thuế môi trường. Tác giả Trần Vũ Hải (2009) định nghĩa thuế môi trường theo nghĩa rộng là toàn bộ các khoản thuế mà chủ thể nộp thuế phải đóng góp liên quan đến việc tác động đến môi trường thông qua hành vi của mình. Dưới giác độ này, thuế môi trường được hiểu là thuế liên quan đến môi trường, bao gồm các loại thuế như thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt (đối với các sản phẩm gây ô nhiễm như ô tô, thuốc lá), thuế thu nhập doanh nghiệp (ví dụ: sử dụng công nghệ sạch, khai thác tài nguyên quý hiếm), v.v. Theo nghĩa hẹp, thuế môi trường được hiểu là một loại thuế riêng biệt, được Quốc hội ban hành dưới hình thức Luật hoặc Pháp lệnh, điều chỉnh quan hệ thuế giữa Nhà nước và các chủ thể có hành vi tác động tiêu cực đến môi trường. Quan điểm này của tác giả Trần Vũ Hải được đưa ra trước khi ban hành Luật Thuế BVMT năm 2010 với mục đích đóng góp ý kiến cho quá trình xây dựng dự án Luật Thuế BVMT. Vì vậy, quan điểm này thiên về pháp luật thực định của Việt Nam nhiều hơn là khoa học pháp lý về thuế môi trường.Luật Thuế BVMT năm 2010 định nghĩa: Thuế BVMT là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường. Có thể thấy rằng luật thực định của nước ta đã đưa ra định nghĩa khá hẹp về thuế BVMT: sắc thuế này chỉ đánh vào quá trình sử dụng các hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, không đánh vào quá trình sản xuất hay quá trình xử lý khi hàng hóa trở thành chất thải. Nếu như thuế môi trường của đa số các quốc gia được coi là tập hợp của các sắc thuế có liên quan đến môi trường thì ở Việt Nam thuế môi trường là một sắc thuế độc lập, được ban hành dưới hình thức một đạo luật.Như vậy, tùy thuộc vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của từng công trình mà các học giả có những cách tiếp cận khác nhau đối với thuật ngữ thuế môi trường.Trong cuốn luận án này, thuế môi trường (hay còn gọi thuế xanh, thuế sinh thái) được hiểu là các sắc thuế có căn cứ tính thuế liên quan trực tiếp đến môi trường và có mục tiêu chính là BVMT.Với cách tiếp cận này, trong hệ thống thuế của Việt Nam, các sắc thuế được xếp vào loại thuế môi trường bao gồm: thuế tài nguyên ban hành theo Luật Thuế tài nguyên năm 2009, thuế BVMT ban hành theo Luật Thuế BVMT năm 2010 và thuế tiêu thụ đặc biệt ban hành theo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008. Các sắc thuế khác như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, ... không phải là thuế môi trường. Một số quy định của các sắc thuế này cũng có liên quan đến môi trường (ví dụ: dịch vụ duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên cây xanh; dịch vụ tang lễ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng51) nhưng đó chỉ là các quy định mang tính ngoại lệ, vấn đề BVMT chỉ được lồng ghép trong một số quy định pháp lý chứ chưa phải là mục tiêu chính của các sắc thuế này.Sở dĩ thuế tiêu thụ đặc biệt thuộc nhóm thuế môi trường là bởi: đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt thường là những hàng hóa, dịch vụ xa xỉ (như tàu bay, du thuyền, dịch vụ kinh doanh vũ trường,...) hoặc không phải là hàng hóa, dịch vụ thiết yếu (như vàng mã, bài lá, kinh doanh đặt cược,...) hoặc khi sử dụng gây ô nhiễm môi trường (như thuốc lá, xăng, dịch vụ kinh doanh golf,...) hoặc gây hại cho sức khỏe con người (như rượu, bia, kinh doanh trò chơi điện tử,...). Những hàng hóa, dịch vụ này không được khuyến khích tiêu dùng, vì vậy, các quốc gia thường áp mức thuế “đặc biệt” lên các sản phẩm này nhằm tăng cường quản lý, kiểm soát và hướng dẫn tiêu dùng. Ở khía cạnh này, thuế tiêu thụ đặc biệt còn được gọi là “thuế đánh vào tội lỗi” (tiếng Anh là sin taxes)52. Mức thuế suất đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt có sự phân hóa rõ nét, thể hiện “thái độ” rõ ràng của Nhà nước đối với các sản phẩm gây hại cho môi trường và sức khỏe con người, ví dụ: xe ôtô dưới 24 chỗ ngồi chạy bằng năng lượng sinh học có mức thuế suất bằng 50% mức thuế suất của xe ôtô cùng loại chạy bằng xăng thông thường.Có ý kiến cho rằng, thuế tài nguyên không phải là thuế môi trường vì thuế tài nguyên có một chức năng quan trọng: theo quy định của pháp luật Việt Nam, tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, do vậy việc khai thác tài nguyên do các tổ chức, cá nhân tiến hành cần phải nộp thuế như là một cách để chia sẻ phần lợi ích từ giá trị tài nguyên được khai thác cho các mục đích chi tiêu công cộng. Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyên có thể không ảnh hưởng nhiều đến môi trường nếu được tiến hành một cách khoa học, hợp lý. Căn cứ tính thuế tài nguyên được dựa vào giá trị tài nguyên được khai thác chứ không phải những tác động của hoạt động khai thác tài nguyên đến môi trường.Tuy nhiên, theo người viết, trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên ngày càng suy kiệt, thực trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở không ít các địa điểm khai thác tài nguyên thì cần phải xem xét lại quan điểm này. Điểm b Khoản 3 Điều 7 Luật Thuế tài nguyên năm 2009 quy định một trong những nguyên tắc để xác định thuế suất thuế tài nguyên là: góp phần quản lý nhà nước đối với tài nguyên; bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên. Qua điều luật này có thể thấy rằng, nhà làm luật đã có những thay đổi trong tư duy so với Pháp lệnh Thuế tài nguyên năm 1998, chưa hẳn đã đặt mục tiêu “chia sẻ lợi ích từ tài nguyên” lên trên mục tiêu môi trường. Thuế suất thuế tài nguyên quy định tại Luật Thuế tài nguyên năm 2009 đã được xây dựng trên cơ sở đảm bảo (coi trọng) vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên – nguồn tài sản quý giá của đất nước. Bên cạnh đó, cũng phải khẳng định rằng: thuế BVMT (ban hành theo Luật Thuế BVMT 2010) không thể thay thế thuế tài nguyên mặc dù có cùng mục tiêu bởi hai sắc thuế này có phạm vi điều chỉnh khác nhau.Các tổ chức quốc tế như OECD, Eurostat và đa số các quốc gia khác cũng đều phân loại thuế tài nguyên và thuế tiêu thụ đặc biệt vào nhóm thuế môi trường.55 Điều này thể hiện: nhận thức về vấn đề môi trường của các quốc gia ngày càng được nâng cao và các quốc gia đều có xu hướng bảo vệ, gìn giữ nguồn tài nguyên của đất nước mình.1.1.3.  Đặc điểm của thuế môi trườngThuế môi trường có những đặc điểm chung mang tính bản chất của thuế như: là một khoản trích nộp bằng tiền, một khoản đóng góp bắt buộc được nộp không có đối khoản trực tiếp, được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu công cộng. Bên cạnh đó, thuế môi trường còn có những đặc thù đúng như tên gọi của nó, đặc thù đầu tiên đó là mục tiêu BVMT. Đặc điểm này sẽ chi phối đến cách thiết kế thuế môi trường cũng như hầu hết các vấn đề khác liên quan đến thuế môi trường (ví dụ: sử dụng nguồn thu thuế). Điều đó có nghĩa là các quy định pháp lý về thuế môi trường cũng như việc triển khai thực hiện sắc thuế này đều phải hướng tới mục tiêu gìn giữ môi trường. Tất nhiên, ngoài mục tiêu trên, thuế môi trường cũng có những mục tiêu khác (như: tăng thu ngân sách, đảm bảo công bằng xã hội, ...) nhưng môi trường phải được xác định là mục tiêu chính yếu, quan trọng nhất. Mọi thiết kế thuế môi trường không đạt được mục tiêu chính này đều được xem như chưa hiệu quả.Trên thực tế, ở nhiều quốc gia, vì nguyên nhân mang tính chính trị và (hoặc) nguyên nhân kinh tế, mục tiêu BVMT của thuế xanh đôi khi chưa được đặt lên hàng đầu. Thụy Điển, một đất nước có hệ thống thuế môi trường được xem là phát triển, cũng không thể xem nhẹ mục tiêu tăng thu ngân sách của thuế môi trường. Mục tiêu này thậm chí còn được ưu tiên hơn cả mục tiêu hiệu quả về mặt môi trường. Các loại thuế môi trường không thể được chấp nhận về mặt chính trị nếu không đảm bảo ổn định nguồn thu cho ngân sách nhà nước.Thứ hai, đặc trưng tiếp theo của thuế môi trường là về đối tượng chịu thuế. Đối tượng chịu thuế môi trường là các dịch vụ, hàng hóa khi sử dụng gây ô nhiễm môi trường hoặc là hành vi xả thải các chất độc hại ra môi trường hoặc là hành vi khai thác các tài nguyên thiên nhiên gây ảnh hưởng đến môi trường.Đặc điểm trên của thuế môi trường cho phép phân biệt sắc thuế này với thuế tài sản, thuế thu nhập và thuế tiêu dùng. Thuế tài sản có đối tượng chịu thuế là một tài sản cụ thể do chủ thể nộp thuế là tổ chức, cá nhân sẽ hoặc đã xác lập quyền sở hữu đối với tài sản chịu thuế; thuế thu nhập đánh vào thu nhập của cá nhân, tổ chức nhằm điều tiết một phần thu nhập của các chủ thể này, đảm bảo công bằng xã hội; thuế tiêu dùng đánh vào phần thu nhập được đem ra tiêu dùng thông qua việc mua hàng hóa hay dịch vụ, do vậy thuế này còn gọi là thuế hàng hóa hay thuế bán hàng.57 Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xây dựng một hệ thống thuế đa dạng để bao quát các nguồn thu và tăng tính bổ trợ lẫn nhau giữa các sắc thuế.Cần phải nhấn mạnh rằng sự phân biệt trên chỉ mang tính tương đối. Thuế môi trường có thể được thiết kế với tính chất của thuế tiêu dùng khi đánh vào các hàng hóa, dịch vụ (có tác động xấu đến môi trường) được đem ra tiêu dùng (ví dụ: thuế BVMT ban hành theo Luật Thuế BVMT năm 2010 của Việt Nam), thuế môi trường cũng có thể mang dáng dấp của thuế thu nhập khi đánh trực tiếp vào túi tiền của người có hành vi gây ô nhiễm môi trường (ví dụ: thuế tắc nghẽn giao thông ở London, Vương quốc Anh).Thứ ba, một đặc điểm khác của thuế môi trường, đó là: sắc thuế này có thể là thuế trực thu hoặc thuế gián thu tùy theo ý chí của nhà làm luật. Thuế gián thu là loại thuế mà về lý thuyết, chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế không phải gánh chịu khoản thuế đã nộp (tức là chủ thể nộp thuế không thực sự mất một phần thu nhập vì khoản thuế này)58. Thuế trực thu là loại thuế mà chủ thể nộp thuế cũng đồng thời là chủ thể gánh chịu thuế (nghĩa là chủ thể nộp thuế sẽ mất một phần thu nhập của chính mình vì thuế)59. Nói một cách đơn giản hơn, sự phân biệt thuế trực thu và thuế gián thu phụ thuộc vào gánh nặng thuế có thực sự nhằm vào người nộp thuế hay không. Ví dụ: thuế BVMT được ban hành theo Luật Thuế BVMT năm 2010 của Việt Nam là thuế gián thu, khoản thuế này sẽ được tính vào giá bán hàng hóa nên mặc dù người nộp thuế là chủ thể sản xuất, kinh doanh nhưng người chịu thuế lại là người tiêu dùng60. Ngược lại, thuế tắc nghẽn giao thông ở London, Vương quốc Anh là thuế trực thu: người điều khiển phương tiện giao thông cá nhân vào thời gian từ 7 giờ sáng đến 6 giờ tối từ thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần phải nộp 11,5 bảng Anh mỗi ngày.Đa số các nước đang phát triển lựa chọn phương án thiết kế thuế xanh là thuế gián thu vì quản lý thuế gián thu đơn giản, ít tốn kém hơn quản lý thuế trực thu, tuy nhiên thuế trực thu sẽ đảm bảo công bằng hơn thuế gián thu.Thứ tư, đối với một số sắc thuế môi trường, việc xác định mức thuế đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn sâu về lĩnh vực môi trường và sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại. Chẳng hạn, để đo lường lượng chất thải độc hại (NOx, SO2, HCFC, ...) mà một nhà máy thải ra môi trường làm căn cứ tính thuế thì việc sử dụng các thiết bị quan trắc môi trường là không thể thiếu. Đặc điểm này của thuế môi trường đã buộc nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, lựa chọn cách thiết kế thuế môi trường đơn giản (ví dụ: quy định đối tượng chịu thuế chỉ là các hàng hóa có thể đo đếm được bằng các biện pháp thông thường). Cách làm này đem lại lợi ích là giản tiện trong công tác hành thu thuế, tiết kiệm chi phí quản lý nhưng không đảm bảo được tính toàn diện, tính công bằng của thuế môi trường, thậm chí cách làm này có thể dẫn đến việc đi ngược lại mục tiêu BVMT của sắc thuế này.Thứ năm, thuế môi trường có tính đa dạng cao và tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia mà mỗi nước xây dựng cho mình một hệ thống thuế môi trường mang những nét đặc trưng riêng. Hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển đều có hệ thống thuế môi trường tương đối chặt chẽ dưới nhiều hình thức khác nhau như thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm, thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm, thuế đánh vào người sử dụng sản phẩm gây ô nhiễm, v.v.62 Các nước OECD đã đặt ra 375 loại thuế môi trường và 250 loại phí, lệ phí môi trường. Việc đa dạng hóa các sắc thuế môi trường có tác dụng bao quát được nhiều đối tượng gây ô nhiễm, đồng thời tránh gây áp lực tâm lý cho người nộp thuế về gánh nặng thuế.1.1.4.  Phân loại thuế môi trườngCác sắc thuế môi trường rất đa dạng. Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, khoa học và công nghệ, dự báo số lượng các sắc thuế môi trường sẽ không ngừng tăng lên. Việc phân loại thuế môi trường cũng có nhiều cách khác nhau, song về cơ bản, có hai cách phân loại chính như sau:- Căn cứ vào lĩnh vực đánh thuế, thuế môi trường được phân loại thành:-  Thuế năng lượng: đánh vào các loại năng lượng sử dụng cho động cơ xe cộ hoặc dùng cho mục đích sưởi ấm và làm mát. Cách đánh thuế dựa trên cơ sở số lượng. Do vậy, tiền thuế phải nộp tương ứng với số lượng năng lượng được tiêu thụ nhân với thuế suất tuyệt đối trên một đơn vị số lượng. Số lượng hoặc trọng lượng của năng lượng bị đánh thuế là số lượng hoặc trọng lượng thực tế nhập khẩu hoặc tiêu thụ trong kỳ tính thuế.- Thuế giao thông: đánh vào đối tượng đăng ký sử dụng phương tiện giao thông. Đối tượng tính thuế là các phương tiện đi lại như ô tô, xe máy, xe tải… Cơ sở tính thuế dựa trên tiêu chí ảnh hưởng môi trường như tiêu chuẩn về chất thải. Nó có thể kết hợp với một chỉ tiêu truyền thống như trọng lượng hoặc thể tích (cm³).-  Thuế tài nguyên: là loại thuế thu vào hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên của tổ chức, cá nhân. Hành vi khai thác tài nguyên thiên nhiên là sự kiện pháp lý làm phát sinh thuế tài nguyên (không phải hành vi sử dụng tài nguyên thiên nhiên). Phần lớn đối tượng chịu thuế tài nguyên là tài nguyên khoáng sản, như:khoáng sản kim loại, khoáng sản không kim loại, dầu thô, khí than, khí thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên và nước khoáng.· Dựa vào đối tượng gây ô nhiễm, thuế môi trường bao gồm:-  Thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm: đánh vào các chất thải gây ô nhiễm môi trường nước (như BOD – nhu cầu ôxy sinh hóa, COD – nhu cầu ôxy hóa học, TSS – hàm lượng cặn lơ lửng, kim loại nặng…), khí quyển (như SO2, NOx, carbon, CFC…), đất (như rác thải, phân bón…), hoặc tiếng ồn (như máy bay và các loại động cơ…) ảnh hưởng tới môi trường xung quanh. Thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm được xác định trên cơ sở khối lượng và hàm lượng các chất gây ô nhiễm.- Thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm: được áp dụng đối với những loại sản phẩm gây tác hại tới môi trường một khi chúng được sử dụng trong các quá trình sản xuất, tiêu dùng hay hủy bỏ chúng. Ví dụ như các sản phẩm có chứa kim loại nặng, PVC (nhựa nhiệt dẻo), CFC, các nguyên liệu chứa carbon và sulphat…Thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm được xác định trên cơ sở khối lượng sản phẩm từng loại được tiêu thụ.-  Thuế đánh vào người sử dụng các sản phẩm gây ô nhiễm: thuế đánh vào người sử dụng phương tiện, máy móc xả khí độc ra môi trường, thuế đánh vào thuốc lá, thuế đánh vào việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, thuế đánh vào các đối tượng thải khí S02 hoặc BOD ra môi trường.Với hai cách phân loại trên đây, có thể thấy rằng hiện nay, Việt Nam mới chỉ có hai loại thuế môi trường, đó là thuế tài nguyên (ban hành theo Luật Thuế tài nguyên năm 2009) và thuế đánh vào người sử dụng các sản phẩm gây ô nhiễm (bao gồm thuế BVMT ban hành theo Luật Thuế BVMT năm 2010, thuế tiêu thụ đặc biệt ban hành theo Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2009). Để đánh vào nguồn gây ô nhiễm, nhà làm luật Việt Nam xây dựng hệ thống các phí, lệ phí và giá dịch vụ như: phí BVMT đối với nước thải, phí BVMT đối với khí thải, dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt, dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt, ...64 Như vậy, “dư địa” để tiếp tục nghiên cứu bổ sung thêm các loại thuế, phí môi trường ở nước ta còn khá lớn nhằm hoàn thiện hệ thống tài chính trong lĩnh vực BVMT. 1.1.5.  Vai trò của thuế môi trườngĐể quản lý và BVMT, những công cụ thường được sử dụng như: công cụ hành chính, hình sự, công cụ kinh tế, công cụ kỹ thuật và công cụ giáo dục truyền thông về môi trường. Mặc dù không có công cụ đơn lẻ nào có thể được coi là công cụ tốt nhất để giải quyết các thách thức về môi trường, nhưng các nước OECD đang có xu hướng ngày càng tăng trong việc sử dụng công cụ thuế liên quan đến môi trường. Điều này có thể được lý giải xuất phát từ ưu điểm của công cụ kinh tế, trong đó có công cụ thuế, đối với lĩnh vực BVMT. Các công cụ hành chính, hình sự mặc dù có khả năng kiềm chế tác động tiêu cực của các chủ thể đến môi trường nhưng không có khả năng bù đắp các chi phí mà xã hội đã phải bỏ ra để khắc phục những thiệt hại đối với môi trường. Ngoài ra, các công cụ hành chính chỉ đảm bảo việc tác động đến môi trường trong tiêu chuẩn cho phép mà không khuyến khích các chủ thể có những điều chỉnh về nhận thức và hành vi nhằm cải thiện tình hình (như đổi mới công nghệ thân thiện hơn với môi trường, hạn chế sử dụng các nguyên vật liệu gây ô nhiễm môi trường để sản xuất các sản phẩm sạch hơn, ...)66. Việc lạm dụng các công cụ tác động có tính chất công quyền, coi nhẹ các công cụ có tính chất kinh tế dễ dẫn đến thất bại trong BVMT ở Việt Nam67.Thực tiễn ở nhiều quốc gia cho thấy bên cạnh các công cụ hành chính, hình sự và các biện pháp tuyên truyền mang tính giáo dục, khuyến nghị, các công cụ kinh tế đang được sử dụng phổ biến bao gồm thuế môi trường, phí môi trường, quota ô nhiễm (hay còn gọi là giấy phép chuyển nhượng quyền được thải), hệ thống đặt cọc–  hoàn trả, Chi trả dịch vụ hệ sinh thái (Payments for Ecosystem Services, viết tắt là PES), nhãn môi trường.Đánh vào các đối tượng gây tác động xấu đến môi trường, về mặt lý luận, vai trò của thuế môi trường được thể hiện ở các khía cạnh sau: Một là, thuế môi trường góp phần tăng cường trách nhiệm, nâng cao nhận thức BVMT của tổ chức và cá nhân. Tác động tích cực này của thuế môi trường có thể được lý giải như sau:Hậu quả của ô nhiễm môi trường là những tác động tiêu cực tới sức khỏe cộng đồng, sản xuất nông nghiệp, gây ra những thiệt hại không nhỏ về kinh tế và ảnh hưởng xấu đến các hệ sinh thái tự nhiên. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), Việt Nam có thể phải chịu tổn thất do ô nhiễm môi trường lên đến 5,5% GDP mỗi năm. Theo kết quả nghiên cứu gần đây của Cục Y tế, Bộ Giao thông vận tải, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí đối với dân nội thành Hà Nội ước tính là 66,33 triệu USD/năm, đối với dân nội thành thành phố Hồ Chí Minh là 70,96 triệu USD/năm69. Tuy nhiên, môi trường thường lâm vào “bi kịch tài sản chung”70. Mặc dù hầu hết tài nguyên thiên nhiên là đối tượng trao đổi trên thị trường nhưng giá của những giao dịch này được xác định rất thấp, điều đó dẫn đến việc khai thác quá mức các tài nguyên này. Đối với một số sản phẩm môi trường, như không khí và tiếng ồn, thì không có thị trường và do đó không có giá cả. Chính vì vậy, cộng đồng và cá nhân thường xem các sản phẩm này là miễn phí để rồi “mạnh ai người ấy dùng”. Chất lượng không khí là tài nguyên chung được chia sẻ với các thế hệ tương lai và hiệu ứng nhà kính là hệ quả của việc đánh giá thấp những chi phí mà các thế hệ mai sau sẽ phải gánh chịu do hành vi của chúng ta hôm nay71. Xuất phát từ những đặc thù trên của môi trường, việc buộc các chủ thể phải tính đến yếu tố ngoại tác trước khi ra các quyết định là rất cần thiết nhằm nâng cao ý thức tiết kiệm khi khai thác môi trường.Để “sửa chữa” những tác động tiêu cực do sự hiện diện của ngoại tác gây ra, thuế môi trường sẽ nội hóa các chi phí ngoại tác vào giá thành sản phẩm hàng hóa khiến cho giá cả hàng hóa phản ánh đầy đủ hơn những chi phí mà xã hội phải bỏ ra để khắc phục ô nhiễm môi trường. Bằng cách này, nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” (the polluter pays principle, viết tắt là PPP) được thực hiện. Với thuế môi trường được cộng vào giá hàng hóa, các chủ thể gây ô nhiễm và các chủ thể liên đới phải chịu trách nhiệm về chi phí do hoạt động gây ô nhiễm của họ. Người tiêu dùng cũng sẽ phải cân nhắc khi lựa chọn các hàng hóa ít gây ô nhiễm môi trường với giá cao hơn ở mức hợp lý hoặc sử dụng tiết kiệm hơn các sản phẩm gây ô nhiễm. Thông qua đó, việc BVMT gắn kết chặt chẽ với quyền lợi của mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp.Hai là, thuế môi trường có tác động khuyến khích cải tiến, đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện hơn với môi trường. Xét về khía cạnh lý luận, thuế môi trường làm cho giá nhiên liệu tăng, từ đó sẽ thúc đẩy việc nghiên cứu tìm ra các nguồn năng lượng mới nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người. Điều đó có thể dẫn tới việc ra đời của các công nghệ, chu trình và sản phẩm mới. Ví dụ, Mỹ có thuế đánh vào HCFC đã giúp khuyến khích phát triển các sản phẩm hóa học thay thế và sau đó được xuất khẩu. Thuế của Thụy Điển đánh vào dầu diesel có sulfur đã giúp thúc đẩy phát triển các loại dầu mới, ít ô nhiễm hơn. Như vậy, thuế môi trường có thể giúp dịch chuyển nền kinh tế theo hướng sử dụng có hiệu quả hơn đối với các loại năng lượng và nguồn lực bằng việc tăng giá các sản phẩm tự nhiên. Thuế môi trường có tác động làm thay đổi cả quy mô và cơ cấu của sản xuất và tiêu dùng nếu biết sử dụng công cụ này một cách hiệu quả.Ba là, thuế môi trường góp phần tăng thu NSNN. Thuế BVMT được ban hành góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế Việt Nam theo hướng toàn diện, bao quát các hoạt động kinh tế - xã hội, đa dạng các sắc thuế, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Từ đó, tỉ lệ ngân quỹ được trích lập để chi cho công tác BVMT, thực hiện chính sách kinh tế - xã hội cũng tăng lên.Trước khi Luật Thuế BVMT năm 2010 được ban hành, các loại phí BVMT như phí xăng, dầu, phí BVMT đối chất thải rắn, phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản, phí BVMT đối với nước thải, … cũng góp phần huy động đóng góp tài chính của những đối tượng xả thải mà không tự mình xử lý chất thải, hỗ trợ thêm chi phí làm sạch môi trường. Tuy nhiên, nguồn thu từ phí còn rất hạn chế. Tổng thu các khoản phí BVMT năm 2008 là 1.224 tỷ đồng. Nếu tính cả số thu từ phí xăng dầu 9.000 tỷ đồng/năm thì tổng số thu là 10.224 tỷ đồng/năm. Hàng năm, Nhà nước dành 1% tổng chi ngân sách nhà nước (tương đương 4.000 tỷ đồng) để chi sự nghiệp BVMT. Trong khi nhu cầu tài chính cho BVMT rất lớn. Tính riêng nhu cầu cho các đề án tổng thể cải tạo môi trường và chương trình xử lý ô nhiễm ở các làng nghề, khu công nghiệp vào khoảng 17.678 tỷ đồng/năm. Nếu tính cả nhu cầu đầu tư xử lý chất thải sinh hoạt tại các khu vực dân cư tập trung, đầu tư phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản, trồng rừng và tái trồng rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học thì nhu cầu tài chính cho BVMT của Việt Nam hiện nay là rất lớn.Đối với các sắc thuế có liên quan đến môi trường (như thuế thu nhập doanh nghiệp, …), mục tiêu BVMT chỉ là mục tiêu lồng ghép chứ không phải là mục tiêu chính. Vì vậy, việc khuyến khích đầu tư sản xuất sản phẩm thân thiện môi trường, khuyến khích đầu tư vào các dự án làm sạch môi trường, không thu thuế nhập khẩu hoặc thu mức thuế suất thấp khi mua các sản phẩm, thiết bị liên quan đến hoạt động BVMT chỉ góp một phần nào đó vào mục tiêu BVMT chứ chưa tác động trực tiếp đến hành vi tiêu dùng và hoạt động sản xuất các sản phẩm gây tác động xấu đến môi trường.Thuế môi trường thu vào các sản phẩm, hàng hóa gây ô nhiễm môi trường sẽ góp phần khắc phục được những nhược điểm trên của hệ thống thuế hiện hành. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, các hiệp định thương mại tự do được ký kết, nhiều sắc thuế phải cắt giảm thuế suất, nhiều ưu đãi thuế quan được thực thi, thuế môi trường được kỳ vọng sẽ là giải pháp hữu hiệu đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân quỹ.Theo: Đặng Kim PhươngLink tài liệu : https://docs.google.com/document/d/1q-aent9cpfrvKBz4a6TD8qMIp5g6srw2/edit
Bài viết được xem nhiều nhất
Bài viết
(mới)Những mẫu bản kiểm điểm đảng viên dành cho cán bộ, giáo viên, sinh viên,.. luôn được bạn đọc chú ý. Đây là thời điểm để mọi người nhìn nhận lại những gì mình đã và chưa làm được. Qua đó cho mình thêm động lực để phấn đấu hơn nữa. Hãy cùng nhau theo dõi ngay trong bài viết mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân của Legalzone - hệ thống thủ tục pháp luậtMẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân Bản kiểm điểm Đảng viên sẽ gồm có các phần chính sau:Ưu điểm, kết quả đạt được về tư tưởng chính trị;Phẩm chất đạo đức, lối sống;Y thức tổ chức kỷ luật;Tác phong, lề lối làm việc;Về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao;Về việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm.Cụ thể: Hạn chế, khuyết điểm đảng viên về tư tưởng chính trị; phẩm chất đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc; về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.Hạn chế khuyết điểm đảng viên về việc thực hiện cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hằng năm và nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm.Kết quả khắc phục những ưu khuyết điểm của đảng viên đã được cấp có thẩm quyền kết luận hoặc được chỉ ra ở các kỳ kiểm điểm trước.Tại phần này cần kiểm điểm rõ:Từng ưu khuyết điểm đảng viên (đã được khắc phục; đang khắc phục, mức độ khắc phục; chưa được khắc phục)Những khó khăn, vướng mắc (nếu có)Trách nhiệm của cá nhân.Giải trình, nhận xét ưu khuyết điểm của đảng viên những vấn đề được gợi ý kiểm điểm (nếu có).Giải trình từng vấn đề được gợi ý kiểm điểm, nêu nguyên nhân.Xác định trách nhiệm của cá nhân đối với từng vấn đề được gợi ý kiểm điểm.Làm rõ trách nhiệm của cá nhân đối với những ưu điểm khuyết điểm của đảng viên (nếu có).Phương hướng, biện pháp khắc phục những ưu khuyết điểm của đảng viên. Tự nhận mức xếp loại chất lượng.Legalzone cung cấp cho bạn đọc 02 mẫu bản tự kiểm kiểm cá nhân tham khảo sau đây:Mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhânBẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂNHọ và tên: ………………… Sinh ngày: …………………………………Ngày vào Đảng: ……………… Chính thức ngày ………………………… Chức vụ Đảng: …………………………………………………………..Chức vụ chính quyền(đoàn thể): ………………………………………….Đơn vị công tác: ………………………………………………………Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: ………………………………………..I. Ưu điểm, kết quả công tác 1. Về tư tưởng chính trị– Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi luôn kiên định đối với đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.– Chấp hành nghiêm túc quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực để bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.– Luôn có ý thức tuyên truyền, vận động người thân, gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.– Xác định ý thức tích cực, tự giác tự học, tự nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác qua các lớp tập huấn, các lớp bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp…– Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng thực hiện cuộc vận động“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo” của bản thân.Trong quá trình công tác, bản thân luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.2. Về phẩm chất đạo đức, lối sống.– Bản thân tôi luôn có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu.- Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong ngành. Luôn có ý thức giữ gìn tư cách, đạo đức tính tiên phong của người đảng viên trong tác chuyên môn.- Không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và những điều Đảng viên không được làm theo quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị.– Bản thân tôi luôn thực hiện tự phê bình và phê bình trung thực và thẳng thắn, giữ gìn đoàn kết trong Đảng trên cơ sở cương lĩnh và điều lệ Đảng, phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động chỉ đạo chuyên môn và luôn luôn xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ.-  Trong cuộc sống thường ngày sinh hoạt với địa phương, tôi đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tin tưởng, tham gia tích cực mọi hoạt động ở nới cư trú.3. Về thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao:– Bản thân luôn thực hiện đúng qui chế chuyên môn, đảm bảo tính khoa học.– Làm việc có trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. – Luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.– Luôn phối kết hợp tốt với các đồng nghiệp, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. -Trong công tác xây dựng Đảng, đoàn thể tôi luôn có ý thức tuyên truyền, tham gia xây dựng chi bộ, các đoàn thể trong cơ quan trong sạch, vững mạnh.4. Về tổ chức kỷ luật:– Bản thân tôi luôn thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, chấp hành sự phân công điều động, luân chuyển của tổ chức.- Bản thân luôn vận động gia đình chấp hành nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các luật và nghị định của Nhà nước về phòng chống ma tuý, chống tiêu cực ……– Bản thân tôi luôn thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng và đóng đảng phí theo quy định.- Tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt chi bộ, quán triệt sâu sắc các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và ngành đề ra.– Tham gia đầy đủ các buổi hội họp, học nghị quyết do chi bộ và Đảng bộ tổ chức; đóng Đảng phí đầy đủ, kịp thời.– Thực hiện tốt quy chế, nội quy của tổ chức Đảng cũng như của cơ quan đơn vị, có tinh thần gương mẫu chấp hành và lãnh đạo thực hiện tốt quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú- Ý thức lắng nghe, tiếp thu và tự sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng.– Thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở; có tinh thần tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền.- Luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao; thái độ phục vụ nhân dân tốt; có ý thức đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, gây phiền hà nhân dân.II. Khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân– Chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy kết quả chưa cao– Đôi khi còn chưa linh hoạt, trong giải quyết công việc với đồng nghiệp, với học sinh– Tuy có ý thức trong công tác tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt nhưng vẫn còn chưa mạnh dạn.– Đôi lúc chưa chủ động trong tổ chức thực hiện một số hoạt động. Trong công việc đôi lúc còn chưa mạnh dạn, thẳng thắn góp ý cho đồng nghiệp– Chưa cương quyết trong xử lí vi phạm, làm việc còn mang tính cả nểIII. Phương hướng và biện pháp khắc phục, sửa chữa yếu kém– Tuyệt đối chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.- Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong Đảng và cơ quan.– Không ngừng tu dưỡng đạo đức, tự học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị,chuyên môn nghiệp vụ, mạnh dạn hơn nữa trong việc tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị được giao.– Tiếp tục đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, luôn có ý thức tự phê bình và phê bình, tránh tư tưởng nể nang, nâng cao vai trò tiên phong của người đảng viên.Biện pháp khắc phục:– Trong thời gian tới sẽ phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm trên để bản thân được hoàn thiện hơn.– Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những hành động và việc làm cụ thể trong thực hiện công việc và nhiệm vụ được giaoXem thêm: Thủ tục thành lập trung tâm ngoại ngữ tại Hà NộiLink dowload các biểu mẫu miễn phíBẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂNBẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁ NHÂN 2BẢN TỰ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ CÁN BỘTải ngay mẫu Bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân tại phần ảnh tại bài viết hoặc tại phần bình luận của bài viết bạn nhé IV. Tự nhận mức xếp loại chất lượng Đảng viên, cán bộ, công chức:Mức 2: Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.Người viết bản kiểm điểmMẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân số 2ĐẢNG BỘ Xà.......CHI BỘ TRƯỜNG .........***ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ........, ngày...tháng...năm 2019BẢN KIỂM ĐIỂM CÁ NHÂNHọ và tên: ............. .............. Sinh ngày: ........... ................ ........... ............Ngày vào Đảng: ............... .............. Chính thức ngày .............. .............. Chức vụ Đảng: ........... ............ ............... .............. ................ ................. Chức vụ chính quyền(đoàn thể): .............. ................. .................. ............ Đơn vị công tác: ............ ............... ................ ................... ................. Hiện đang sinh hoạt tại chi bộ: .................... .................... .................... Ưu điểm, kết quả công tácVề tư tưởng chính trị- Là một Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, tôi luôn kiên định đối với đường lối của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.- Chấp hành nghiêm túc quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực để bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.- Luôn có ý thức tuyên truyền, vận động người thân, gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.- Xác định ý thức tích cực, tự giác tự học, tự nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác qua các lớp tập huấn, các lớp bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu, tham khảo đồng nghiệp...- Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch nghiên cứu, học tập, phấn đấu, rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", cuộc vận động "Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương về đạo đức, tự học và sáng tạo" của bản thân. Trong quá trình công tác, bản thân luôn nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.Về phẩm chất đạo đức, lối sống.- Bản thân tôi luôn có ý thức thực hành tiết kiệm, đấu tranh phòng, chống lãng phí, tham nhũng, quan liêu.Đồng thời kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác trong ngành.Luôn có ý thức giữ gìn tư cách, đạo đức tính tiên phong của người đảng viên trong tác chuyên môn.Không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên và những điều Đảng viên không được làm theo quy định số 19-QĐ/TW ngày 03/01/2002 của Bộ Chính trị.- Bản thân tôi luôn thực hiện tự phê bình và phê bình trung thực và thẳng thắn, giữ gìn đoàn kết trong Đảng trên cơ sở cương lĩnh và điều lệ Đảng, phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động chỉ đạo chuyên môn và luôn luôn xây dựng tốt khối đoàn kết nội bộ. Trong cuộc sống thường ngày sinh hoạt với địa phương, tôi đã thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, được nhân dân nơi cư trú tin tưởng, tham gia tích cực mọi hoạt động ở nới cư trú.Về thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao:- Bản thân luôn thực hiện đúng qui chế chuyên môn, đảm bảo tính khoa học.- Làm việc có trách nhiệm cao, cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao- Luôn có tinh thần tìm tòi, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.- Luôn phối kết hợp tốt với các đồng nghiệp, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao-Trong công tác xây dựng Đảng, đoàn thể tôi luôn có ý thức tuyên truyền, tham gia xây dựng chi bộ, các đoàn thể trong cơ quan trong sạch, vững mạnh.>>Tham khảo bài viết: Bộ luật Dân sự 2015: Điểm nổi bật và ý nghĩa trong bối cảnh pháp luật hiện đạiVề tổ chức kỷ luật:- Bản thân tôi luôn thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, có ý thức tổ chức kỉ luật cao, chấp hành sự phân công điều động, luân chuyển của tổ chức. Bản thân luôn vận động gia đình chấp hành nghiêm túc chỉ thị, nghị quyết của Đảng, các luật và nghị định của Nhà nước về phòng chống ma tuý, chống tiêu cực ......- Tham gia đầy đủ các buổi hội họp, học nghị quyết do chi bộ và Đảng bộ tổ chức; đóng Đảng phí đầy đủ, kịp thời.- Thực hiện tốt quy chế, nội quy của tổ chức Đảng cũng như của cơ quan đơn vị, có tinh thần gương mẫu chấp hành và lãnh đạo thực hiện tốt quy chế, quy định, nội quy của cơ quan, đơn vị và nơi cư trú; ý thức lắng nghe, tiếp thu và tự sửa chữa khuyết điểm sau tự phê bình và phê bình, thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng.- Luôn có thái độ cầu thị trong việc nhận và sửa chữa khắc phục khuyết điểm.- Thường xuyên giữ mối liên hệ với chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở; có tinh thần tham gia xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền.- Luôn có trách nhiệm cao với công việc được giao; thái độ phục vụ nhân dân tốt; có ý thức đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, hách dịch, gây phiền hà nhân dân.Khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân- Chỉ đạo hoạt động chuyên môn của nhà trường và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy kết quả chưa cao. - Chưa dành thời gian thích hợp để nghiên cứu, tìm hiểu sâu về Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết, quy định của Đảng; pháp luật, chính sách của Nhà nước.- Trách nhiệm cá nhân trong việc phối kết hợp với các đoàn thể khác trong trường có lúc chưa đạt hiệu quả cao nhất.- Đôi lúc chưa chủ động trong tổ chức thực hiện một số hoạt động. Trong công việc đôi lúc còn chưa mạnh dạn, thẳng thắn góp ý cho đồng nghiệp- Chưa cương quyết trong xử lí vi phạm, làm việc còn nể nang tình cảm trong công tác phê bình và tự phê bình.III. Phương hướng và biện pháp khắc phục, sửa chữa yếu kém- Tuyệt đối chấp hành các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.- Thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ trong Đảng và cơ quan.- Không ngừng tu dưỡng đạo đức, tự học tập để nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ- Mạnh dạn hơn nữa trong việc tham mưu đề xuất các giải pháp nhằm làm tốt hơn công tác quản lý, nhiệm vụ chính trị được giao.- Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống- Luôn có ý thức tự phê bình và phê bình, nâng cao vai trò tiên phong của người đảng viên.Biện pháp khắc phục:- Trong thời gian tới sẽ phát huy những ưu điểm, khắc phục những khuyết điểm trên để bản thân được hoàn thiện hơn.- Tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh bằng những hành động và việc làm cụ thể trong thực hiện công việc và nhiệm vụ được giao. Tự nhận mức xếp loại chất lượng Đảng viên, cán bộ, công chức:Mức 2: Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.     NGƯỜI TỰ KIỂM ĐIỂM(Ký, ghi họ tên) ĐÁNH GIÁ PHÂN LOẠI CHẤT LƯỢNG ĐẢNG VIÊNNhận xét, đánh giá của chi ủy:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ...............Chi bộ phân loại chất lượng:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ..........................., ngày...tháng...năm....T.M CHI ỦYBí thưĐảng ủy (chi ủy cơ sở) phân loại chất lượng:........... ............ ............. ................ .............. .................. ................ ................................., ngày...tháng...năm...     T.M ĐẢNG ỦYTrên đây là một số thông tin về mẫu bản tự nhận xét ưu khuyết điểm cá nhân bạn đọc tham khảo. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ. Hoặc bạn có thể tra cứu các thủ tục qua trang Thủ tục pháp luật của chúng tôi. 
Bài viết
[MỚI]Địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệpTừ 2021, tên địa điểm kinh doanh phải bao gồm cả tên doanh nghiệp. Đây là nội dung mới được Quốc hội đề cập đến tại Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14. Quy định mới về tên địa điểm kinh doanhCụ thể, Điều 40 Luật Doanh nghiệp 2020 nêu rõ:Tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh phải bao gồm tên doanh nghiệp kèm theo cụm từ “Chi nhánh” đối với chi nhánh, cụm từ “Văn phòng đại diện” đối với văn phòng đại diện, cụm từ “Địa điểm kinh doanh” đối với địa điểm kinh doanh.Hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không yêu cầu với địa điểm kinh doanh mà chỉ quy định tên chi nhánh, văn phòng đại diện phải mang tên doanh nghiệp kèm cụm từ “chi nhánh” với chi nhánh, cụm từ “văn phòng đại diện” với văn phòng đại diện.  Quy định mới về tên địa điểm kinh doanhNgoài ra, Điều 41 Luật 2020 cũng có quy định cụ thể với tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh gồm:– Phải được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và các ký hiệu;– Phải được viết hoặc gắn tại trụ sở chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh. Trong đó, tên chi nhánh, văn phòng đại diện được in hoặc viết với khổ chữ nhỏ hơn tên tiếng Việt của doanh nghiệp trên các giấy tờ giao dịch, hồ sơ tài liệu… do chi nhánh, văn phòng đại diện phát hành.Hồ sơ thành lập địa điểm kinh doanh* Thành phần hồ sơTheo Quyết định 1523/QĐ-BKHĐT, hồ sơ thành lập địa điểm kinh doanh bao gồm:– Thông báo lập địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp theo mẫu tại Phụ lục II-11 Nghị định 122/2020/NĐ-CP.– Đối với các doanh nghiệp đang hoạt động theo Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc các giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương chưa thực hiện bổ sung, cập nhật thông tin đăng ký doanh nghiệp để được cấp đăng ký doanh nghiệp thay thế nội dung đăng ký kinh doanh trong Giấp phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư hoặc giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương thì ngoài các giấy tờ nêu trên, doanh nghiệp phải nộp kèm theo:+ Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đầu tư;+ Bản sao hợp lệ Giấy chứng nhận đăng ký thuế;+ Giấy đề nghị bổ sung, cập nhật thông tin đăng ký hoạt động đối với địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động theo giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.Lưu ý: Trường hợp không phải Chủ sở hữu hoặc Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trực tiếp đến nộp hồ sơ: người được ủy quyền phải nộp văn bản uỷ quyền kèm bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân:– Đối với công dân Việt Nam: Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu Việt Nam còn hiệu lực.– Đối với người nước ngoài: Hộ chiếu nước ngoài hoặc giấy tờ có giá trị thay thế còn hiệu lực.* Số lượng hồ sơ: 01 bộTrình tự thủ tục lập địa điểm kinh doanhBước 1: Nộp hồ sơCó 02 cách thức để nộp hồ sơ, cụ thể:Cách 1: Nộp hồ sơ trực tiếp tại bộ phận một cửa Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt địa điểm kinh doanh hoặc chi nhánh.Cách 2: Đăng ký qua mạng tại Cổng thông tin Quốc gia về đăng ký doanh nghiệp bằng chữ ký số công cộng hoặc sử dụng tài khoản đăng ký kinh doanh . Đối với Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh phải đăng ký qua mạng.Bước 2: Tiếp nhận và giải quyết hồ sơBước 3: Nhận kết quả* Thời hạn giải quyết: 03 ngày làm việc* Lệ phí giải quyết:– 50.000 đồng/lần đối với hồ sơ nộp trực tiếp tại bộ phận một cửa Phòng Đăng ký kinh doanh.– Miễn lệ phí đối với hồ sơ đăng ký qua mạng điện tử.Trên đây là bài viết tham khảo về một số quy định mới về hộ kinh doanh từ năm 2021. Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn và hỗ trợ.
Bài viết
Trong bối cảnh tài chính cá nhân ngày càng phổ biến, các tổ chức tín dụng chơi một vai trò quan trọng trong việc cung cấp tiền mặt và dịch vụ tài chính cho người dân. Trong số những tổ chức này, FE Credit là một cái tên được nhiều người biết đến, đặc biệt trong lĩnh vực đòi nợ. Họ thực hiện một loạt biện pháp để đảm bảo khách hàng tuân thủ thỏa thuận và trả nợ đúng hạn. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu cách FE Credit thực hiện quy trình đòi nợ và những điều quy định liên quan.1. Fe credit được hiểu là gì?Fe Credit bắt đầu hoạt động vào năm 2015 sau khi trước đó là một phần của VPBank, một trong những Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng. Tuy nhiên, từ năm 2015 trở đi, FE Credit đã hoạt động độc lập dưới tư cách là Công ty TNHH Tài chính FE Credit.Kể từ đó, FE Credit đã phục vụ hơn 10 triệu người dân thông qua mạng lưới gồm hơn 13,000 điểm bán hàng và hơn 17,500 nhân viên, cùng với hơn 9,000 đối tác. Chủ yếu, FE Credit chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính tiêu dùng như vay tiền mặt, thẻ tín dụng, vay mua xe máy và vay mua điện thoại di động.Chúng ta đã quen thuộc với FE Credit qua các chương trình mua sắm trả góp 0% tại các đại lý bán hàng điện máy và xe hơi trên toàn quốc. Đây là một phương thức nhanh chóng và tiện lợi để đáp ứng nhu cầu vay tiền của những người cần tài chính gấp.2. Fe credit đòi nợ hiện nay như thế nào?Để thu hồi khoản nợ từ những người vay tiền không tuân thủ hoặc cố ý không trả nợ, nhân viên đội ngũ đòi nợ của FE Credit thực hiện các phương thức sau:Nhắn tin đòi nợ: Đây là một trong những phương thức phổ biến để đòi nợ. Ban đầu, tin nhắn từ nhân viên đòi nợ sẽ mang tính nhẹ nhàng và lịch sự, nhưng nếu không nhận được phản hồi hoặc thanh toán, tin nhắn sẽ trở nên cứng rắn. Ban đầu, sẽ có nhắn tin qua điện thoại.Liên hệ qua mạng xã hội: Trong trường hợp người vay không phản hồi tin nhắn hoặc cuộc gọi, bộ phận đòi nợ có thể thực hiện liên hệ thông qua mạng xã hội.Cuộc gọi điện thoại đòi nợ: FE Credit sử dụng nhiều số điện thoại khác nhau, do đó, khó nhận biết cuộc gọi từ họ. Một số người có thể cố gắng chặn cuộc gọi từ FE, nhưng không thể chặn được tất cả.Tăng cường áp lực: Nếu người vay tiếp tục không trả tiền, nhân viên đòi nợ sẽ tăng cường áp lực theo từng cấp độ. FE Credit có thể thậm chí đưa vụ việc ra tòa án nếu người vay không hợp tác.Liên quan đến người thân: Khách hàng sẽ cung cấp danh sách bạn bè và người thân cho FE Credit, bao gồm tên, số điện thoại và tài khoản mạng xã hội, để FE Credit nhắc nhở người vay trả nợ. Đây là một hình thức đòi nợ khiến cho cả người vay và người thân cảm thấy không thoải mái, vì nó tiết lộ thông tin cá nhân về tình trạng nợ của người vay.Vậy nếu bạn không trả hoặc cố ý không trả nợ, FE Credit sẽ thực hiện các biện pháp đòi nợ như nhắn tin, cuộc gọi điện thoại, và thậm chí làm phiền người thân. Mức độ của các biện pháp này sẽ phụ thuộc vào mức độ hợp tác của người vay.3. Quy trình fe credit đòi nợ như thế nào? Quy trình đòi nợ của FE Credit tuân theo một chuỗi bước như sau:Nhắc nhở trước hạn: Trước khi hạn trả nợ hoặc kỳ trả góp đến gần, nhân viên của FE Credit sẽ liên hệ với khách hàng. Họ sẽ thông báo địa điểm và ngày tháng thanh toán nếu khách hàng phản hồi.Liên tục nhắc nhở: Nếu khách hàng không tuân thủ thời hạn trả nợ, nhân viên sẽ tiếp tục gọi điện thoại và nhắn tin nhắc nhở. Nếu khách hàng không phản hồi hoặc ngắt kết nối, FE Credit sẽ tăng cường áp lực thông qua các cuộc gọi từ những người khác với mức độ đòi nợ tăng dần.Đòi nợ qua mạng xã hội: FE Credit sẽ tiếp tục đòi nợ trên các mạng xã hội như Facebook và Zalo nếu cuộc gọi điện thoại không đạt được. Các thông điệp có thể trở nên khó chịu và đe dọa kiện ra tòa.Liên hệ với bạn bè hoặc người thân: Trong một nỗ lực cuối cùng, FE Credit có thể liên hệ với danh sách bạn bè hoặc người thân được cung cấp bởi khách hàng. Tuy nhiên, phương pháp này thường gây xung đột và mất mát mối quan hệ.Gửi giấy báo nợ: Nếu không có sự hợp tác từ khách hàng, FE Credit sẽ gửi giấy báo nợ đến địa chỉ được ghi trong hợp đồng vay.Tố tụng tại tòa: Trong những trường hợp với số nợ lớn, FE Credit có thể đưa vụ việc ra tòa để giải quyết và đòi nợ một cách hợp pháp.Vậy, quy trình đòi nợ sẽ tăng dần theo mức độ trì hoãn trả nợ của người vay, và FE Credit sẽ áp dụng biện pháp đòi nợ tương ứng cho đến khi nợ được thanh toán hoàn toàn.4. Fe Credit đòi nợ làm phiền liên tục cần phải làm gì?Theo quy định tại Khoản 7 Điều 1 Thông tư 18/2019/TT-NHNN, các biện pháp đôn đốc và thu hồi nợ phải tuân theo nguyên tắc phù hợp với đặc thù của khách hàng, các quy định của pháp luật, và chỉ có thể được áp dụng sau khi có yêu cầu từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bảo mật thông tin của khách hàng phải được tuân theo quy định của pháp luật. Do đó, không được áp dụng các biện pháp như sau:Đe dọa khách hàng: Không được sử dụng các biện pháp đe dọa đối với khách hàng, trong đó số lần nhắc nợ tối đa là 05 lần trong một ngày, nhưng phải tuân theo khoảng thời gian từ 7 giờ sáng đến 21 giờ tối.Thu hồi nợ đối với tổ chức, cá nhân không có nghĩa vụ trả nợ: Không được áp dụng các biện pháp đòi nợ, gửi thông tin về việc thu hồi nợ của khách hàng đối với tổ chức hoặc cá nhân không có nghĩa vụ trả nợ.Căn cứ vào quy định tại Điểm g Khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP, việc sử dụng thông tin số để đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, hoặc vu khống uy tín của người khác có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.Vậy nếu trong trường hợp FE Credit đòi nợ nhiều lần mà không có nghĩa vụ trả nợ từ phía khách hàng hoặc không có quan hệ gì với người vay, người bị làm phiền có thể liên hệ với doanh nghiệp viễn thông mà họ là khách hàng hoặc gửi đơn khiếu nại cho Sở Thông tin và Truyền thông địa phương để yêu cầu giải quyết.Kết luận:FE Credit là một trong những tổ chức tài chính quan trọng tại Việt Nam, và việc họ đòi nợ là một phần quan trọng của hoạt động kinh doanh của họ. Tuy nhiên, quá trình đòi nợ phải tuân theo quy định của pháp luật và phải được thực hiện một cách công bằng và đúng luật. Khách hàng cũng cần hiểu rằng trách nhiệm trong việc trả nợ là rất quan trọng, và việc hợp tác với FE Credit có thể giúp tránh được những tình huống không mong muốn. 
Bài viết
KHỦNG HOẢNG TRUYỀN THÔNG - ẢNH HƯỞNG – BÀI HỌC XỬ LÝ  KHỦNG HOẢNG Khủng hoảng truyền thông có thể xảy ra với các thương hiệu bất kỳ lúc nào nhất là trong thời đại mạng xã hội đang bùng nổ. Việc kiểm soát khủng hoảng cho các thương hiệu cần có những chiến lược xử lý và phương pháp giải quyết nhanh chóng. Đặc biệt để lấy lại niềm tin của khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải có động thái rõ ràng và tích cực. Bởi vậy, khủng hoảng truyền thông luôn là “bóng đen” đối với các doanh nghiệp. Vậy khủng khoảng truyền thông là gì? Nó được hình thành như thế nào ? Có ảnh hưởng ra sao ?Bài viết dưới đây là một nghiên cứu bao gồm các ví dụ cụ thể, file dowload tình huống tại cuối bài, phân tích và giải pháp chi tiết về Khủng hoảng truyền thôngKhủng hoảng truyền thông là gì?Khủng hoảng truyền thông là cụm từ tiếng Việt được dịch ra từ chữ crisis. Định nghĩa chung, khủng hoảng truyền thông là những sự kiện xảy ra ngoài tầm kiểm soát của công ty khi có thông tin bất lợi về công ty hay sản phẩm. Sự bất lợi này đe dọa đến việc tiêu thụ sản phẩm hoặc làm giảm uy tín của công ty.Theo định nghĩa giáo khoa, “khủng hoảng truyền thông là bất kỳ một sự kiện ngoài ý muốn nào mang mối đe dọa nghiêm trọng đến uy tín của công ty hoặc niềm tin của các bên liên quan. Sự kiện có thể là một hành động vi phạm lòng tin, một sự thay đổi trong môi trường cạnh tranh, cáo buộc bởi các nhân viên hoặc những người khác, một nghị định đột ngột của chính phủ, lỗ hổng trong sản phẩm, hoặc bất kỳ tác động tiêu cực nào khác” hay nói một cách đơn giản, “khủng hoảng là bất kỳ một sự kiện nào có khả năng ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của công ty đối với công chúng của nó”.Ba yếu tố chung cho một cuộc khủng hoảng: Mối đe dọa đối với tổ chứcYếu tố bất ngờThời gian quyết định ngắnVenette  lập luận rằng “khủng hoảng là một quá trình biến đổi trong đó hệ thống cũ không còn có thể được duy trì”. Do đó, yếu tố thứ tư của khủng hoảng là sự cần thiết phải thay đổi. Nếu không cần thay đổi, sự kiện có thể được mô tả chính xác hơn là sự cố hoặc sự cố.Các loại khủng hoảng truyền thôngBất kỳ một sự việc nào cũng có mối quan hệ biện chứng giữa “nguyên nhân – kết quả”. Đúng vậy, các cuộc khủng hoảng truyền thông không tự nhiên sinh ra mà nó có thể xuất phát từ các xung đột chính, cơ bản như:Xung đột lợi ích: Một nhóm các cá nhân hoặc nhóm có mâu thuẫn với các tập đoàn về những lợi ích nhất định từ đó dẫn đến các hoạt động chống phá để mang lợi ích về phe mình. Các hoạt động chủ yếu của xung đột này là tẩy chay. Xung đột này, trên thị trường khốc liệt hiện nay thì thường xuyên xảy ra.Cạnh tranh không công bằng: Công ty hoặc tổ chức đối thủ có các động thái vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nhằm chống phá, bôi nhọ, hạ nhục danh tiếng của công ty kia. Tuy các hoạt động này đã được giới hạn nhưng vẫn còn đó mà cụ thể là hành động bắt nạt trên mạng.“Một con sâu làm rầu nồi canh”: Một cá nhân đại diện trong công ty, tổ chức có hành vi phạm tội, gây rúng động trong cộng đồng, khiến cộng đồng mất niềm tin và quay lưng với tổ chức. Trường hợp này cũng rất hay xảy ra ví dụ như vụ việc của Agribank.Khủng hoảng liên đới: Đối tác của công ty mình bị vướng vào vòng lao lý, từ đấy có một số tin đồn thất thiệt trên mạng xã hội nhắm vào làm bôi nhọ danh tiếng công ty khi đánh đồng công ty với những việc làm sai trái của đối tác.Khủng hoảng tự sinh: Các hoạt động truyền thông, sản phẩm hay dịch vụ vô tình có những lỗi hoặc phốt dẫn đến sự bất bình và lan truyền rộng rãi. Đây là lý do thường xuyên và phổ biến trong các doanh nghiệp. Ví dụ: vụ chai nước có ruồi của công ty Tân Hiệp Phát.Khủng hoảng chồng khủng hoảng: Là khi công ty, tổ chức xử lý truyền thông không khéo, không có thái độ thành khẩn sửa chữa lỗi lầm dẫn đến sự phẫn nộ sâu sắc hơn từ cộng đồng. Khủng hoảng này thường xảy ra khi công ty không có một chiến lược giải quyết khủng hoảng quy củ, cẩn thận.Và kết quả của những loại xung đột cộng thêm nhiều gia vị của truyền thông đã tạo nên những cuộc khủng hoảng truyền thông. Khủng hoảng truyền thông vừa là cơ hội, cũng vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp. Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng, tính chất của cuộc khủng hoảng, có thể chia thành các loại khủng hoảng truyền thông như sau:Khủng hoảng âm ỉLà những khủng hoảng hay vấn đề một nhóm người đã có với công ty, tổ chức nhưng những vấn đề này quá nhỏ hoặc nó chưa đủ sức lan truyền rộng ra cộng đồng. Nhưng càng về lâu về dài, những vấn đề lớn dần và phát sinh khủng hoảng rộng lớn. Khi khủng hoảng phát sinh, doanh nghiệp rất khó giải quyết vì sự chậm trễ trong thay đổi không mang lại giá trị tích cực đến khách hàng. Khi phát sinh các nguy cơ âm ỉ, doanh nghiệp nên có sự đánh giá suy xét từ đó chặn đứng các nguy cơ có thể có.Khủng hoảng bất chợtLà những khủng hoảng bất chợt xuất hiện mà không có cảnh báo hay dự đoán như một chai nước bị kém chất lượng hay nhân viên phạm tội, những khủng hoảng này lỗi không hoàn toàn do công ty và cách giải quyết nên là thành thật xin lỗi, giải quyết hậu quả bằng tất cả khả năng.Khủng hoảng đa kênhKhủng hoảng đa kênh (Omni-channel) chứa nhiều khả năng gây hại nhất vì nó thu hút sự chú ý của nhiều kênh truyền thông. Nếu một thương hiệu đang đối phó với một tình huống cực đoan, chẳng hạn như cáo buộc quấy rối nơi làm việc, thu hồi sản phẩm hoặc các hành vi không phù hợp tại công ty, thì nó có thể phải đón nhận phản hồi tiêu cực trên phương tiện truyền thông xã hội và trên các phương tiện truyền thông truyền thống.Chuẩn bị đối phó bằng cách có một kế hoạch quản lý khủng hoảng mạnh mẽ thường xuyên được áp dụng và cập nhật. Trong những tình huống như thế này, một phản ứng nhanh chóng và xác thực có thể tạo ra sự khác biệt lớn. Đảm bảo rằng tất cả các tin nhắn được đăng không chỉ trên trang web của công ty mà còn trên bất kỳ kênh xã hội nào đang nhận được phản hồi tiêu cực. Và mặc dù tính nhất quán trong thông điệp của công ty là chìa khóa, từ ngữ nên được chau chuốt để thể hiện thái độ chân thành.Với các mức độ, phương thức khủng hoảng khác nhau như vậy, thì liệu khủng hoảng truyền thông  tất cả đều là xấu, hay nó chính là một bàn đạp thể hiện sự đẳng cấp, khốn khéo của con người và là cơ hội cho các doanh nghiệp chuyển mình, vươn lên?Ảnh hưởng của khủng hoảng truyền thôngNền kinh tế phát triển càng năng động, quyền con người được đề cao, sức mạnh truyền thông ngày càng lớn, tất cả đều có 2 mặt: tích cực và tiêu cực.  Khủng hoảng truyền thông là bất kì một chuyện xấu gì xảy đến với doanh nghiệp hoặc tổ chức được lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội truyền thông, làm ảnh hưởng đến danh tiếng từ đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động, kinh doanh của các đối tượng bị khủng hoảng tác động đến.Khủng hoảng truyền thông thường kéo theo các cảm xúc tiêu cực không cần thiết mà hệ quả mang lại rất nặng nề:Làm lu mờ phán đoán chính xác.Tổn hại đến các đối tác của tổ chức bị khủng hoảng.Có tính lan truyền cao.Tính chính trực và danh tiếng của công ty cũng sẽ bị ảnh hưởng rõ nét phụ thuộc vào hành động của họ. Việc giải quyết kịp thời các khủng hoảng truyền thông là một bài toán khó của mọi ban ngành tổ chức. Khi gặp phải khủng hoảng, các cấp lãnh đạo, phòng ban nên có sự đối thoại nhanh chóng, rõ ràng để từ đó có thể giải quyết hiệu quả khủng hoảng, đặc biệt là khủng hoảng truyền thông xã hội. Các ngành nghề dễ bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng có thể kể đến thương mại điện tử, mạng xã hội, ngành thời trang,..Ví dụ, Những năm vừa qua, đã không ít các thương hiệu thiết sót trong việc xử lý khủng hoảng truyền thông. Như sự việc đáng tiếc của hãng Boeing để xảy ra hai vụ tai nạn nghiêm trọng đối với máy bay 737 Max 8 mới của mình, hãng phải chấp nhận mất doanh thu và thu nhập trên mỗi cổ phần đã giảm hơn 40% so với năm 2018. Hay trường hợp của Taco Bell xử trí khi nhân viên làm ảnh hưởng xấu đến thương hiệu trên Facebook…Khủng hoảng truyền thông là điều mà mọi doanh nghiệp đều không muốn xảy ra. Trong việc xử lý khủng hoảng, sẽ không có một quy trình chuẩn nào cả. Vì trong quá trình diễn ra khủng hoảng, sự việc biến đổi không ngừng. Nên cái doanh nghiệp cần chính là sự chuẩn bị. Và áp dụng linh hoạt các nguyên tắc xử lý khủng hoảng truyền thông. Sao cho phù hợp với từng tình huống, diễn biến tình hình bấy giờ.Tuy nhiên, cũng không thể nói hoàn toàn, khủng hoảng truyền thông đều có tác động xấu. Bởi lẽ, khủng hoảng cũng có thể là chất xúc tác có tác dụng kích thích tính năng động sáng tạo, huy động tối đa tiềm lực trí tuệ của con người, cộng đồng và xã hội. Chỉ cần, kịp thời đưa ra nhưng giải pháp, chiến lược phù hợp để xử lý thì tất cả có thể biến thành cơ hội hành động kêu gọi một cách thông minh, thì đương nhiên sẽ biến “nguy thành an” biến “ khó khăn thành cơ hội”. Điển hình như: KFC Xử lý khủng hoảng truyền thông tốt có thể giúp bạn biến bê bối thành một chiến lược độc đáo và thu về những phản hồi tích cực.Như vậy, thực tế đã chứng minh, có nhiều doanh nghiệp đã thật sự thất bại, điêu đứng trên bờ vực phá sản,…vì khủng khoảng truyền thông, nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp trở mình trên đường đua một cách ngoại mục.Các giải pháp xử lý khủng hoảng truyền thông THƯỜNG THẤYNhanh chóng đánh giá vấn đề gây khủng hoảngĐiều đầu tiên khi có những dấu hiệu khủng hoảng truyền thông là lập tức chúng ta phải tiếp cận và đánh giá vấn đề trong thời gian ngắn nhất. Trong đó, đặt ra các câu hỏi là một cách hiệu quả để nhìn nhận vấn đề một cách trực quan nhất.Vấn đề này có ảnh hưởng đến uy tín và danh tiếng của tổ chức, doanh nghiệp? Nó có ảnh hưởng đến bộ máy cấp cao hay không? Mức độ nghiêm trọng của vấn đề truyền thông nằm mà doanh nghiệp bạn đang gặp phải nằm ở khoảng nào ?Phản hồi với các đối tác, khách hàngThực tế, tốc độ phản hồi khách thực sự rất quan trọng khi khủng hoảng truyền thông xảy ra. Sự im lặng và thụ động sẽ biến mọi tình huống trở nên tệ hại hơn và nhận được nhiều sự giận dữ hơn.Hãy luôn trong tư thế sẵn sàng nhận các phàn nàn từ phía các đối tác, khách hàng và phản hồi ngay lập tức. Nếu bạn chưa thể có câu trả lời ngay, hãy ước tính một khoảng thời gian về phía khách hàng để họ cảm nhận rằng chúng ta thực sự quan tâm đến vấn đề họ đang mắc phải.Có thái độ tích cực và trung thựcChúng ta không nên che giấu và không rõ ràng với truyền thông, mạng xã hội khi có khủng hoảng truyền thông xảy ra.Lên tiếng trên mạng xã hội, đưa ra thông cáo, lời xin lỗi trình bày rõ ràng vấn đề chúng ta đang mắc phải và đưa ra phương hướng giải quyết chính là phương pháp để trấn an khách hàng, đối tác đồng thời nhận được sự thông cảm của dư luận.Như CMO Will McInnes của Brandwatch từng nói: “Chiến dịch có thể sẽ sai. Các thông điệp được kiểm tra trong nhóm sẽ không hiệu quả.Nhân viên sẽ không hành động đúng. Nhưng người tiêu dùng sẽ chấp nhận lỗi lầm khi nhận được những phản hồi phù hợp.”Xây dựng quy trình bài bản đề phòng khủng hoảng truyền thôngNgười ta vẫn thường nói: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh.” Cách tốt nhất để xử lý khủng hoảng truyền thông là tiêu diệt triệt để những lối mòn có thể dẫn đến khủng hoảng truyền thông trước khi nó xảy ra. Có những cách để ngăn chặn khủng hoảng truyền thông như:Xây dựng một đội ngũ thiết kế và quản lý web chuyên nghiệp để đăng tải và cập nhập thông tin kịp thờiKiểm soát chặt chẽ những thông tin phát tán trên mạng xã hội.Cẩn thận kiểm tra tất cả những sản phẩm truyền thông (viral videos, photos…) trước khi tạo chiến dịch truyền thông.Không nên quảng cáo quá xa vời thực tế, lố lăng về chất lượng doanh nghiệp.Có rất nhiều phương pháp xử lý khủng hoảng truyền thông, sự lựa chọn phương pháp giải quyết phù hợp là rất quan trọng nó quyết định đến sự thành bại.VÍ DỤ Khủng hoảng truyền thông của United Airlines: Bài học về quản lý khủng hoảng và giữ uy tín"Mở đầu: Trong lịch sử của ngành hàng không, khủng hoảng truyền thông của United Airlines vào năm 2017 là một ví dụ điển hình về cách một sự cố có thể gây tổn hại lớn đến hình ảnh của một công ty. Bài viết này sẽ phân tích nguyên nhân, quá trình và kết quả của sự cố này, cũng như bài học quan trọng về quản lý khủng hoảng truyền thông.Nguyên nhân: Sự cố bắt đầu khi một video ghi lại cảnh một hành khách bị kéo ra khỏi máy bay của United Airlines trở nên viral trên mạng xã hội. Hành khách này đã mua vé và ngồi xuống ghế của mình, nhưng sau đó đã bị yêu cầu rời khỏi máy bay do quá tải. Khi người đàn ông này từ chối, anh ta đã bị lực lượng an ninh kéo ra khỏi máy bay một cách bạo lực.Quá trình: Sau khi video này trở nên phổ biến trên mạng xã hội, United Airlines đã phải đối mặt với sự chỉ trích gay gắt từ cộng đồng trực tuyến và truyền thông. Ban đầu, CEO của United Airlines đã phát hành một tuyên bố bào chữa cho hành động của nhân viên an ninh và không xin lỗi trực tiếp đến hành khách bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, sau khi gặp phản ứng tiêu cực từ cộng đồng, CEO đã phát hành một tuyên bố xin lỗi và hứa sẽ không bao giờ để sự cố tương tự xảy ra lại.Kết quả: United Airlines đã phải trả giá đắt cho khủng hoảng truyền thông này. Giá cổ phiếu của hãng đã giảm sút, và hãng đã mất đi sự tin tưởng của khách hàng. Tuy nhiên, sau khi xin lỗi và thực hiện các biện pháp cải thiện, hãng đã dần khôi phục lại uy tín của mình.Bài học: Khủng hoảng truyền thông này cho thấy sự quan trọng của việc xử lý tình huống một cách nhân văn và tôn trọng quyền lợi của khách hàng. Ngoài ra, việc phản hồi nhanh chóng và chân thành cũng rất quan trọng trong việc giảm thiểu thiệt hại cho hình ảnh của doanh nghiệp. Cuối cùng, việc xây dựng một kế hoạch truyền thông khẩn cấp và đào tạo nhân viên về cách xử lý khủng hoảng truyền thông cũng rất quan trọng.Kỹ năng quan trọng trong việc xử lý khủng hoảng truyền thông: Bí quyết giữ vững uy tín doanh nghiệp - GIẢI PHÁP TƯ VẤN THỰC TẾ chỉ có tại TTPL.VNKhủng hoảng truyền thông có thể xảy ra bất ngờ và gây ra những thiệt hại lớn đối với hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp. Để đối phó hiệu quả với những tình huống khó khăn này, doanh nghiệp cần có các chiến lược xử lý khủng hoảng truyền thông hiệu quả. Dưới đây là bốn chiến lược quan trọng mà mọi doanh nghiệp nên áp dụng.Xây dựng chiến lược CHI TIẾT xử lý khủng hoảng: Để đối phó với khủng hoảng truyền thông, doanh nghiệp cần có một chiến lược xử lý khủng hoảng rõ ràng. Việc này cần sự giúp sức của nhiều hệ thống, xây dựng chi tiết chiến lược là không thể thiếu.Điều này bao gồm việc xác định trước các bước cần thực hiện, lựa chọn kênh truyền thông và xác định thông điệp cần truyền đạt.Xây dựng kế hoạch seeding mạng xã hội: Seeding là việc sử dụng các tài khoản mạng xã hội để truyền đạt thông điệp của doanh nghiệp đến cộng đồng trực tuyến. Doanh nghiệp cần xây dựng một kế hoạch seeding hiệu quả để đảm bảo thông điệp của mình được truyền đạt đến đối tượng mục tiêu một cách hiệu quả.Xây dựng hệ thống báo chí và trang mạng cùng ngành: Doanh nghiệp cần xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với báo chí và trang mạng cùng ngành. Điều này giúp doanh nghiệp có thể truyền đạt thông điệp của mình đến cộng đồng một cách nhanh chóng và hiệu quả.Xây dựng một kế hoạch truyền thông khẩn cấp: Một kế hoạch truyền thông khẩn cấp giúp doanh nghiệp xác định trước các bước cần thực hiện khi xảy ra khủng hoảng. Kế hoạch này nên bao gồm việc xác định người phát ngôn, lựa chọn kênh truyền thông, và xác định thông điệp cần truyền đạt. Điều này giúp doanh nghiệp phản hồi nhanh chóng và kiểm soát tình hình.Tạo ra một đội ngũ quản lý khủng hoảng truyền thông: Đội ngũ này nên bao gồm các chuyên gia truyền thông, quan hệ công chúng và quản lý khủng hoảng. Họ sẽ chịu trách nhiệm giám sát tình hình, đưa ra quyết định và thực hiện các chiến lược xử lý khủng hoảng truyền thông.Sử dụng các kênh truyền thông khác nhau để truyền đạt thông điệp của bạn: Trong thời đại số hóa, việc sử dụng đa kênh truyền thông là cần thiết. Doanh nghiệp nên sử dụng cả truyền thông truyền thống và truyền thông số để truyền đạt thông điệp của mình. Điều này giúp doanh nghiệp tiếp cận được nhiều đối tượng khác nhau và truyền đạt thông điệp một cách hiệu quả.Theo dõi và đánh giá hiệu quả của các chiến lược xử lý khủng hoảng truyền thông: Sau khi áp dụng các chiến lược, doanh nghiệp nên theo dõi và đánh giá hiệu quả của chúng. Điều này giúp doanh nghiệp biết được những gì đã làm đúng và những gì cần cải thiện trong tương lai.Kết luận: Khủng hoảng truyền thông là một thách thức lớn đối với mọi doanh nghiệp. Tuy nhiên, với các chiến lược xử lý khủng hoảng truyền thông hiệu quả, doanh nghiệp có thể giữ vững uy tín và tiếp tục phát triển mạnh mẽ.CẦN HƯỚNG DẪN CHI TIẾT XỬ LÝ, HÃY ẤN VÀO BÌNH LUẬN BÀI VIẾT NHÉTài liệu về khủng hoảng truyền thôngDưới đây là một số tài liệu cần biết về khủng hỏang truyền thông của các thương hiệu lớn và phương thức xử lý, bài học rút ra rất hữu ích: Ngày thứ 2 đen tối và cơn ác mộng của người làm truyền thông: Tải về05 ví dụ về khủng hoảng truyền thông và bài học rút ra: Tải về10 bài học điển hình về xử lý khủng hoảng truyền thông: Tải vềCơ chế lan truyền của khủng hoảng truyền thông: Tải vềDomino-s Pizza- Dội nước dập tắt khủng hoảng truyền thông, thay vì im lặng chờ chết: Tải vềKhi nhân viên làm xấu hình ảnh thương hiệu trên facebook đừng xử trí như Taco Bell: Tải vềNestle và Bài học xử lý khủng hoảng trên mạng xã hội: Tải vềSocial Listening- khủng hoảng truyền thông của Agribank ảnh hưởng như thế nào ? Tải vềSocial Listening- Vì đâu BaBy Care gặp phải khủng hoảng truyền thông: Tải về Tổng hợp các cuộc khủng hoảng truyền thông:Trên đây là các thông tin tư vấn của Legalzone về phương án quản lý doanh nghiệp hiệu quả. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn và sử dụng dịch vụ.
Bài viết
Bảo hiểm thất nghiệp là một cơ chế quan trọng, giúp hỗ trợ người lao động trong những giai đoạn khó khăn khi họ mất việc làm. Tuy nhiên, để đảm bảo hoạt động hiệu quả và bền vững của quỹ bảo hiểm thất nghiệp, việc xác định mức đóng cũng như hiểu rõ nguồn hình thành của quỹ này là vô cùng quan trọng. Bài viết sau đây sẽ phân tích và giải đáp những thắc mắc liên quan đến mức đóng và nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp, giúp người đọc có cái nhìn sâu rộng và đầy đủ hơn về vấn đề này.Bảo hiểm thất nghiệp là gì?Trong bối cảnh kinh tế phức tạp, bảo hiểm thất nghiệp trở thành một giải pháp hỗ trợ quan trọng, giúp giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho người lao động.Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ giúp bù lại một phần thu nhập cho những người mất việc, đồng thời hỗ trợ họ trong việc đào tạo nghề và tìm kiếm cơ hội làm việc mới, dựa trên việc đóng góp vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp (theo khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm 2013).Nhờ vào sự hỗ trợ từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp, nhiều người lao động đã tìm ra cách giải quyết vấn đề việc làm, khẳng định vị thế của mình trên thị trường lao động và đóng góp vào sự ổn định và phát triển của xã hội.Mức đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp được xác định như nào?Mức đóng góp và trách nhiệm trong việc đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp (BHTN) được quy định cụ thể theo Khoản 1 Điều 57 của Luật Việc làm năm 2013. Theo đó:- Mỗi người lao động cần đóng 1% từ tiền lương hàng tháng của mình.- Người sử dụng lao động cũng phải đóng 1% từ quỹ lương hàng tháng dành cho nhân viên đang tham gia BHTN.- Nhà nước cam kết hỗ trợ thêm tối đa 1% từ quỹ lương hàng tháng cho việc đóng góp BHTN, với ngân sách được đảm bảo bởi chính phủ trung ương.Tổng cộng, mức đóng góp vào Quỹ BHTN là 3%, với 1% từ người lao động, 1% từ người sử dụng lao động, và 1% từ sự hỗ trợ của nhà nước.Quỹ BHTN hình thành từ nhiều nguồn khác nhau:- Đóng góp từ người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ từ nhà nước.- Lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư của Quỹ BHTN.- Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật, bao gồm tiền lãi từ việc trễ hạn đóng góp BHTN và các khoản thu hợp pháp khác.Quỹ BHTN được sử dụng cho các mục đích sau:- Thanh toán trợ cấp thất nghiệp.- Hỗ trợ đào tạo, cập nhật kỹ năng nghề nghiệp để giữ việc làm cho người lao động.- Hỗ trợ học nghề.- Hỗ trợ tư vấn và giới thiệu việc làm.- Chi trả bảo hiểm y tế cho người nhận trợ cấp thất nghiệp.- Chi phí quản lý BHTN theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội.- Đầu tư để bảo toàn và phát triển Quỹ.Phương thức đóng tiền vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp?Cách thức đóng góp vào Quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp (BHTN) diễn ra hàng tháng theo các quy định sau:- Người sử dụng lao động cần đóng góp vào BHTN theo tỷ lệ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 57 của Luật Việc làm 2013. Họ cũng cần trích một phần từ lương của nhân viên theo tỷ lệ quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 57 của cùng một luật, để đóng góp vào Quỹ BHTN.- Sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho Quỹ BHTN tuân theo nguyên tắc đảm bảo số dư quỹ hàng năm ít nhất bằng hai lần tổng chi cho các chế độ BHTN và chi phí quản lý của năm trước. Tuy nhiên, mức hỗ trợ không vượt quá 1% quỹ lương hàng tháng dành cho BHTN của những người đang tham gia. Cách thức chuyển kinh phí như sau:Vào quý IV mỗi năm, Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ dựa trên dự toán thu-chi BHTN được phê duyệt để xác định kinh phí hỗ trợ cho Quỹ BHTN của năm trước, tuân theo quy định tại Khoản 1 của Điều này. Số kinh phí này sẽ được gửi đến Bộ Tài chính để chuyển vào Quỹ BHTN một lần.Trong vòng 10 ngày làm việc kể từ khi nhận báo cáo quyết toán từ Bảo hiểm xã hội Việt Nam, đã được Hội đồng Quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam chấp thuận, Bộ Tài chính sẽ thẩm định và quyết định kinh phí hỗ trợ cho Quỹ BHTN năm trước. Nếu kinh phí mà Bộ Tài chính đã cấp nhiều hơn số tiền cần hỗ trợ theo quy định tại Khoản 1 của Điều này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải trả lại phần chênh lệch cho ngân sách nhà nước. Ngược lại, nếu số tiền cấp ít hơn, Bộ Tài chính sẽ báo cáo cấp có thẩm quyền để phê duyệt kinh phí hỗ trợ bổ sung trong năm tiếp theo.Kinh phí hỗ trợ Quỹ BHTN đều được bảo đảm bởi ngân sách trung ương, từ nguồn chi đảm bảo xã hội đã được Quốc hội quyết định.Kết luận Mức đóng góp phải được xác định một cách hợp lý để đảm bảo quỹ có đủ kinh phí hoạt động và cùng lúc đó, không tạo áp lực tài chính quá lớn lên người lao động và người sử dụng lao động. Ngoài ra, việc hình thành quỹ từ nhiều nguồn khác nhau cần được quản lý chặt chẽ và minh bạch, điều này đòi hỏi sự phối hợp mật thiết giữa các cơ quan quản lý, người sử dụng lao động, và người lao động. Một hiểu biết đầy đủ và chi tiết về các khía cạnh này sẽ giúp người lao động cảm thấy an tâm hơn với quỹ bảo hiểm thất nghiệp, thúc đẩy sự tham gia tích cực và từ đó góp phần nâng cao chất lượng an sinh xã hội. Nếu có thắc mắc khác liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp, bạn có thể truy cập Thủ tục pháp luật để cập nhật thông tin và hướng dẫn chi tiết. 
Bài viết
Thủ tướng Phạm Minh Chính quyết định nới hạn thực hiện Chỉ thị 16Thủ tướng Phạm Minh Chính quyết định nới hạn thực hiện Chỉ thị 16 ở 19 tỉnh thành phía Nam thêm 14 ngày, yêu cầu "ai ở đâu ở đấy", tuyệt đối không để người dân rời khỏi nơi cư trú sau ngày 31/7...Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, hôm nay, 31/7, Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa có Công điện số 1063 chỉ đạo hoạt động chống dịch.Thủ tướng yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh, thành, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tập trung chỉ đạo thực hiện mạnh mẽ, quyết liệt, thực chất, hiệu quả các biện pháp cụ thể phòng, chống dịch theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng, Ban chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 đã ban hành trong thời gian qua.Thủ tướng quán triệt, các địa phương đang thực hiện giãn cách theo Chỉ thị số 16 phải thực hiện nghiêm, nhất quán theo phương châm chỉ có thể thực hiện cao hơn, sớm hơn phù hợp theo tình hình thực tiễn tại địa phương.Người dân không rời nơi cư trú sau ngày 31/7Các cơ quan tổ chức tuyên truyền rộng rãi, kiểm soát nghiêm ngặt và thực hiện ngay các biện pháp hỗ trợ cần thiết về đời sống, y tế để người dân an tâm "ai ở đâu ở đấy"; tuyệt đối không để người dân di chuyển khỏi nơi cư trú từ sau ngày 31/7/2021 tới khi hết giãn cách (trừ những người được chính quyền cho phép).Thủ tướng nêu rõ, lãnh đạo các tỉnh, thành chịu trách nhiệm trước Thủ tướng nếu để người dân tự ý di chuyển ra khỏi địa phương mình. Đối với người dân đã rời khỏi tỉnh xuất phát đến địa bàn tỉnh khác thì các tỉnh liên quan phải tổ chức đón, đưa về địa phương đích đến bảo đảm an toàn.Chính quyền tổ chức xét nghiệm, vận chuyển bằng xe ca (có thể bố trí xe tải chở theo xe gắn máy của người dân nếu người dân di chuyển bằng xe gắn máy), thực hiện bàn giao đầy đủ, tổ chức cách ly, giám sát y tế theo đúng quy định, không để dịch bệnh lây lan.Bộ Công an chỉ đạo Công an tỉnh, thành phố tham mưu cho UBND tỉnh và tổ chức đưa đón người dân.Tổ chức tốt hệ thống, mạng lưới chăm sóc, điều trị người bị nhiễm vi rút SARS-CoV-2 theo các tầng điều trị; tập trung và ưu tiên năng lực, nâng cao chất lượng điều trị, đặc biệt là đối với các bệnh nhân diễn tiến nặng, hạn chế tối đa các trường hợp tử vong.Thủ tướng quyết định tiếp tục áp dụng biện pháp giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 thêm 14 ngày (kể từ ngày kết thúc giãn cách xã hội theo Công văn số 969/TTg-KGVX) đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện giãn cách xã hội theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 969 ngày 17/7/2021.Những tỉnh sau một thời gian thực hiện giãn cách xã hội, nếu đã kiểm soát được dịch bệnh có thể nới lỏng giãn cách theo từng khu vực trong nội bộ tỉnh. Đối với khu vực liên tỉnh thì phải có thỏa thuận, thống nhất với các tỉnh liên quan và phải báo cáo Tổ công tác đặc biệt của Chính phủ, Trưởng ban chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 trước khi quyết định.
Bài viết
Đăng ký bằng cách đi tới Link TTPL.VNNhấp vào tài khoản chọn đăng kýChọn Doanh nghiệpNếu bạn là Doanh nghiệp thường Hãy chọn Doanh nghiệpNếu bạn là công ty luật hãy chọn Công ty LuậtLưu ý: khi bạn chọn sẽ xuất hiện vành vàng ở loại hình bạn chọn, nếu không chọn sẽ gây lỗiĐiền thông tin theo hướng dẫnLưu ý: Email và số điện thoại phải có thực, tránh trường hợp mất tài khoản sau nàyĐăng nhập bằng tài khoản và mật khẩu đã dùngLưu ý: bạn cũng có thể dùng Số điện thoại và mật khẩu để đăng nhậpĐăng nhập vào sử dụng phần mềm quản lý công việcBạn có thể đăng nhập ngay bằng phần Dashboard tuy nhiên nếu muốn dùng tài khoản Pro (đầy đủ quyền) Hãy sử dụng nút mua ( Miễn phí)Hãy mua gói LGZ DIAMOND - Hiện tại đang miễn phí trọn đờiNhư vậy bạn đã tạo được một công ty hoàn chỉnh cho mình, Hãy thêm nhân viên và tiếp tục hoạt động miễn phí.Hotline:Hướng dẫn kỹ thuật: 0888889225Hướng dẫn chung: 0888889366